Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

XUYÊN TẠC ĐỐI NGOẠI – MỘT THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ KHÔNG MỚI NHƯNG NGUY HIỂM

 

Đối ngoại là một trong những trụ cột chiến lược của đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gắn trực tiếp với môi trường hòa bình, ổn định, vị thế quốc gia và điều kiện phát triển bền vững của đất nước. Chính vì vậy, đây cũng là lĩnh vực mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đặc biệt tập trung chống phá. Dưới vỏ bọc “phân tích”, “góp ý”, “phản biện chính sách”, chúng tung ra hàng loạt luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, cố tình phủ nhận thành tựu đã đạt được, hạ thấp uy tín quốc gia, làm xói mòn niềm tin của Nhân dân, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Những luận điệu này không mới, nhưng ngày càng tinh vi, nguy hiểm và cần được nhận diện, phản bác một cách trực diện, không khoan nhượng.

1. Lật tẩy luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng

Một thủ đoạn xuyên suốt của các thế lực thù địch là cố tình bóp méo bản chất đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam, gán ghép một cách võ đoán rằng Việt Nam “lệ thuộc”, “đu dây thất bại”, “ngả theo nước lớn”, thậm chí xuyên tạc rằng Đảng “đánh đổi chủ quyền để lấy quan hệ đối ngoại”. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn. Bởi lẽ, trên thực tế, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc bất di bất dịch: Độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết. Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại không phải là sự “mập mờ lập trường” như các luận điệu thù địch rêu rao, mà là biểu hiện sinh động của bản lĩnh chính trị, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong bối cảnh thế giới đa cực, đa trung tâm.

Việc các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc chính sách “không chọn bên” thành “không có chính kiến” hay quy chụp đối ngoại cân bằng thành “đu dây nguy hiểm” là đi ngược lại với thực tiễn: Việt Nam kiên định nguyên tắc, linh hoạt sách lược; kiên trì độc lập, tự chủ nhưng không tự cô lập; hội nhập sâu rộng nhưng không hòa tan. Đây là lựa chọn có trách nhiệm với dân tộc, chứ không phải sự thỏa hiệp hay lệ thuộc như các luận điệu sai trái cố tình vu cáo.

TỪ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI ĐẾN KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN: BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU HOÀI NGHI TĂNG TRƯỞNG Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao đăng bài: “Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của Đảng Cộng sản” của Thanh Phương. Bằng thủ pháp phóng đại khó khăn, tuyệt đối hóa thách thức, Thanh Phương đã quy kết: Mục tiêu phát triển của Việt Nam là “ảo”, “thiếu cơ sở”, đường lối kinh tế – xã hội thì “bế tắc” … nhằm xuyên tạc, chống phá, gieo rắc tâm lý hoài nghi và làm xói mòn niềm tin của Nhân dân vào định hướng phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo Đảng trong kỷ nguyên mới. Song, thực tiễn đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xảo trá đó.

1. Cần khẳng định: Mục tiêu tăng trưởng và phát triển của Việt Nam không phải là cảm tính hay ý chí chủ quan mà được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời được Đảng điều chỉnh linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và thế giới. Theo đó, Đảng đã nhất quán quan điểm phát triển nhanh và bền vững, lấy con người làm trung tâm, là mục tiêu và động lực của phát triển; Đảng đã đề ra mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 tầm nhìn 2045 và xa hơn nữa với lộ trình rõ ràng, không tách rời năng lực nội sinh của nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026 – 2030 được đề ra không phải là “tham vọng mù quáng”, mà là sự tiếp nối logic của một quá trình phát triển đã được kiểm chứng bằng thực tiễn.

Ý THỨC HỆ CỦA VIỆT NAM – NGUỒN GỐC, ĐỘNG LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC

 

Trên trang Thongluan, Trần Khánh Ân đăng bài viết “Từ sự cáo chung của một ý thức hệ đến khúc quanh tất yếu của Việt Nam”; nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phản động nhằm reo rắc sự hoài nghi, mơ hồ, ảo tưởng trong nhân dân, khi cho rằng không có một ý thức hệ nào có thể sống mãi với thời gian, thay vì đem lại niềm tin, nó gieo rắc hoài nghi và tuyệt vọng.  Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần phải phê phán, bác bỏ:

Một là, ý thức hệ của Việt Nam là nền tảng tinh thần vững chắc tạo sự đồng thuận, thống nhất trong xã hội.

Ý thức hệ của Việt Nam hiện nay bao gồm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò định hướng toàn diện cho sự phát triển của đất nước. Nó xác lập hệ mục tiêu chiến lược như độc lập dân tộc, phát triển bền vững, công bằng xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được hoạch định một cách nhất quán, đảm bảo tính liên tục và phù hợp với các quy luật vận động của xã hội. Ý thức hệ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo không chỉ được hình thành từ cơ sở lý luận vững chắc mà còn được kiểm nghiệm, chứng thực qua lịch sử cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước. Ý thức hệ của Việt Nam là hệ thống quan điểm, lý tưởng và mục tiêu phát triển mà dân tộc đã lựa chọn; gắn với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và được khẳng định trong Hiến pháp cũng như thực tiễn. Ý thức hệ ấy xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; phát triển đất nước đi đôi với bảo đảm quyền con người, quyền công dân và độc lập dân tộc. Với vai trò nền tảng tư tưởng, ý thức hệ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của hệ thống chính trị, đồng thời tạo nên sự thống nhất trong nhận thức, hành động của toàn dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam lựa chọn ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Đó là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, thử thách bằng máu xương và trí tuệ của nhiều thế hệ. Ý thức hệ này đã dẫn dắt dân tộc vượt qua chiến tranh, giành độc lập, thống nhất đất nước, đồng thời tiếp tục chứng minh giá trị trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay.Những kết quả như giữ vững ổn định chính trị, nâng cao vị thế quốc tế, phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo bền vững… là minh chứng rõ ràng cho sức sống của ý thức hệ Việt Nam.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC NHÂN SỰ ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG

 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức vào đầu năm 2026 là sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, trọng đại của đất nước. Lợi dụng sự kiện này, trên các trang mạng của các tổ chức phản động, các thế lực thù địch tăng cường tần suất xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng. Mới đây, trên nhiều diễn đàn phản động, chúng đã tán phát bài: “Đại Hội Đảng XIV: Quyết đấu giữa Phan Văn Giang và Tô Lâm” của Minh Hải. Nội dung bài viết chứa đựng các luận điệu sai trái, giả mạo, hòng gây rối, phá hoại công tác nhân sự chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng. Do đó, nhận diện và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu này là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta.

1. Vạch trần mưu đồ chống phá công tác nhân sự chuẩn bị Đại hội XIV của Minh Hải

Với mục tiêu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, Minh Hải đã dùng thủ đoạn bịa đặt, bóp méo công tác nhân sự chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại công tác chuẩn bị đại hội. Y trắng trợn bịa đặt rằng: “Những diễn biến trước Đại Hội Đảng XIV cho thấy đây không chỉ là cuộc đua cá nhân mà là trận chiến giữa các phe phái quyền lực, giữa quân đội và công an, giữa các tập đoàn kinh tế và hành chính…”. Thâm hiểm hơn, Minh Hải còn dùng chiêu bài tung tin giả về công tác chuẩn bị nhân sự bầu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cho rằng: “Trận đấu quyền lực chính trị giữa Phan Văn Giang và Tô Lâm là hình ảnh thu nhỏ của chính sự CSVN ở hiện tại”, làm nhiễu loạn thông tin, gây nghi ngờ, chia rẽ đoàn kết nội bộ trong Đảng và Nhân dân ta, làm giảm niềm tin của Nhân dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự lãnh đạo của Đảng trong công tác nhân sự chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng. Thực chất, đây là luận điệu hết sức phản động và sai trái của các thế lực thù địch, mưu đồ phá hoại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

“TAM QUYỀN PHÂN LẬP” – LUẬN ĐIỆU CŨ TRONG ÂM MƯU MỚICHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Trên trang Baotiengdan, Lê Chí Thành có bài viết “Tâm thư gửi tân Tổng Bí thư, người đứng đầu đảng và lực lượng quyền lực nhất đất nước”,cho rằng: “Việt Nam nên lựa chọn con đường tam quyền phân lập…”. Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc Hiến pháp, cường điệu hóa học thuyết “tam quyền phân lập” để thực hiện mục tiêu chống phá Việt Nam.

Thứ nhất, cần hiểu đúng Hiến pháp Việt Nam và tại sao Việt Nam không áp dụng “tam quyền phân lập” trong tổ chức bộ máy nhà nước.

Ở Việt Nam, Hiến pháp phản ánh ý chí và nguyện vọng chung của dân tộc và toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam; là cơ sở pháp lý cho xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN KHOA HỌC SỐNG MÃI VỚI THỜI GIAN

 

Trên trang Thongluan, Tập hợp dân chủ đa nguyên có bài viết “Bốn giai đoạn cáo chung của chế độ Cộng sản”. Bài viết xuyên tạc, phủ nhận giá trị cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, khi cho rằng chế độ Cộng sản Việt Nam đang ở vào giai đoạn cuối cùng của tiến trình cáo chung, nên cận được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Một là, Chủ nghĩa cộng sản khoa học  Học thuyết khoa học và cách mạng, không lỗi thời như sự xuyên tạc.

Chủ nghĩa cộng sản khoa học là một học thuyết khoa học vì được xây dựng trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Khác với các học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng trước đó xuất phát từ lòng nhân đạo thuần túy và những mong muốn chủ quan; chủ nghĩa cộng sản khoa học chỉ ra một cách khách quan những quy luật vận động của xã hội tư bản, đặc biệt là quy luật mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Từ đó, học thuyết khẳng định: Sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của một hình thái kinh tế – xã hội mới tiến bộ hơn là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chính việc dựa trên quy luật khách quan, không phải ý chí chủ quan, đã làm nên tính khoa học và sức sống lâu dài của chủ nghĩa cộng sản khoa học.

DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA – DÂN CHỦ THỰC CHẤT CỦA ĐẠI ĐA SỐ NHÂN DÂN

 

Trên trang Huongviet, Hoàng Quốc Dũng đăng bài viết “Từ dân chủ tư sản đến dân chủ vô sản” nhằm xuyên tạc, phủ nhận bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, cho rằng ở Việt Nam dân chủ chỉ là hình thức, là nghệ thuật. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động cần phải phê phán, bác bỏ:

Một là, dân chủ xã hội chủ nghĩa – dân chủ thực chất, dân chủ của đại đa số.

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, dân chủ không tồn tại như một khái niệm trừu tượng, siêu giai cấp mà luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc. Mỗi kiểu dân chủ đều gắn liền với một chế độ kinh tế – xã hội nhất định và phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội đó. Dân chủ tư sản ra đời cùng với sự thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản, được xây dựng trên nền tảng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Về hình thức, dân chủ tư sản đề cao các quyền tự do chính trị như: bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, tự do báo chí… Thực tiễn cho thấy, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, quyền lực chính trị về thực chất nằm trong tay các tập đoàn tư bản, các nhóm lợi ích tài phiệt. Bầu cử chỉ là sự lựa chọn giữa các đại diện khác nhau của cùng một giai cấp thống trị. Dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời trên cơ sở xóa bỏ chế độ người bóc lột người, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI TỪ BỎ MỤC TIÊU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Trong quá trình đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị đã lợi dụng chủ trương này để xuyên tạc, bóp méo bản chất đường lối của Đảng, cho rằng việc ban hành và triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân là “sự thừa nhận thất bại của kinh tế nhà nước”, “bước lùi về con đường tư bản chủ nghĩa”, thậm chí quy kết Đảng ta “từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa”. Đây là những luận điệu sai trái, phản động, cần được nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA NGUYỄN QUANG A

 

Trên trang Boxitvn, Nguyễn Quang A viết bài: “Ở Việt Nam, với tình trạng tham nhũng có hệ thống, theo xu hướng phiết-hoá, có thể làm suy đồi, kiệt quệ và dẫn đến diệt vong cả xã hội”. Nội dung bài viết chứa đựng những luận điệu xuyên tạc, phiến diện, thiếu căn cứ, mang mục tiêu chính trị, nhằm đánh lừa dư luận, phủ nhận nỗ lực phòng, chống tham nhũng của Việt Nam. Do đó, cần phải khẳng định và bác bỏ như sau:

1. Cần khẳng định rằng, tham nhũng không những không được dung túng, mà đang bị xử lý mạnh mẽ chưa từng có theo tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.

Trong những năm gần đây, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã đạt nhiều bước tiến mang tính đột phá, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước. Tham nhũng không những không được bao che hay dung túng, mà ngược lại, đang bị xử lý nghiêm minh với quy mô, mức độ và tốc độ chưa từng có. Việc kiên trì thực hiện phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” đã tạo nên một dấu ấn mạnh mẽ, khẳng định bản lĩnh, sự trong sạch và tinh thần tự chỉnh đốn của Đảng.

Hàng loạt vụ việc nghiêm trọng, kéo dài nhiều năm, liên quan đến cả cán bộ cấp cao đương chức và nghỉ hưu đã được đưa ra ánh sáng. Điều đó cho thấy tinh thần thượng tôn pháp luật và quyết tâm “làm trong sạch đội ngũ” không hề dừng lại ở tuyên bố chính trị, mà được thể hiện bằng hành động thực tiễn, kiên quyết, bài bản và hiệu quả. Công tác điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm đúng quy định, không chịu bất kỳ sức ép nào, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC – NHỊP CẦU KẾT NỐI TRI THỨC, VÌ HOÀ BÌNH VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

 

Trên trang Bbc, Đài BBC có bài viết Hội thảo quốc tế Việt Nam học hạn chế học giả phát biểu vì lo ảnh hưởng an ninh chính trị. Nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phản động khi cho rằng hội thảo chẳng khác gì một vở kịch, với những căng thẳng chưa được hoá giải giữa tri thức, chính trị và quyền lực trong đời sống học thuật Việt Nam hiện nay. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái cần phải phê phán, bác bỏ:

Một là, Hội thảo Quốc tế Việt Nam học đã khẳng định vai trò quan trọng trong kết nối tri thức toàn cầu, góp phần thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau, xây dựng hòa bình và định hình các giải pháp phát triển bền vững cho Việt Nam. Qua nhiều kỳ tổ chức, hội thảo đã khẳng định vững chắc vai trò quan trọng của mình là một nhịp cầu kết nối tri thức toàn cầu, nơi tập hợp các học giả, nhà nghiên cứu và chuyên gia quốc tế đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau để cùng chia sẻ hiểu biết về Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở việc trao đổi học thuật, hội thảo còn mở ra cơ hội đối thoại đa chiều, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng.

Thông qua các tham luận và công trình nghiên cứu công phu, hội thảo góp phần soi chiếu những vấn đề của Việt Nam từ nhiều góc độ khác nhau, qua đó giúp nhận diện rõ hơn các thách thức, tiềm năng và hướng phát triển của đất nước. Đồng thời, hội thảo cũng là diễn đàn quan trọng để đề xuất những giải pháp thiết thực cho phát triển bền vững, từ bảo tồn văn hóa, phát triển kinh tế – xã hội đến ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi số. Với sự tham gia ngày càng đông đảo của giới học thuật trong và ngoài nước, Hội thảo Quốc tế Việt Nam học đã trở thành minh chứng sống động cho tinh thần hội nhập chủ động của Việt Nam, góp phần xây dựng môi trường hợp tác hòa bình, cởi mở và sáng tạo, qua đó đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai vì một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.

VẠCH TRẦN, BÁC BỎ CHIÊU THỨC RISE LÔI KÉO THANH NIÊN VIỆT NAM

 

Trên Vietnamthoibao đăng bài viết: “Phong trào xã hội Việt Nam: Những nỗ lực mạnh mẽ trong bối cảnh đầy thách thức” nhằm cổ xúy, thúc đẩy phong trào xã hội dân sự của RISE, một tổ chức ngoại vi của Việt Tân, dưới vỏ bọc tổ chức phi chính phủ thông qua các hoạt động hỗ trợ cộng đồng, cải thiện việc làm, học tập, cuộc sống, sinh kế… Qua đó, thu hút, tập hợp lực lượng, nhất là thế hệ trẻ chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo ra sự bất ổn, hỗn loạn trong xã hội, tìm thời cơ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính quyền theo mục đích của chúng. Đây là những âm mưu, thủ đoạn hết sức nguy hiểm, cần được cần vạch trần, bác bỏ.

 1. RISE, tổ chức phản động đội lốt “xã hội dân sự”.

Theo cảnh báo của Bộ Công an, tổ chức RISE (hay còn gọi là VietnamRise) được điều hành bởi các đối tượng phản động lưu vong, từng tham gia nhiều hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam, như: Angelina Trang Huỳnh, Trinity Phạm (Phạm Hồng Thuận), Nguyễn Quốc Trinh, Nguyễn Khoa Diệu Quyên, Nguyễn Mạnh Hùng. Dưới danh nghĩa “xây dựng cộng đồng”, “phát triển xã hội dân sự”, “thúc đẩy năng lực lãnh đạo trẻ”, RISE lợi dụng danh nghĩa xã hội dân sự để tổ chức các chương trình như SMF 2024, SMF 2025, Fellowship RISE để mời gọi thanh niên trong nước tham gia “đào tạo kỹ năng”, “xây dựng dự án cộng đồng”. Nhưng thực chất, đây là quy trình lôi kéo, tuyển chọn, huấn luyện và móc nối lực lượng thanh niên, trí thức trẻ trong nước nhằm hình thành các hạt nhân chống đối, tiến tới kích động “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” theo mô hình đã diễn ra ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và gần đây nhất là tại châu Á, như: Sri Lanka (2022), Bangladesh (2024), Nepal (2025), Indonesia (2025).

RISE không phải là một tổ chức phi lợi nhuận thuần túy mà là “đạo diễn” cho những hoạt động chuyển hóa chính trị từ bên trong, đánh vào tư tưởng, nhận thức và khát vọng cống hiến của giới trẻ. Chúng sử dụng các khẩu hiệu như “khơi dậy sức trẻ”, “kết nối phong trào xã hội”, “xây dựng công dân toàn cầu” nhưng ẩn sau là ý đồ gieo rắc tư tưởng lệch lạc, phản kháng, cổ xúy tự do vô chính phủ, chống lại sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

GEN Z VIỆT NAM VÀ SỰ THẬT VỀ CHÍNH SÁCH CHĂM LO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 


Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên không gian mạng với chiêu bài quen thuộc là “nhân quyền”, “tự do”, “quyền của giới trẻ”. Dưới vỏ bọc “bảo vệ Gen Z”, “đấu tranh cho tương lai thanh niên”, chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ; đồng thời kích động tâm lý bất mãn, kêu gọi tụ tập, biểu tình trái pháp luật nhằm gây mất ổn định chính trị – xã hội.

Đây không phải là hiện tượng tự phát, mà là sự tiếp nối có tính toán của chiến lược “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa thế hệ trẻ”, từng bước làm suy giảm niềm tin của thanh niên vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước. Do đó, cần phải đấu tranh bác bỏ trên cơ sở nhận diện và khẳng định bởi một số thực tiễn sinh động như sau:

1.Thực tiễn phát triển của Việt Nam trong những năm qua đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu cho rằng Đảng, Nhà nước “không quan tâm đến đời sống nhân dân”. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, xung đột, suy thoái cục bộ, Việt Nam vẫn duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

CHĂM LO, PHÁT TRIỂN THANH NIÊN – CHỦ TRƯƠNG NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao, Camille Nguyễn đăng tải bài viết “Cuối năm 2025: 10% thanh niên không việc làm, không học tập, không đào tạo nghề” nhằm phủ nhận, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thanh niên, cho rằng Đảng, Nhà nước thiếu chính sách đào tạo đúng đắn, hướng nghiệp cho thanh niên, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động hiện nay. Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động cần phê phán, bác bỏ:

Một là, chăm lo, phát triển thanh niên chủ trương nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đặc biệt quan tâm đến công tác thanh niên. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, đồng thời căn dặn: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Tư tưởng đó đã trở thành nền tảng lý luận, kim chỉ nam cho đường lối, chủ trương của Đảng về thanh niên. Qua các kỳ Đại hội, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhấn mạnh nhiệm vụ chăm lo, phát triển thanh niên. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” khẳng định: thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để thanh niên học tập, lao động, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, cống hiến cho đất nước. Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật quan trọng như: Luật Thanh niên, Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam, các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, dạy nghề, giảm nghèo bền vững, hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp… Điều đó cho thấy chăm lo, phát triển thanh niên không phải là chủ trương nhất thời mà là quan điểm xuyên suốt, nhất quán, lâu dài.

LIỆU ĐIỆU ĐÒI XÓA BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP: MƯU ĐỒ CHÍNH TRỊ CẦN ĐƯỢC VẠCH TRẦN

 

Trên trang Vietnamthoibao, Vũ Đức Khanh có bài: “Tổ quốc là vĩnh cửu, thể chế phải phục vụ con người”Bài viết chứa đựng những luận điệu sai trái như: “Cần loại bỏ sự toàn trị của Đảng, cần thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên”, “một đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo là không hề có dân chủ”; cần xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải nhận diện đúng và quyết liệt đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch này.

Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận. Lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ và trong công cuộc xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ở Việt Nam, “Đảng ta” đã trở thành cụm từ thân thuộc, trân trọng không chỉ đối với hơn 5 triệu đảng viên, mà còn đối với mọi người dân Việt Nam.

Trong một công trình khảo cứu công phu và sâu sắc dày 720 trang với tựa đề Chính sách dân tộc của những người Cộng sản Việt Nam của GS Furuta Motoo ông đã đưa ra luận giải rất thuyết phục là Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhập thân vào dân tộc và mang trong mình sức mạnh của cả dân tộc. Ông luận giải, sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam có sức mạnh to lớn như thế là vì đã phát huy được cả sức mạnh của dân tộc. Trên thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là một tổ chức chính trị như cách nhìn thông thường mà là tổ chức chính trị đại diện cho dân tộc. Đấy chính là sự khác biệt và vì thế người ta nói nhiều tới tính chất nhập thân vào dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam rất thành công. Nhưng về một phương diện khác, những người Cộng sản Việt Nam lại không sa vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, luôn “biết mình, biết người” và luôn hiểu rõ thời thế để nắm bắt thời cơ. Đấy chính là thế mạnh về “tư duy quốc tế” của những người Cộng sản Việt Nam.

TÍNH NHẤT QUÁN CỦA ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM QUA CHUYẾN THAM DỰ HỘI NGHỊ HÒA BÌNH VỀ GAZA

 

Trong một bài viết trên blog BBC News Tiếng Việt đã sử dụng một số thủ pháp quen thuộc như lựa chọn thông tin có chủ ý, suy diễn động cơ chính trị và gán ghép lập trường, nhằm xuyên tạc chuyến đi của Tô Lâm tham dự cuộc họp khai mạc Hội nghị hòa bình về Gaza. Những luận điệu này không chỉ thiếu khách quan mà còn cố tình xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa thực chất của hoạt động đối ngoại cấp cao của Việt Nam. Do đó, cần được đấu tranh phản bác như sau:

Thứ nhất, cần khẳng định rõ: Về mục đích, chuyến đi của Tổng Bí thư Tô Lâm là thể hiện lập trường nhất quán của Việt Nam trong việc ủng hộ hòa bình, chấm dứt xung đột, bảo vệ luật pháp quốc tế, bảo vệ dân thường và thúc đẩy giải pháp chính trị cho các điểm nóng xung đột trên thế giới, trong đó có khu vực Gaza. Đây không phải là hành động “chạy theo thời sự quốc tế” như một số ý kiến xuyên tạc, mà là sự tiếp nối logic, nhất quán của đường lối đối ngoại Việt Nam đã được xác lập và triển khai suốt nhiều thập niên qua.

VIỆT NAM KHÔNG CẦN MỘT LUẬT VỀ ĐẢNG CẦM QUYỀN

 

Mới đây, trên trang Vietnamthoibao, Chu Tuấn Anh có bài viết: “Đảng trên luật hay đảng dưới luật?”, cho rằng: Việt Nam “Quyền lực tập trung nhanh, nhưng pháp quyền vẫn đứng yên”; “Tinh thần pháp lý cần có cho một Luật về Đảng cầm quyền”. Những lập luận này thoạt nghe có vẻ hợp lý, song nếu xem xét một cách tổng thể, có thể thấy đây là cách tiếp cận giản đơn, sao chép mô hình ngoại lai, thậm chí hàm chứa ý đồ chính trị nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc của Chu Tuấn Anh và luôn nhận thức sâu sắc rằng:

Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được hiến định và kiểm nghiệm bằng lịch sử.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, là nền tảng tổ chức quyền lực nhà nước và đời sống chính trị – xã hội. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025 khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quy định này không phải là một tuyên bố chính trị trừu tượng, mà là sự khái quát hóa kết quả của cả một quá trình đấu tranh cách mạng, được lịch sử dân tộc và nhân dân Việt Nam lựa chọn, thừa nhận và bảo vệ. Khi vai trò lãnh đạo của Đảng đã được hiến định, thì không tồn tại nhu cầu pháp lý nào phải ban hành một đạo luật có hiệu lực thấp hơn để “quy định lại” hay “xác lập lại” vai trò ấy.

Từ góc độ khoa học pháp lý, nếu ban hành “luật về đảng cầm quyền”, câu hỏi đặt ra là luật đó sẽ điều chỉnh điều gì mà Hiến pháp chưa điều chỉnh? Nếu luật chỉ lặp lại các nguyên tắc đã được hiến định, thì đó là sự trùng lặp không cần thiết; còn nếu luật đặt ra những giới hạn, điều kiện hay cơ chế ràng buộc mới đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, thì chẳng khác nào dùng luật để “sửa Hiến pháp”, làm suy giảm tính tối thượng của Hiến pháp. Cả hai khả năng đều không hợp lý và không phù hợp với nguyên tắc tổ chức hệ thống pháp luật.

THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN VỀ THỂ CHẾ: QUYẾT TÂM CHÍNH TRỊ VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

 

Vừa qua, trên trang Vietnamthoibao, Phạm Đình Bá có bài viết “Khi điểm ghẽn thể chế lộ diện ở trung tâm quyền lực” để phủ nhận, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thể chế. Bài viết cho rằng, sau Đại hội XIV, trung tâm quyền lực là vai trò áp đảo của các nhân vật xuất thân từ ngành công an trong bộ máy lãnh đạo, dẫn đến việc quyết định mọi lĩnh vực. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần phê phán, bác bỏ:

Một là, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế – vì sự phát triển bền vững, không phải kịch bản chính trị.

Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế trước hết và chủ yếu là nhằm hoàn thiện phương thức quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân và khai thác tối đa các nguồn lực cho phát triển đất nước trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần khẳng định: Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu tất yếu của công cuộc đổi mới. Trong đó, cải cách thể chế không phải là sự phủ định con đường xã hội chủ nghĩa mà chính là điều kiện để con đường ấy được thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp với quy luật phát triển và bối cảnh mới. Việc sửa đổi, bổ sung luật pháp, đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý, tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực không làm suy yếu hệ thống chính trị mà ngược lại, củng cố nền tảng chính trị – xã hội, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Phát triển bền vững, cải cách thể chế hướng tới ba mục tiêu cơ bản: (1) nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực; (2) bảo đảm công bằng xã hội và bao trùm; (3) bảo vệ môi trường và lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai. Những mục tiêu này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn có giá trị nhân văn sâu sắc, phản ánh bản chất tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng. Vì vậy, cải cách thể chế không phải là “kịch bản chính trị” mang tính đối phó hay nhượng bộ, mà là sự lựa chọn chủ động, tự giác và có cơ sở khoa học nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển quốc gia; đồng thời thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trước nhân dân và lịch sử.

TỪ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI ĐẾN KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN: BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU HOÀI NGHI TĂNG TRƯỞNG Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao đăng bài: “Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của Đảng Cộng sản” của Thanh Phương. Bằng thủ pháp phóng đại khó khăn, tuyệt đối hóa thách thức, Thanh Phương đã quy kết: Mục tiêu phát triển của Việt Nam là “ảo”, “thiếu cơ sở”, đường lối kinh tế – xã hội thì “bế tắc” … nhằm xuyên tạc, chống phá, gieo rắc tâm lý hoài nghi và làm xói mòn niềm tin của Nhân dân vào định hướng phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo Đảng trong kỷ nguyên mới. Song, thực tiễn đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xảo trá đó.

1. Cần khẳng định: Mục tiêu tăng trưởng và phát triển của Việt Nam không phải là cảm tính hay ý chí chủ quan mà được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời được Đảng điều chỉnh linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và thế giới. Theo đó, Đảng đã nhất quán quan điểm phát triển nhanh và bền vững, lấy con người làm trung tâm, là mục tiêu và động lực của phát triển; Đảng đã đề ra mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 tầm nhìn 2045 và xa hơn nữa với lộ trình rõ ràng, không tách rời năng lực nội sinh của nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026 – 2030 được đề ra không phải là “tham vọng mù quáng”, mà là sự tiếp nối logic của một quá trình phát triển đã được kiểm chứng bằng thực tiễn.

LUẬN ĐIỆU “DÂN CHỦ HÓA TẤT YẾU” – CHIÊU BÀI CŨ TRONG CHIẾC ÁO MỚI

 

Trên trang Thongluan, Bút danh Chu Tuấn Anh có bài viết “Điều gì đã thực sự quan trọng?” phát tán nội dung dự báo Việt Nam sẽ sớm “chuyển hóa chế độ”, kèm theo các suy diễn về khủng hoảng kinh tế, mất niềm tin xã hội và so sánh khiên cưỡng với Đông Âu, Romania, Sri Lanka… Bài viết còn đưa ra cái gọi là “định hướng đấu tranh”, thực chất là kêu gọi phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và thúc đẩy thay đổi thể chế chính trị. Đây là kiểu tuyên truyền cũ mèm gieo dắt sự hoài nghi, giàn dựng, phỏng đoán kịch bản.

1. “Xu thế sụp đổ tất yếu” chỉ là sự áp đặt lịch sử máy móc

Luận điểm Chu Tuấn Anh tập trung trong bài viết là: “các nước xã hội chủ nghĩa đã tan rã nên Việt Nam cũng sẽ đi theo con đường đó”. Đây là kiểu suy luận đơn tuyến, bỏ qua yếu tố quan trọng nhất trong khoa học chính trị mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử – xã hội riêng. Nếu áp dụng logic của họ, lẽ ra Việt Nam đã sụp đổ từ đầu thập niên 90 khi Liên Xô tan rã. Nhưng thực tế, Việt Nam lại bước vào thời kỳ tăng trưởng, phát triển. Sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997, nhiều nền kinh tế khu vực lao đao, Việt Nam vẫn giữ ổn định vĩ mô. Đại dịch COVID-19 khiến kinh tế toàn cầu suy thoái, Việt Nam vẫn thuộc nhóm phục hồi nhanh. Rõ ràng, không tồn tại “định mệnh thể chế” như cách họ áp đặt.