Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

TỪ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI ĐẾN KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN: BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU HOÀI NGHI TĂNG TRƯỞNG Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao đăng bài: “Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của Đảng Cộng sản” của Thanh Phương. Bằng thủ pháp phóng đại khó khăn, tuyệt đối hóa thách thức, Thanh Phương đã quy kết: Mục tiêu phát triển của Việt Nam là “ảo”, “thiếu cơ sở”, đường lối kinh tế – xã hội thì “bế tắc” … nhằm xuyên tạc, chống phá, gieo rắc tâm lý hoài nghi và làm xói mòn niềm tin của Nhân dân vào định hướng phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo Đảng trong kỷ nguyên mới. Song, thực tiễn đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xảo trá đó.

1. Cần khẳng định: Mục tiêu tăng trưởng và phát triển của Việt Nam không phải là cảm tính hay ý chí chủ quan mà được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời được Đảng điều chỉnh linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và thế giới. Theo đó, Đảng đã nhất quán quan điểm phát triển nhanh và bền vững, lấy con người làm trung tâm, là mục tiêu và động lực của phát triển; Đảng đã đề ra mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 tầm nhìn 2045 và xa hơn nữa với lộ trình rõ ràng, không tách rời năng lực nội sinh của nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026 – 2030 được đề ra không phải là “tham vọng mù quáng”, mà là sự tiếp nối logic của một quá trình phát triển đã được kiểm chứng bằng thực tiễn.

Các số liệu thống kê chính thức cho thấy: Năm 2023, GDP Việt Nam tăng 5,05% trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm nghiêm trọng, năm 2024 tăng 7,09%; đặc biệt, năm 2025 tăng 8,02% thuộc nhóm cao nhất trong khu vực và thế giới, đưa quy mô nền kinh tế đạt 514 tỷ USD, vào top 32 thế giới; GDP bình quân đầu người khoảng 5.026 USD, tăng hơn 40 lần so với thời điểm trước Đổi mới. Quan trọng hơn, các con số đó không tồn tại trên giấy, mà được phản ánh bằng những biến đổi cụ thể trong đời sống xã hội. Tỷ lệ nghèo đa chiều còn khoảng 1,3% năm 2025; hạ tầng giao thông, đô thị, năng lượng và chuyển đổi số phát triển nhanh; Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn FDI đăng ký lũy kế trên 470 tỷ USD vào năm 2025. Những khu công nghiệp, tuyến cao tốc, đô thị mới, trường học và bệnh viện hiện hữu trên khắp cả nước là minh chứng trực quan bác bỏ luận điệu “ảo hóa” thành tựu của Thanh Phương.

THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN VỀ THỂ CHẾ: QUYẾT TÂM CHÍNH TRỊ VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

 

Vừa qua, trên trang Vietnamthoibao, Phạm Đình Bá có bài viết “Khi điểm ghẽn thể chế lộ diện ở trung tâm quyền lực” để phủ nhận, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thể chế. Bài viết cho rằng, sau Đại hội XIV, trung tâm quyền lực là vai trò áp đảo của các nhân vật xuất thân từ ngành công an trong bộ máy lãnh đạo, dẫn đến việc quyết định mọi lĩnh vực. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần phê phán, bác bỏ:

Một là, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế – vì sự phát triển bền vững, không phải kịch bản chính trị.

Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế trước hết và chủ yếu là nhằm hoàn thiện phương thức quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân và khai thác tối đa các nguồn lực cho phát triển đất nước trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần khẳng định: Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu tất yếu của công cuộc đổi mới. Trong đó, cải cách thể chế không phải là sự phủ định con đường xã hội chủ nghĩa mà chính là điều kiện để con đường ấy được thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp với quy luật phát triển và bối cảnh mới. Việc sửa đổi, bổ sung luật pháp, đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý, tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực không làm suy yếu hệ thống chính trị mà ngược lại, củng cố nền tảng chính trị – xã hội, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Phát triển bền vững, cải cách thể chế hướng tới ba mục tiêu cơ bản: (1) nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực; (2) bảo đảm công bằng xã hội và bao trùm; (3) bảo vệ môi trường và lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai. Những mục tiêu này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn có giá trị nhân văn sâu sắc, phản ánh bản chất tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng. Vì vậy, cải cách thể chế không phải là “kịch bản chính trị” mang tính đối phó hay nhượng bộ, mà là sự lựa chọn chủ động, tự giác và có cơ sở khoa học nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển quốc gia; đồng thời thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trước nhân dân và lịch sử.

VIỆT NAM KHÔNG CẦN MỘT LUẬT VỀ ĐẢNG CẦM QUYỀN

 

Mới đây, trên trang Vietnamthoibao, Chu Tuấn Anh có bài viết: “Đảng trên luật hay đảng dưới luật?”, cho rằng: Việt Nam “Quyền lực tập trung nhanh, nhưng pháp quyền vẫn đứng yên”; “Tinh thần pháp lý cần có cho một Luật về Đảng cầm quyền”. Những lập luận này thoạt nghe có vẻ hợp lý, song nếu xem xét một cách tổng thể, có thể thấy đây là cách tiếp cận giản đơn, sao chép mô hình ngoại lai, thậm chí hàm chứa ý đồ chính trị nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc của Chu Tuấn Anh và luôn nhận thức sâu sắc rằng:

Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được hiến định và kiểm nghiệm bằng lịch sử.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, là nền tảng tổ chức quyền lực nhà nước và đời sống chính trị – xã hội. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025 khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quy định này không phải là một tuyên bố chính trị trừu tượng, mà là sự khái quát hóa kết quả của cả một quá trình đấu tranh cách mạng, được lịch sử dân tộc và nhân dân Việt Nam lựa chọn, thừa nhận và bảo vệ. Khi vai trò lãnh đạo của Đảng đã được hiến định, thì không tồn tại nhu cầu pháp lý nào phải ban hành một đạo luật có hiệu lực thấp hơn để “quy định lại” hay “xác lập lại” vai trò ấy.

Từ góc độ khoa học pháp lý, nếu ban hành “luật về đảng cầm quyền”, câu hỏi đặt ra là luật đó sẽ điều chỉnh điều gì mà Hiến pháp chưa điều chỉnh? Nếu luật chỉ lặp lại các nguyên tắc đã được hiến định, thì đó là sự trùng lặp không cần thiết; còn nếu luật đặt ra những giới hạn, điều kiện hay cơ chế ràng buộc mới đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, thì chẳng khác nào dùng luật để “sửa Hiến pháp”, làm suy giảm tính tối thượng của Hiến pháp. Cả hai khả năng đều không hợp lý và không phù hợp với nguyên tắc tổ chức hệ thống pháp luật.

Quan trọng hơn, trong thực tiễn chính trị Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là sản phẩm của kỹ thuật lập pháp, mà là kết quả của lịch sử, của lòng tin xã hội và của hiệu quả lãnh đạo. Suốt gần một thế kỷ, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh năng lực lãnh đạo, khả năng quy tụ, tổ chức và dẫn dắt toàn dân tộc vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất. Một vai trò đã được lịch sử và nhân dân khẳng định như vậy không cần và không thể được bảo đảm thêm bằng một đạo luật hành chính hóa nào khác nữa.

TÍNH NHẤT QUÁN CỦA ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM QUA CHUYẾN THAM DỰ HỘI NGHỊ HÒA BÌNH VỀ GAZA

 

Trong một bài viết trên blog BBC News Tiếng Việt đã sử dụng một số thủ pháp quen thuộc như lựa chọn thông tin có chủ ý, suy diễn động cơ chính trị và gán ghép lập trường, nhằm xuyên tạc chuyến đi của Tô Lâm tham dự cuộc họp khai mạc Hội nghị hòa bình về Gaza. Những luận điệu này không chỉ thiếu khách quan mà còn cố tình xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa thực chất của hoạt động đối ngoại cấp cao của Việt Nam. Do đó, cần được đấu tranh phản bác như sau:

Thứ nhất, cần khẳng định rõ: Về mục đích, chuyến đi của Tổng Bí thư Tô Lâm là thể hiện lập trường nhất quán của Việt Nam trong việc ủng hộ hòa bình, chấm dứt xung đột, bảo vệ luật pháp quốc tế, bảo vệ dân thường và thúc đẩy giải pháp chính trị cho các điểm nóng xung đột trên thế giới, trong đó có khu vực Gaza. Đây không phải là hành động “chạy theo thời sự quốc tế” như một số ý kiến xuyên tạc, mà là sự tiếp nối logic, nhất quán của đường lối đối ngoại Việt Nam đã được xác lập và triển khai suốt nhiều thập niên qua.

Về ý nghĩa, việc người đứng đầu Đảng ta trực tiếp tham dự và phát biểu tại một diễn đàn hòa bình quốc tế quan trọng đã gửi đi thông điệp rõ ràng: Việt Nam không đứng ngoài các vấn đề toàn cầu, không thờ ơ trước đau khổ của nhân loại, đồng thời luôn hành động trên cơ sở nguyên tắc, trách nhiệm và luật pháp quốc tế. Đây là biểu hiện sinh động của vai trò, vị thế ngày càng cao của Việt Nam trong đời sống chính trị – ngoại giao quốc tế, chứ không phải là “sự can dự mơ hồ” như cách diễn giải thiên lệch của BBC.

Về kết quả, chuyến đi đã góp phần: Khẳng định hình ảnh Việt Nam là quốc gia yêu chuộng hòa bình, có tiếng nói xây dựng, cân bằng và trách nhiệm; tăng cường quan hệ, tiếp xúc cấp cao với nhiều đối tác, qua đó mở rộng không gian hợp tác chính trị, ngoại giao và nhân đạo; củng cố niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với vai trò trung gian, đối thoại và đóng góp thực chất của Việt Nam trong các vấn đề khu vực và toàn cầu.

Luận điệu đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp: Mưu đồ chính trị cần được vạch trần

 

Trên trang Vietnamthoibao, Vũ Đức Khanh có bài: “Tổ quốc là vĩnh cửu, thể chế phải phục vụ con người”Bài viết chứa đựng những luận điệu sai trái như: “Cần loại bỏ sự toàn trị của Đảng, cần thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên”, “một đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo là không hề có dân chủ”; cần xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải nhận diện đúng và quyết liệt đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch này.

Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận. Lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ và trong công cuộc xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ở Việt Nam, “Đảng ta” đã trở thành cụm từ thân thuộc, trân trọng không chỉ đối với hơn 5 triệu đảng viên, mà còn đối với mọi người dân Việt Nam.

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU VU CÁO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ “CHẾ ĐỘ HAI MẶT”

 

Mới đây, trên trang Baoquocdan xuất hiện bài viết “Lương tri dân chủ, hãy cảnh giác!” của bút danh Quê Hương. Bài viết đã cố tình vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam là một “chế độ hai mặt”: bên ngoài tận dụng trật tự và tự do của thế giới để duy trì tăng trưởng và tính chính danh, còn bên trong vận hành một hệ thống “phi tự do”, nơi pháp luật bị bóp méo thành công cụ đàn áp và các giá trị phổ quát bị coi là mối đe dọa. Đây là luận điệu xuyên tạc có chủ đích, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, tiến tới kích động tư tưởng chống đối và gây bất ổn xã hội. Do đó, cần được vạch trần và đấu tranh phản bác.

Thứ nhất, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam“tận dụng thế giới dân chủ để duy trì tính chính danh quốc tế”.

Cần khẳng định, luận điệu này đã cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, đánh tráo bản chất vấn đề khi cho rằng sự phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam không xuất phát từ nội lực và sự lựa chọn đúng đắn của dân tộc, mà chỉ là hành vi “tận dụng” hệ thống quốc tế để duy trì quyền lực. Đây là cách lập luận phi logic và mang tính xuyên tạc có chủ đích. Bởi lẽ, hiện nay trong thế giới hiện đại, hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu và là quyền bình đẳng của mọi quốc gia có chủ quyền. Không có quốc gia nào phát triển được nếu tự cô lập mình khỏi các dòng chảy kinh tế, thương mại và khoa học toàn cầu.

Thực tiễn chứng minh, những thành tựu đạt được trong 40 đổi mới của Việt Nam là kết quả của đường lối đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển và nguyện vọng của nhân dân. Từ một nền kinh tế lạc hậu, thiếu thốn, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động, có quan hệ thương mại với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ. Hàng triệu người dân thoát khỏi đói nghèo, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, tính chính danh của một chế độ không phải do bên ngoài “ban phát”, mà được khẳng định bằng sự ủng hộ của nhân dân và hiệu quả quản trị đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam giành được vai trò lãnh đạo không phải bằng áp đặt, mà bằng lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, bằng sự hy sinh to lớn và bằng chính những thành quả xây dựng đất nước. Sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội và vị thế quốc tế ngày càng nâng cao chính là minh chứng rõ ràng nhất cho tính chính danh đó.

TÔN TRỌNG LỊCH SỬ, PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Trên trang Thongluan, bài viết “Về huyền thoại Hồ Chí Minh” của Nguyễn Gia Kiểng đã đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị lịch sử, hạ thấp uy tín và tầm vóc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với lối lập luận phiến diện, cắt ghép tư liệu và suy diễn chủ quan, y không chỉ công kích một cá nhân lịch sử, mà còn nhằm phủ nhận nền tảng chính danh của cách mạng Việt Nam. Trước những luận điệu đó, cần thẳng thắn khẳng định sự thật lịch sử và vạch rõ bản chất chính trị của những thủ pháp xuyên tạc này.

Thứ nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là “huyền thoại được dựng lên”, mà là nhân cách và sự nghiệp được lịch sử kiểm chứng

Lịch sử không được xây dựng bằng tuyên truyền đơn thuần, mà được kiểm chứng bằng thực tiễn và sự thừa nhận rộng rãi của nhân dân và cộng đồng quốc tế. Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với những bước ngoặt lớn của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX: Tìm đường cứu nước, sáng lập Đảng, lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG: SỰ LỰA CHỌN CỦA LỊCH SỬ VÀ NHÂN DÂN

 

Trong bài viết “Muốn giải phóng sức dân; hãy bỏ Điều 4 Hiến pháp, từ bỏ độc Đảng để xây dựng Việt Nam dân chủ, hùng cường”, Bùi Thị Trang đã cố tình suy diễn, xuyên tạc, kêu gọi từ bỏ Điều 4 Hiến pháp nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ nội bộ, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ. Việc đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái này là cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

1. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – sự lựa chọn của lịch sử và Nhân dân

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930, là Đảng của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Dù xuất hiện trong bối cảnh có nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau, nhưng ngay từ khi thành lập, Đảng đã nhanh chóng khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng, được các giai tầng xã hội thừa nhận và ủng hộ.

Sở dĩ như vậy vì Đảng đã sớm giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đáp ứng đúng yêu cầu cấp bách của lịch sử và khát vọng cháy bỏng của Nhân dân. Với Cương lĩnh chính trị đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam được xác định rõ ràng, khoa học, phù hợp thực tiễn. Đảng không chỉ có đường lối đúng đắn mà còn có phương pháp tổ chức, vận động quần chúng linh hoạt, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, giàu tinh thần hy sinh, tận trung với nước, tận hiếu với dân.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tiếp đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Những thành tựu vĩ đại đó là minh chứng sinh động cho bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Bước vào thời kỳ đổi mới, với tư duy sáng tạo và tầm nhìn chiến lược, Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Sau gần 40 năm, Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình; kinh tế tăng trưởng ổn định; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện; chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng – an ninh được giữ vững; vị thế và uy tín quốc tế ngày càng nâng cao. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Thực tiễn đó khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam hiện nay không có lực lượng chính trị nào khác đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Vai trò lãnh đạo của Đảng không phải tự phong, mà được xác lập bằng lịch sử đấu tranh cách mạng, bằng thành tựu thực tiễn và bằng niềm tin của Nhân dân.

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG: SỰ LỰA CHỌN CỦA LỊCH SỬ VÀ NHÂN DÂN

 

Trong bài viết “Muốn giải phóng sức dân; hãy bỏ Điều 4 Hiến pháp, từ bỏ độc Đảng để xây dựng Việt Nam dân chủ, hùng cường”, Bùi Thị Trang đã cố tình suy diễn, xuyên tạc, kêu gọi từ bỏ Điều 4 Hiến pháp nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ nội bộ, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ. Việc đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái này là cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

1. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – sự lựa chọn của lịch sử và Nhân dân

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930, là Đảng của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Dù xuất hiện trong bối cảnh có nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau, nhưng ngay từ khi thành lập, Đảng đã nhanh chóng khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng, được các giai tầng xã hội thừa nhận và ủng hộ.

Sở dĩ như vậy vì Đảng đã sớm giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đáp ứng đúng yêu cầu cấp bách của lịch sử và khát vọng cháy bỏng của Nhân dân. Với Cương lĩnh chính trị đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam được xác định rõ ràng, khoa học, phù hợp thực tiễn. Đảng không chỉ có đường lối đúng đắn mà còn có phương pháp tổ chức, vận động quần chúng linh hoạt, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, giàu tinh thần hy sinh, tận trung với nước, tận hiếu với dân.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tiếp đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Những thành tựu vĩ đại đó là minh chứng sinh động cho bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng.

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC CỦA TÔ VĂN TRƯỜNG

 

Trên trang Boxitvn, Tô Văn Trường đăng bài viết “Thành tích ảo và hệ lụy quốc gia” với những nhận định phiến diện, quy chụp rằng Việt Nam đang mắc “bệnh thành tích trầm kha”, rằng các thành quả phát triển chỉ là “thiết kế”, “tô vẽ” và đất nước “yếu từ bên trong”. Cách lập luận này không chỉ đơn giản là một ý kiến phản biện, mà là sự đánh tráo bản chất vấn đề, phủ nhận thực tiễn khách quan, gieo rắc hoài nghi đối với thành tựu phát triển và vai trò lãnh đạo của Đảng. Trước những luận điệu ấy, cần nhìn nhận thẳng thắn, lý giải rõ ràng và phản bác trên cơ sở lý luận, thực tiễn và lợi ích quốc gia – dân tộc.

Thứ nhất, đánh tráo khái niệm để quy kết bản chất là thủ pháp ngụy biện không thể che đậy của Tô Văn Trường.

Không ai phủ nhận trong quá trình phát triển vẫn tồn tại hạn chế, thậm chí có biểu hiện “bệnh thành tích” ở một số nơi, một số cá nhân. Song, cố tình đồng nhất hiện tượng cá biệt với bản chất của cả hệ thống là một sự quy chụp thiếu thiện chí. Trong các văn kiện qua nhiều kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thẳng thắn chỉ rõ khuyết điểm, nhận diện nguy cơ suy thoái, trong đó có “bệnh thành tích”, và kiên quyết chấn chỉnh. Một tổ chức nếu chỉ biết tô hồng sẽ không bao giờ công khai những yếu kém của mình trước toàn dân.

Thực tiễn gần bốn thập niên đổi mới là minh chứng sinh động nhất bác bỏ luận điệu “thành tích ảo”. Từ một quốc gia chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, từng bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thuộc nhóm 40 thế giới về quy mô GDP và nhóm 20 về thương mại. Những tuyến cao tốc Bắc – Nam, những cây cầu vượt biển, những khu công nghiệp, đô thị hiện đại, hay sự đổi thay sâu sắc ở nông thôn mới… không phải là sản phẩm của báo cáo giấy. Không một bản “thiết kế thành tích” nào có thể tạo ra hàng triệu việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho hơn 100 triệu người dân. Phủ nhận những chuyển biến ấy là phủ nhận chính những gì đang hiện hữu trước mắt.

Thứ hai, các chỉ số phát triển được quốc tế thừa nhận là minh chứng khách quan mà Tô Văn Trường không thể xuyên tạc.

Một quốc gia “yếu từ bên trong” không thể duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thế giới đầy biến động. Giai đoạn 2021–2025, bất chấp tác động của đại dịch và bất ổn địa chính trị toàn cầu, Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6-6,5%/năm, thuộc nhóm cao trong khu vực. Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 700 tỷ USD, phản ánh năng lực sản xuất – thương mại thực chất chứ không phải con số tô vẽ. Các tổ chức quốc tế như World Bank, International Monetary Fund và Asian Development Bank đều có cơ chế thẩm định độc lập, dựa trên hệ thống dữ liệu và chuẩn mực toàn cầu. Những báo cáo đánh giá tích cực về ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam không phải sản phẩm của ý chí chủ quan trong nước.

GIÁ TRỊ KHOA HỌC VÀ SỨC SỐNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG THỰC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Trên trang Thongluan, Nguyễn Gia Kiểng đăng bài viết “Thêm một dịp để nhìn lại chế độ cộng sản” nhằm xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là sản phẩm của sự nông cạn, thiển cận, bạo lực và để lại hậu quả to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động cần phê phán, bác bỏ:

Một là, chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống lý luận khoa học, không phải là sản phẩm của sự nông cạn, thiển cận.

Chủ nghĩa Mác – Lênin là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, sâu sắc và toàn diện về xã hội loài người. C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa có chọn lọc những thành tựu trí tuệ của nhân loại, bao gồm triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Trên cơ sở đó, các ông đã xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, qua đó giải thích một cách khoa học về quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Chủ nghĩa Mác không phải là sản phẩm của sự tưởng tượng chủ quan, mà là kết quả của việc phân tích sâu sắc thực tiễn xã hội tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. C.Mác đã chỉ ra quy luật vận động tất yếu của xã hội loài người từ hình thái kinh tế – xã hội thấp đến cao, và khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là kết quả của quá trình phát triển lịch sử khách quan.

TỰ DO NGÔN LUẬN KHÔNG PHẢI LÀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM

 

Trên Bloger của Anhemdanchu, Phạm Minh Hạnh có bài viết: “Không tồn tại “giới hạn pháp luật” đối với quyền tự do ngôn luận”, cho rằng nhà cầm quyền độc tài cộng sản Việt Nam thường sử dụng các điều 117 và điều 331 Bộ luật Hình sự để bỏ tù người dân, nhà báo độc lập, nhà hoạt động xã hội khi họ thực hiện quyền tự do ngôn luận. Thực tế, Phạm Minh Hạnh đang cố tình không hiểu, vu cáo, xuyên tạc điều 117, điều 331 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và tự do ngôn luận ở Việt Nam.

          Thứ nhất, cần khẳng định rằng quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong nhiều văn bản luật quốc tế. Điều 29 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

          Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, nếu xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo đảm, cho phép tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và truyền đạt thông tin, quan điểm qua lời nói, văn bản, hoặc mạng xã hội. Tuy nhiên, quyền này phải thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không được xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, hoặc lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Theo đó, có thể hiểu Hiến pháp quy định “quyền tự do ngôn luận” của mọi công dân là quyền được tự do trong giới hạn mà pháp luật quy định, phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tự do ngôn luận khác với việc tùy tiện vu khống, bôi nhọ, xâm hại đến cá nhân, tổ chức. 

VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ SỰ THẬT VỀ NHỮNG LUẬN ĐIỆU BÔI NHỌ

 

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị học tập, nghiên cứu, quán triệt và triển khai Nghị quyết số 79 và Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị không chỉ là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương lớn của Đảng, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh và quyết tâm chính trị cao trong lãnh đạo phát triển đất nước. Tuy nhiên, một số đối tượng đã cố tình xuyên tạc, bóp méo nội dung bài viết, đặc biệt liên quan đến Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành và vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát triển kinh tế. Những luận điệu này cần được nhận diện và phản bác như sau:

1. Ý nghĩa chiến lược của Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành

Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành là công trình trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Đây không đơn thuần là một dự án giao thông, mà là động lực tăng trưởng mới, tạo sức lan tỏa lớn đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước.

Về mặt kinh tế, sân bay Long Thành được kỳ vọng trở thành trung tâm trung chuyển hàng không quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại, du lịch và dịch vụ logistics. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hạ tầng hàng không hiện đại là điều kiện thiết yếu để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Về mặt quy hoạch phát triển dài hạn, sân bay Long Thành góp phần giải quyết tình trạng quá tải của Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, đồng thời tạo dư địa phát triển không gian kinh tế mới, thúc đẩy đô thị hóa bền vững, tái cấu trúc kinh tế vùng theo hướng hiện đại, hiệu quả.

Về quốc phòng – an ninh, một cảng hàng không quốc tế quy mô lớn, hiện đại như sân bay Long Thành có khả năng phục vụ linh hoạt cả mục đích dân sự và các yêu cầu quốc phòng khi cần thiết. Trong các tình huống khẩn cấp như thiên tai, thảm họa hoặc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, hệ thống hạ tầng đồng bộ của sân bay sẽ hỗ trợ hiệu quả cho việc cơ động lực lượng, trang thiết bị, bảo đảm hậu cần – kỹ thuật cho các hoạt động quốc phòng.

CON NGƯỜI VIỆT NAM: BẢN LĨNH, NHÂN VĂN VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN

 

Trên trang Baotiengdan, Phạm Hồng Lam đăng bài viết “Nhận diện con người Việt Nam”. Bài viết chứa đựng những luận điệu xuyên tạc, hạ thấp giá trị văn hóa và con người Việt Nam trên trường quốc tế, cần phải phê phán, bác bỏ.

Thứ nhất, Phạm Hồng Lam cho rằng dân tộc Việt Nam “chạy trốn, hời hợt, không định hướng” đây là luận điệu cố tình phủ nhận lịch sử hào hùng và thành tựu phát triển của dân tộc Việt Nam.

Nếu nói Việt Nam là một dân tộc “chạy trốn, hời hợt” là điều phi lý, không có cơ sở khoa học, vì hiếm có dân tộc nào trên thế giới như dân tộc Việt Nam, lịch sử dựng nước lại đồng hành với lịch sử giữ nước. Từ buổi đầu dựng nước cho đến ngày nay, các thế hệ người Việt Nam nối tiếp nhau phải thường xuyên cầm vũ khí chống trả các thế lực xâm lược, bảo vệ non sông, nòi giống và bản sắc của mình. Cũng hiếm có dân tộc nào mà sự nghiệp giữ nước lại thường xuyên gặp phải tình thế cam go như dân tộc Việt Nam: kẻ thù xâm lược luôn lớn mạnh hơn mình nhiều lần. Nhưng cuối cùng, chiến thắng luôn thuộc về Việt Nam, đất nước ta, dân tộc ta vẫn tồn tại và phát triển. Đó không phải là “chạy chốn, hời hợt” mà đó là tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, nghệ thuật đánh giặc đặc sắc và tính nhân văn cao cả trong dựng nước và giữ nước; từ một nước nghèo nàn lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây cấm vận đã thực hiện thành công công cuộc đổi mới và trở thành một trong những nền kinh tế năng động nhất khu vực.  

Thứ hailuận điệu người Việt “tự ti, vọng ngoại, thiếu cái tôi bản lĩnh, đầu óc nô lệ” và tất cả dồn lại trong tiếng “xin” của Phạm Hồng Lam tung hô là sự xuyên tạc.

Trong văn hóa người Việt Nam, từ “xin” không phải biểu hiện của tâm thế thấp kém, mà là dấu hiệu của truyền thống trọng lễ nghĩa, coi trọng sự tôn trọng và hài hòa trong quan hệ cộng đồng. Từ “xin” thường đi cùng “cảm ơn”, thể hiện cầu thị, khiêm tốn, là nét văn hóa và ý thức về giới hạn cá nhân – điều mà nhiều nền văn hóa hiện đại cũng đề cao. Khiêm nhường không đồng nghĩa với tự ti; lịch sự không đồng nghĩa với nô lệ. Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập, việc học hỏi tinh hoa thế giới là thể hiện tinh thần cầu tiến chứ không phải vọng ngoại. mà Phạm Hồng Lam đã cố ý đánh đồng một cách ứng xử mềm mỏng của người Việt với “đầu óc nô lệ” với dụng ý đen tối, không đúng với giá trị văn hóa của người Việt Nam.

Vận dụng triết lý “ngoại giao cây tre” – mềm mại nhưng cứng cỏi, biết mình biết ta. Trong một thế giới đầy biến động “Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” việc giữ vững chủ quyền, là bạn với tất cả các nước, các nền kinh tế trên thế giới nhằm giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước là tư duy chiến lược, đặc sắc, chứ không hề mờ nhạt. Thể hiện văn hóa và bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam.

30/4/1975 – CHIẾN THẮNG CỦA CHÍNH NGHĨA, KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

Trên trang baoquocdan, Nguyên Văn Bài có bài viết “30 tháng 4 – Ngày Quốc Hận, không phải ngày chiến thắng”, cho rằng: “Ngày ấy không phải là ngày giải phóng mà là ngày mất nước, ngày đau thương của dân tộc”. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, phủ nhận bản chất chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Những luận điệu này cần được nhận diện rõ và kiên quyết bác bỏ.

Thứ nhất, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, quy định việc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tiến tới tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam đã phá hoại Hiệp định, từ chối tổng tuyển cử, thực hiện nhiều chính sách đàn áp phong trào cách mạng và những người yêu nước.

SINH THÁI HAY SINH SỰ

 

Trên trang Baotiengdan xuất hiện bài viết “Hệ sinh thái phản biện và độc canh tư tưởng” của bút danh Trần Văn. Nội dung bài viết quy kết rằng ở Việt Nam tồn tại một kiểu “độc canh tư tưởng” nhằm duy trì quyền lực, còn cái gọi là “hệ sinh thái phản biện” chỉ là khẩu hiệu hình thức. Lập luận nghe qua có vẻ học thuật, mượn hình ảnh sinh học để nói chuyện chính trị, nhưng càng đọc kỹ càng thấy sự đánh tráo khái niệm và suy diễn võ đoán của Trần Văn, đó là:

1. “Độc canh tư tưởng” – cách gọi trá hình của sự đơn giản hóa thô thiển

Trần Văn ví Việt Nam như một cánh đồng “độc canh”, nơi chỉ có một loại “cây tư tưởng” được phép tồn tại. Nghe thì kêu, nhưng thử hỏi: chính trị có phải là nông nghiệp để mà so sánh giản đơn như vậy không ? Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo Hiến pháp. Đó là sự lựa chọn của lịch sử và của Nhân dân, được khẳng định qua thực tiễn đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. Việc một quốc gia có một Đảng cầm quyền không đồng nghĩa với “độc canh tư tưởng”. Trong lòng xã hội Việt Nam tồn tại rất nhiều dòng ý kiến, nhiều cách tiếp cận, nhiều tranh luận về chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục, quản trị công… Thậm chí trong nội bộ các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc hoạt động góp ý, phản biện chính sách diễn ra thường xuyên, có tổ chức và có trách nhiệm.

Điều đáng nói ở đây là Trần Văn đã cố tình đồng nhất “đa dạng sinh học” với “đa nguyên chính trị”, rồi từ đó suy diễn rằng chỉ có đa đảng mới bảo đảm phản biện. Đây là một suy luận hết sức cảm tính. Đa dạng trong tư duy, trong tranh luận chính sách không đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Ngược lại, chính trong quá trình lãnh đạo, Đảng đã nhiều lần tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tiếp thu ý kiến Nhân dân để điều chỉnh đường lối cho phù hợp thực tiễn. Nếu là “độc canh” thật sự, liệu có những cuộc cải cách lớn, những thay đổi mạnh mẽ trong quản lý kinh tế, hội nhập quốc tế như thời gian qua?