
Trên trang Saigonnhonew đăng bài viết “Thực dân, Phát xít và cộng sản – chủ nghĩa nào tệ hại hơn” của Đào Tăng Dực, người thường xuyên lợi dụng danh xưng “luật sư” để phát tán các quan điểm sai trái, thù địch đối với Đảng và Nhà nước ta. Trong bài viết, tác giả cố tình đánh đồng chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phát xít với chủ nghĩa cộng sản, coi đó là “ba thảm họa” đối với các quốc gia kém phát triển; từ đó suy diễn rằng “các quốc gia bị thực dân và phát xít thống trị thường đạt đến dân chủ và thịnh vượng nhanh hơn các quốc gia cộng sản, trong đó có Việt Nam”; và quy kết “độc tài cộng sản là hiểm họa lớn nhất”. Đây là một thủ đoạn chính trị nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn.
1. Không thể đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít
Về phương diện lý luận và thực tiễn lịch sử, việc xếp chủ nghĩa cộng sản vào cùng nhóm “thảm họa” với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít là một sự tráo đổi khái niệm có chủ ý, phản khoa học và phi lịch sử. Chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít là những hình thái thống trị phản dân chủ, phản nhân văn và phản tiến bộ nhất mà lịch sử nhân loại từng sản sinh. Bản chất của chúng là bạo lực có tổ chức, áp bức dân tộc và bóc lột con người, gắn liền với việc tước đoạt có hệ thống quyền sống, quyền tự do và quyền phát triển của các dân tộc bị trị. Trong suốt hàng trăm năm tồn tại, chủ nghĩa thực dân đã gây ra những tội ác không thể phủ nhận như bóc lột tàn bạo và giết chóc nhân dân châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Thảm họa Chiến tranh thế giới thứ hai, với hàng chục triệu người thiệt mạng là minh chứng không thể phủ nhận cho bản chất phản động, phi nhân tính của chế độ này. Đó không phải là “hệ quả ngoài ý muốn”, mà là kết quả tất yếu của bản chất xâm lược và bóc lột của chủ nghĩa thực dân, phát xít.Việc nhân loại tiến bộ lên án chủ nghĩa phát xít như tội ác chống loài người đã trở thành sự đồng thuận phổ quát.
Đồng thời, việc cho rằng “các quốc gia từng bị chủ nghĩa thực dân và phát xít thống trị thường đạt đến dân chủ hoặc chuyển tiếp dân chủ nhanh hơn và kinh tế thịnh vượng hơn các quốc gia cộng sản” đã thể hiện rõ thủ đoạn thâm độc, biến di sản xâm lược và bóc lột thành “bệ phóng” cho dân chủ và phát triển. Thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy, phần lớn các quốc gia hậu thuộc địa rơi vào vòng xoáy kéo dài của nghèo đói, bất ổn chính trị, xung đột xã hội và lệ thuộc bên ngoài. Châu Phi là minh chứng điển hình, khi nhiều quốc gia sau độc lập vẫn đối mặt với nền kinh tế kiệt quệ và sự phụ thuộc nặng nề vào các trung tâm tư bản cũ.
Ngược lại, chủ nghĩa cộng sản ra đời như một học thuyết khoa học và cách mạng, hướng tới mục tiêu giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột và bất công, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, nơi con người được phát triển tự do và toàn diện. Trong lịch sử hiện đại, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế không những không đồng hành với chủ nghĩa phát xít, mà còn là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh chống phát xít và giải phóng các dân tộc thuộc địa. Thực tiễn chủ nghĩa xã hội hiện thực ngày nay, với khoảng một phần năm dân số thế giới, cùng những thành tựu phát triển của các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, tiếp tục khẳng định tính tiến bộ và sức sống của con đường xã hội chủ nghĩa.
2. Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội – sự lựa chọn tất yếu và đúng đắn
Thực tiễn Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, là một nước thuộc địa nửa phong kiến và cũng đã trải qua những cuộc thử nghiệm của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp để lựa chọn con đường cứu nước song đều thất bại. Thắng lợi của Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, đồng thời trở thành nguồn cổ vũ và chỉ dẫn lý luận to lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Thực tiễn hơn 95 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, kiên định đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã giúp cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sau 40 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định vĩ mô, quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ nghèo đa chiều giảm mạnh, an sinh xã hội được bảo đảm. Cùng với đó, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của nền kinh tế được cải thiện. Đây là những bằng chứng thuyết phục bác bỏ mọi luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đặc biệt, trong bối cảnh nhiều quốc gia hậu thuộc địa đi theo con đường tư bản chủ nghĩa rơi vào khủng hoảng phát triển, phân hóa giàu nghèo sâu sắc, bất ổn xã hội và lệ thuộc bên ngoài, Việt Nam vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách. Chính điều đó tạo nên sự khác biệt căn bản và ưu việt của con đường phát triển mà Việt Nam đã kiên định lựa chọn.
Tóm lại, những luận điệu của Đào Tăng Dực đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít không chỉ là sự ngụy biện về mặt học thuật, mà còn là thủ đoạn chính trị có chủ ý nhằm bóp méo lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Nhân dân ta đã lựa chọn bằng mồ hôi, xương máu và cả những hy sinh to lớn. Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, là bảo đảm căn bản cho tương lai phát triển độc lập, tự chủ, phồn vinh và hạnh phúc của dân tộc Việt Nam./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét