Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2025

SỰ XUYÊN TẠC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM CỦA NGÔ HUY CƯƠNG

 

Trên trang “Baotiengdan”, Ngô Huy Cương đã đăng tải bài viết “Tại sao luật học ở Việt Nam không phát triển được? Với nội dung cho rằng: “Nước ta thay đổi liên tục các kiểu loại pháp luật theo những truyền thống pháp luật khác nhau; kể từ khi Liên Xô sụp đổ và ta bắt tay vào xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, thì hệ thống pháp luật của ta lại càng pha tạp nhiều hơn”. Đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp giá trị hệ thống pháp luật và phủ nhận con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, do đó, cần phải được đấu tranh bác bỏ.

Một là, hệ thống pháp luật Việt Nam kế thừa, phát triển và có định hướng rõ ràng.

Sau Ngày độc lập (2/9/1945), Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Hiến pháp 1946, bản hiến pháp đầu tiên phản ánh bản chất dân chủ, tiến bộ, đề cao quyền làm chủ của nhân dân. Trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, sự vận động phát triển của thế giới, khu vực và đất nước các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013 lần lượt ra đời. Mặc dù nội dung của các bản Hiến pháp có điều chỉnh, bổ sung, phát triển nhưng xuyên suốt là vì mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó chứng minh tính kế thừa, ổn định và định hướng nhất quán, chứ không hề “thay đổi vô nguyên tắc”.

SỰ XUYÊN TẠC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM CỦA NGÔ HUY CƯƠNG

 

Trên trang “Baotiengdan”, Ngô Huy Cương đã đăng tải bài viết “Tại sao luật học ở Việt Nam không phát triển được? Với nội dung cho rằng: “Nước ta thay đổi liên tục các kiểu loại pháp luật theo những truyền thống pháp luật khác nhau; kể từ khi Liên Xô sụp đổ và ta bắt tay vào xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, thì hệ thống pháp luật của ta lại càng pha tạp nhiều hơn”. Đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp giá trị hệ thống pháp luật và phủ nhận con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, do đó, cần phải được đấu tranh bác bỏ.

Một là, hệ thống pháp luật Việt Nam kế thừa, phát triển và có định hướng rõ ràng.

Sau Ngày độc lập (2/9/1945), Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Hiến pháp 1946, bản hiến pháp đầu tiên phản ánh bản chất dân chủ, tiến bộ, đề cao quyền làm chủ của nhân dân. Trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, sự vận động phát triển của thế giới, khu vực và đất nước các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013 lần lượt ra đời. Mặc dù nội dung của các bản Hiến pháp có điều chỉnh, bổ sung, phát triển nhưng xuyên suốt là vì mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó chứng minh tính kế thừa, ổn định và định hướng nhất quán, chứ không hề “thay đổi vô nguyên tắc”.

ỦNG HỘ NHÂN DÂN CUBA THỂ HIỆN NGHĨA TÌNH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Trên trang chantroimoimedia, bút danh Âu Châu đăng bài: “Đảng tặng không gạo cho Cuba khi dân đang cần cứu trợ”, với nội dung xuyên tạc rằng “Đảng đem gạo, đem tài sản đi cho nước khác thì cho thấy hai điều. Một là Đảng không biết xài tiền, trong nước thì thiếu thốn, mà đem tiền dâng cho ngoại bang để xây dựng hình ảnh. Hai là ngân sách Nhà nước Việt Nam không thiếu tiền để cứu trợ đồng bào lũ lụt nhưng vẫn kêu gọi quyên góp để “kiếm thêm”, làm giàu thêm cho quan chức nhà nước”. Thực chất, đây là luận điệu phản động, xuyên tạc và chống phá Đảng, Nhà nước, tình hữu nghị Việt Nam – Cuba. Vì vậy, cần nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ luận điệu trên.

Thứ nhất, quan hệ hữu nghị, tình cảm son sắt giữa Việt Nam và Cuba đã được Đảng, Nhà nước và Nhân dân hai nước không ngừng vun đắp trong 65 năm qua.

Nói về quan hệ Việt Nam – Cuba là nói về tình hữu nghị thủy chung, trong sáng, hiếm có trong quan hệ quốc tế. Trải qua 65 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ (tháng 12 năm 1960) đến nay, mối quan hệ đó không ngừng được Đảng, Nhà nước và Nhân dân hai nước ra sức vun đắp, củng cố và phát triển tốt đẹp trên tất cả các lĩnh vực, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới, trở thành biểu tượng về tình đoàn kết quốc tế trong lịch sử thế giới.

Trong những năm tháng chiến tranh gian khổ, Cuba luôn sát cánh, ủng hộ cả về vật chất lẫn tinh thần đối với Việt Nam. Câu nói nổi tiếng của Lãnh tụ Fidel Castro Ruz: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” là biểu tượng bất diệt của tình cảm ấy. Ngày 13/3/1967, tại Thủ đô La Habana, nhân “Tuần đoàn kết với nhân dân Việt Nam”, công nhân Cuba đã tổ chức “Ngày sản xuất đoàn kết với Việt Nam”, “Ngày thi đua ủng hộ Việt Nam”. Cuba cũng đã phát động phong trào toàn dân theo gương Việt Nam lập thành tích trong sản xuất và bảo vệ Tổ quốc; đã có hàng nghìn nam, nữ công nhân lao động ở bến cảng tình nguyện để ủng hộ Việt Nam…

ỦNG HỘ NHÂN DÂN CUBA – NGHĨA TÌNH SÂU NẶNG CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao, Dân Trần đã đăng tải bài viết: “Học sinh phải “nộp phế” cõng gánh nặng ngoại giao cho Tô Lâm” với luận điệu cho rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam phát động phong trào quyên góp ủng hộ Nhân dân Cuba là hành động để “Đảng phông bạt với Cuba”. Đây là luận điệu sai trái, phản động nhằm xuyên tạc tình đoàn kết quốc tế trong sáng, sâu lặng giữa hai Đảng, hai Dân tộc và Nhân dân hai nước Việt Nam – Cuba trong suốt 65 năm qua, song thực tế lịch sử đã chứng minh:

1. Quan hệ Việt Nam – Cuba là sự gắn bó nghĩa tình, hiếm có trong lịch sử.

Quan hệ Việt Nam – Cuba được hình thành từ sớm, xuất phát từ lương tâm, tình cảm quốc tế trong sáng và truyền thống hữu nghị, nhân văn của hai dân tộc, quan hệ ấy đã vượt qua thử thách của chiến tranh, khoảng cách địa lý và sự khắc nghiệt của chính sách bao vây cấm vận, trở thành biểu tượng bất diệt của tình đồng chí. Ngay từ tháng 12/1960, Cuba là quốc gia Tây bán cầu đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Chỉ 3 năm sau, Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam ra đời (1963), thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ, kịp thời trong bối cảnh nhân dân ta đang bước vào giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ Quảng trường LaHabana đến từng nhà máy, trường học, tinh thần “tất cả vì Việt Nam” lan tỏa khắp đảo quốc Caribe, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân hai nước.

KHÔNG PHẢI HÀ NỘI “CHƯA TRỞ MÌNH”, MÀ ĐANG VỮNG VÀNG VƯƠN MÌNH

 

Trên trang Vietnamthoibao, bút danh Dân Trần có bài viết Hà Nội cứ mưa là ngập: Chưa thể trở mình, đừng mong vươn mình”. Đây là bài viết theo kiểu “đổi trắng thay đen” hết sức nguy hại. Bài viết gắn mác “ý kiến xây dựng”, nhưng thực chất lại mang ý đồ kích động, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, công kích chính quyền Thủ đô và cho rằng “một xã hội muốn phát triển không thể dựa vào ý chí lãnh đạo, mà phải dựa vào sức ép của dân chúng”. Nghe qua tưởng như “dân chủ tiến bộ”, nhưng thực ra là một chiêu trò cũ: Tách dân ra khỏi Đảng, tách chính quyền khỏi nhân dân, nhằm làm suy yếu niềm tin – điều mà kẻ xấu luôn mong muốn.

1. Ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam không tách rời ý chí của Nhân dân, mà chính là sự kết tinh cao nhất của trí tuệ, nguyện vọng và sức mạnh Nhân dân.

Từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, chính sự lãnh đạo sáng suốt, thống nhất của Đảng đã quy tụ, tổ chức và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, biến khát vọng độc lập, tự do thành hiện thực. Nếu chỉ dựa vào “sức ép của dân chúng”, liệu dân tộc Việt Nam có thể làm nên những kỳ tích như chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại thắng mùa Xuân 1975 hay công cuộc Đổi mới năm 1986 hay không. Vậy nên, việc cố tình đối lập “ý chí lãnh đạo” với “sức mạnh nhân dân” chẳng khác nào bẻ cong sự thật, xuyên tạc bản chất của chế độ “của dân, do dân, vì dân”, nơi nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể tham gia vào mọi công việc của đất nước thông qua hệ thống dân chủ, từ Quốc hội đến hội đồng nhân dân, từ giám sát đến phản biện xã hội.

ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM LUÔN CHĂM LO, BẢO VỆ NHÂN DÂN TRONG BÃO LŨ

 

Những ngày qua, khi các cơn bão liên tiếp đổ bộ vào nước ta gây nên những thiệt hại to lớn về người và của. Bên cạnh sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước và địa phương trong việc ứng phó nhằm giảm tối đa thiệt hại về người và của thì trên không gian mạng lại có những tiếng nói lạc lõng, xuyên tạc rằng: “Bão mạnh, nhà nát, dân khổ, quan lớn vẫn vươn mình” của Dân Trần đăng trên vietnamthoibao. Trong bài viết, Dân Trần đã cố tình phủ nhận nỗ lực của Đảng, Nhà nước, các cấp, ngành trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, chia rẽ đoàn kết, gây mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các địa phương.

1. Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã chủ động lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống bão lũ, khắc phục hậu quả thiên tai, giúp đỡ nhân dân ổn định cuộc sống.

Với việc viện dẫn những con số thiệt hại về người và của của người dân sau mỗi đợt thiên tai, bão lũ, Dân Trần cho rằng “Bão nhiều, dân khổ, đúng ra các xếp phải tham mưu, thúc đẩy các chính sách có lợi, nhưng không, dân vẫn phải gồng mình”. Đây là luận điệu vô căn cứ, “bóp méo sự thật”. Bởi, Đảng ta luôn xác định công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hộị, coi đó là nhiệm vụ “chiến đấu” trong thời bình. Với phương châm “chủ động phòng ngừa là chính”, “phòng còn hơn chống”, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và có nhiều chủ trương, biện pháp chủ động phòng, chống thiên tai từ sớm, từ xa, nhằm hạn chế, giảm thiểu thấp nhất thiệt hại.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA TRUNG ĐIỀN

 

Trên trang “viettan”, Trung Điền đăng bài viết “Sự duy ý chí và độc đoán của ông Tô Lâm: Nguy cơ cho tương lai đảng CSVN…”. Bài viết cho rằng: “…Chủ trương tinh gọn từ 63 tỉnh thành xuống còn 34 là một minh chứng điển hình cho sự áp đặt cực đoan này. Đây là quyết định ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống của hàng triệu đảng viên, khi địa phương bị gạt ra ngoài quyền tham gia bàn bạc, không có quyền đề cử và bầu lãnh đạo. Đây là luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, chia rẽ mối quan hệ mật hiết giữa Đảng với Nhân dân. Bởi lẽ:        

1. Chủ trương sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, tinh gọn bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước hiện nay.

 Ngày 12/4/2025, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 60-NQ/TW, trong đó thống nhất về phương án sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập cấp xã, xây dựng mô hình tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có những kết luận quan trọng về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Đây không chỉ là sự thay đổi về địa giới, đây là dấu mốc mở ra một giai đoạn phát triển mới với bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và gần dân hơn, phục vụ Nhân dân tốt hơn.

THÁI HẠO CỐ TÌNH XUYÊN TẠC SỰ THẬT

 

Trên trang Vietnamthoibao, Thái Hạo có bài “Bữa ăn của học sinh: cần giám sát độc lập, minh bạch và có chế tài cá nhân”. Y thông qua việc bữa ăn học đường, ở đâu đó vẫn có những sai phạm nhất định để lèo lái, quy chụp hiện tượng thành bản chất. Từ đó xuyên tạc, bóp méo sự thật về công tác bổ nhiệm cán bộ, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo về công tác cán bộ nói chung và trong ngành giáo dục nói riêng. Luận điệu xuyên tạc, sai trái này cần phải được đấu tranh bác bỏ. Bởi lẽ:

1. Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam dù là trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc hay trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Công tác cán bộ được Đảng xác định là khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đảng đã ban hành rất nhiều các chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đã gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ được giao, được thực hiện liên tục, xuyên suốt, nhiều chiều, theo những tiêu chí và bằng các sản phẩm cụ thể. Đặc biệt, công tác kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức chạy quyền đã được nêu rõ trong Quy định 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị “về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Từ Quy định này, các cấp ủy đã cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm tình hình từng địa phương, đơn vị song vẫn đảm bảo quy trình chặt chẽ theo 5 bước, đảm bảo khách quan, công tâm, công khai, minh bạch. Công tác tạo nguồn cán bộ đã được thực hiện từ rất sớm và theo những lộ trình bài bản, khả thi.

VIỆT NAM THỰC HIỆN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA KHÔNG CẦN ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG

 

Trên trang mạng “Thongluan-rpd” đã đăng tải bài viết: “Dân chủ đa nguyên; nền tảng tư tưởng cho kỷ nguyên dân chủ” với nhiều luận điệu hết sức phản động, cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Tuy nhiên, lý luận và thực tiễn sinh động ở Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu trên, bởi lẽ:

Thứ nhất, đa nguyên, đa đảng không phải là yếu tố quyết định dẫn tới có dân chủ và phát triển.

Dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi có nhà nước. Mỗi nền dân chủ đều gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Nó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử. C.Mác đã khẳng định: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”[1]. Mỗi nước có những đặc thù và trình độ phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử… khác nhau, do đó có nền dân chủ khác nhau. Chính những yếu tố đó quy định dân chủ chứ không phải là cơ chế đa nguyên, đa đảng hay một đảng quy định. Quan điểm cho rằng, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì có dân chủ; nhất nguyên chính trị, một đảng duy nhất lãnh đạo thì mất dân chủ thực chất là một trò lừa bịp nhằm cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam. Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng minh rằng, có những nước đa đảng nhưng vẫn thuộc loại nghèo nhất trên thế giới. Trái lại, cũng có những nước chỉ một đảng lãnh đạo nhưng vẫn là nước rất phát triển, nhân dân có  mức sống cao. Điều đó có nghĩa là đa nguyên, đa đảng không phải là yếu tố quyết định dẫn tới có dân chủ và phát triển.

SUY DIỄN PHIẾN DIỆN, CHỦ QUAN CỦA ĐẶNG ĐÌNH MẠNH VỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

Trên trang mạng của tổ chức khủng bố Việt Tân, đối tượng Đặng Đình Mạnh có bài viết với tiêu đề “Tại sao CSVN lọt vào được Hội đồng Nhân quyền LHQ?”. Với giọng điệu hằn học, lập luận rời rạc, phiến diện, Y đã cố tình bóp méo sự thật, phủ nhận những thành tựu to lớn của Việt Nam trong công tác bảo đảm quyền con người, đồng thời tìm cách hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây không phải là một bài phân tích khách quan mà là một sản phẩm tuyên truyền độc hại, nằm trong chuỗi âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động. Cần phải vạch trần và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu nguy hiểm này.

1. Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền – kết quả của uy tín quốc tế, không phải “mặc cả chính trị”.

Đặng Đình Mạnh cho rằng Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền là “do cơ chế bất toàn” và “toan tính thực dụng” giữa các quốc gia, không phải nhờ thành tựu nhân quyền. Đây là luận điểm hoàn toàn vô căn cứ.

Thực tế, để trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam phải trải qua quá trình vận động, đối thoại và cam kết quốc tế chặt chẽ, trên cơ sở hồ sơ nhân quyền đã được cộng đồng quốc tế thẩm định qua nhiều kênh. Việt Nam đã tham gia 7/9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người; định kỳ nộp và bảo vệ báo cáo quốc gia theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) với tinh thần nghiêm túc, cầu thị. Triển khai đồng bộ chính sách phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo đảm quyền con người, đưa hàng chục triệu người thoát nghèo, nâng chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2023 lên mức 0,703, thuộc nhóm trung bình cao của thế giới (UNDP). Duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, bảo hiểm y tế toàn dân trên 92%, mở rộng quyền tiếp cận thông tin, Internet (tỷ lệ sử dụng Internet đạt trên 78%).

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM KÊU GỌI VIỆT NAM TỪ BỎ “NGOẠI GIAO CÂY TRE”

 

Trên trang BBC News, bài viết “Việt Nam với ‘ngoại giao thức thời’: từ hình tượng cây tre đến chiến lược quốc gia” đã đưa ra những lập luận kêu gọi Việt Nam từ bỏ chính sách “ngoại giao cây tre”, thay vào đó là “ngoại giao thức thời” dựa trên “ngũ tri cổ điển” và “kiến tạo luật chơi”. Đây là cách lập luận chứa đựng sự ngộ nhận nghiêm trọng, bỏ qua bản chất, giá trị và thành công của đường lối đối ngoại Việt Nam.

1. Trước hết, cần nói ngay rằng, khái niệm “ngũ tri cổ điển” không phản ánh đầy đủ bản chất và chiều sâu của “ngoại giao cây tre”. Ngoại giao cây tre không đơn thuần là khéo léo trong ứng xử, biết tiến, biết lùi theo thời thế; đó là sự kết hợp giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt sách lược – vừa mềm dẻo để thích ứng, vừa kiên cường để giữ vững độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia. Đây là sự chủ động, nhất quán và dài hạn, chứ không phải ứng xử “thức thời” theo biến động ngắn hạn. Nói cách khác, “ngoại giao cây tre” không chỉ biết thời – thế mà còn chủ động định vị, chọn lựa và kết hợp các thời – thế đó theo cách có lợi nhất cho đất nước, không để bị cuốn theo áp lực của bất kỳ thế lực nào. Việc giản lược đường lối ngoại giao Việt Nam vào vài yếu tố của “ngũ tri” chẳng khác nào cắt xén, bóp méo thực tế để phục vụ một luận điểm định trước.

Nguy hiểm hơn, luận điệu “kiến tạo luật chơi” mà tác giả bài viết đưa ra – với hàm ý “chủ động hiện diện để định hình luật chơi” và “dám định vị mình như một trong những chủ thể của luật chơi” – không hề vô tư. Đây là một “mồi câu chính trị” được bọc trong vỏ bọc ngôn từ hấp dẫn, nhằm khéo léo dẫn dắt dư luận tới chỗ chấp nhận rằng Việt Nam nên từ bỏ thế cân bằng chiến lược vốn là cốt lõi của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ. Một khi bước qua ranh giới này, Việt Nam sẽ mất đi lợi thế lớn nhất của mình về quyền tự quyết chiến lược, tự biến mình thành công cụ hoặc “tiền tuyến” phục vụ lợi ích của cường quốc. Đó không phải là “kiến tạo luật chơi”, mà là chấp nhận trở thành quân cờ trong ván cờ của kẻ khác. Lịch sử đã chứng minh, chính sách cân bằng không phải là né tránh, càng không phải là bị động; đó là lựa chọn chiến lược để tối đa hóa lợi ích, giảm thiểu rủi ro và bảo vệ không gian tự quyết trong một môi trường quốc tế đầy biến động; những quốc gia mất thế cân bằng thường phải trả giá đắt, khi chính sách đối ngoại bị chi phối bởi lợi ích bên ngoài.

2. Cây tre trong tư tưởng đối ngoại Việt Nam không phải là một cá thể đơn lẻ, mà là một phần của “rừng tre” – tức là sự gắn kết giữa ngoại giao song phương, đa phương, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, cùng sự đồng thuận và ủng hộ của nhân dân. “Gốc” của cây tre chính là lợi ích quốc gia – dân tộc, nền tảng chính trị – xã hội ổn định và niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Khi “gốc” vững, cây tre sẽ không ngừng vươn cao, đón gió và đón ánh sáng từ nhiều phía. Không thể có chuyện “trật gốc” bởi “cơn sóng thần của địa – chính trị” như những kẻ luôn tìm cách chống phá sự ổn định, phát triển của đất nước đang cố tình tô vẽ.

SỰ THẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU CỦA LÊ PHƯƠNG UYÊN

 

Mới đây trong bài viết của Lê Phương Uyên trên trang baoquocdan cho rằng, tham nhũng ở Việt Nam mang tính “thể chế” và chiến dịch “đốt lò” chỉ dừng ở phần ngọn, thiếu minh bạch. Đây là lập luận phiến diện, chưa phản ánh toàn diện thực tế và không đúng với thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam.

Thứ nhất, hệ thống chính trị Việt Nam đã chứng minh khả năng tự thanh lọc. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII (2021–2026), nhiều cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật; hàng chục người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong đó có nhiều lãnh đạo chủ chốt. Năm 2022, ông Nguyễn Thanh Long (Bộ trưởng Y tế) và ông Chu Ngọc Anh (Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ) bị khởi tố trong đại án Việt Á. Năm 2023, bà Trương Mỹ Lan – Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát – bị bắt và xét xử với cáo buộc lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng, được coi là vụ án kinh tế lớn nhất trong lịch sử tố tụng Việt Nam. Những ví dụ này cho thấy hệ thống không “bất lực” trước tham nhũng, trái lại còn đủ khả năng xử lý các vụ việc cực kỳ nghiêm trọng.

Thứ hai, Việt Nam đã triển khai nhiều cải cách pháp lý nhằm thu hẹp “đất sống” cho tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 mở rộng phạm vi sang cả khu vực tư nhân; Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) bổ sung nhiều tội danh liên quan đến lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Luật Đấu thầu 2023 tăng cường minh bạch trong mua sắm công. Đồng thời, chương trình chuyển đổi số quốc gia, cổng dịch vụ công trực tuyến và cơ chế “một cửa điện tử” đã giảm đáng kể tình trạng “xin – cho”, vốn là môi trường thuận lợi cho tham nhũng vặt. Đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy tham nhũng không phải “cấu trúc thể chế bất biến” mà đang bị từng bước kiềm chế.

Thứ ba, bản thân việc phanh phui các đại án tham nhũng trong những năm gần đây đã bác bỏ luận điểm “tham nhũng thể chế”. Nếu tham nhũng thực sự là một phần cố hữu, toàn diện của hệ thống, thì không thể có chuyện hàng loạt quan chức cấp cao và các tập đoàn lớn bị xử lý. Ngược lại, chính nhờ cơ chế giám sát nội bộ, thanh tra, kiểm toán và cơ quan điều tra mà những đại án này bị đưa ra ánh sáng.

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM KÊU GỌI VIỆT NAM TỪ BỎ “NGOẠI GIAO CÂY TRE”

 

Trên trang BBC News, bài viết “Việt Nam với ‘ngoại giao thức thời’: từ hình tượng cây tre đến chiến lược quốc gia” đã đưa ra những lập luận kêu gọi Việt Nam từ bỏ chính sách “ngoại giao cây tre”, thay vào đó là “ngoại giao thức thời” dựa trên “ngũ tri cổ điển” và “kiến tạo luật chơi”. Đây là cách lập luận chứa đựng sự ngộ nhận nghiêm trọng, bỏ qua bản chất, giá trị và thành công của đường lối đối ngoại Việt Nam.

1. Trước hết, cần nói ngay rằng, khái niệm “ngũ tri cổ điển” không phản ánh đầy đủ bản chất và chiều sâu của “ngoại giao cây tre”. Ngoại giao cây tre không đơn thuần là khéo léo trong ứng xử, biết tiến, biết lùi theo thời thế; đó là sự kết hợp giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt sách lược – vừa mềm dẻo để thích ứng, vừa kiên cường để giữ vững độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia. Đây là sự chủ động, nhất quán và dài hạn, chứ không phải ứng xử “thức thời” theo biến động ngắn hạn. Nói cách khác, “ngoại giao cây tre” không chỉ biết thời – thế mà còn chủ động định vị, chọn lựa và kết hợp các thời – thế đó theo cách có lợi nhất cho đất nước, không để bị cuốn theo áp lực của bất kỳ thế lực nào. Việc giản lược đường lối ngoại giao Việt Nam vào vài yếu tố của “ngũ tri” chẳng khác nào cắt xén, bóp méo thực tế để phục vụ một luận điểm định trước.

Nguy hiểm hơn, luận điệu “kiến tạo luật chơi” mà tác giả bài viết đưa ra – với hàm ý “chủ động hiện diện để định hình luật chơi” và “dám định vị mình như một trong những chủ thể của luật chơi” – không hề vô tư. Đây là một “mồi câu chính trị” được bọc trong vỏ bọc ngôn từ hấp dẫn, nhằm khéo léo dẫn dắt dư luận tới chỗ chấp nhận rằng Việt Nam nên từ bỏ thế cân bằng chiến lược vốn là cốt lõi của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ. Một khi bước qua ranh giới này, Việt Nam sẽ mất đi lợi thế lớn nhất của mình về quyền tự quyết chiến lược, tự biến mình thành công cụ hoặc “tiền tuyến” phục vụ lợi ích của cường quốc. Đó không phải là “kiến tạo luật chơi”, mà là chấp nhận trở thành quân cờ trong ván cờ của kẻ khác. Lịch sử đã chứng minh, chính sách cân bằng không phải là né tránh, càng không phải là bị động; đó là lựa chọn chiến lược để tối đa hóa lợi ích, giảm thiểu rủi ro và bảo vệ không gian tự quyết trong một môi trường quốc tế đầy biến động; những quốc gia mất thế cân bằng thường phải trả giá đắt, khi chính sách đối ngoại bị chi phối bởi lợi ích bên ngoài.

2. Cây tre trong tư tưởng đối ngoại Việt Nam không phải là một cá thể đơn lẻ, mà là một phần của “rừng tre” – tức là sự gắn kết giữa ngoại giao song phương, đa phương, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, cùng sự đồng thuận và ủng hộ của nhân dân. “Gốc” của cây tre chính là lợi ích quốc gia – dân tộc, nền tảng chính trị – xã hội ổn định và niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Khi “gốc” vững, cây tre sẽ không ngừng vươn cao, đón gió và đón ánh sáng từ nhiều phía. Không thể có chuyện “trật gốc” bởi “cơn sóng thần của địa – chính trị” như những kẻ luôn tìm cách chống phá sự ổn định, phát triển của đất nước đang cố tình tô vẽ.

SỰ THẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU CỦA LÊ PHƯƠNG UYÊN

 

Mới đây trong bài viết của Lê Phương Uyên trên trang baoquocdan cho rằng, tham nhũng ở Việt Nam mang tính “thể chế” và chiến dịch “đốt lò” chỉ dừng ở phần ngọn, thiếu minh bạch. Đây là lập luận phiến diện, chưa phản ánh toàn diện thực tế và không đúng với thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam.

Thứ nhất, hệ thống chính trị Việt Nam đã chứng minh khả năng tự thanh lọc. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII (2021–2026), nhiều cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật; hàng chục người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong đó có nhiều lãnh đạo chủ chốt. Năm 2022, ông Nguyễn Thanh Long (Bộ trưởng Y tế) và ông Chu Ngọc Anh (Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ) bị khởi tố trong đại án Việt Á. Năm 2023, bà Trương Mỹ Lan – Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát – bị bắt và xét xử với cáo buộc lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng, được coi là vụ án kinh tế lớn nhất trong lịch sử tố tụng Việt Nam. Những ví dụ này cho thấy hệ thống không “bất lực” trước tham nhũng, trái lại còn đủ khả năng xử lý các vụ việc cực kỳ nghiêm trọng.

Thứ hai, Việt Nam đã triển khai nhiều cải cách pháp lý nhằm thu hẹp “đất sống” cho tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 mở rộng phạm vi sang cả khu vực tư nhân; Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) bổ sung nhiều tội danh liên quan đến lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Luật Đấu thầu 2023 tăng cường minh bạch trong mua sắm công. Đồng thời, chương trình chuyển đổi số quốc gia, cổng dịch vụ công trực tuyến và cơ chế “một cửa điện tử” đã giảm đáng kể tình trạng “xin – cho”, vốn là môi trường thuận lợi cho tham nhũng vặt. Đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy tham nhũng không phải “cấu trúc thể chế bất biến” mà đang bị từng bước kiềm chế.

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ TƯƠNG LAI TƯƠI SÁNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Những ngày gần đây trên Trang “Doithoaionline” có đăng tải bài viết “80 năm đấu tranh chống cs của dân tộc vn”, với những luận điệu xuyên tạc rằng: “Trong 80 năm tồn tại của chế độ này, dân tộc Việt Nam chúng ta đã phải gánh chịu biết bao khổ nạn, đau thương, chết chóc chỉ vì những toan tính cá nhân, những tham vọng quyền lực độc đoán của những kẻ chóp bu đứng đầu chế độ từ Hồ Chí Minh cho tới Tô Lâm”. Luận điệu này không chỉ sai trái mà còn thể hiện sự thiếu hiểu biết, xuyên tạc lịch sử và thực tiễn phát triển của dân tộc Việt Nam, vì:

Một là, vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam là không thể phủ nhận.

Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh đất nước bị áp bức bởi thực dân và phong kiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng những người sáng lập Đảng đã không ngừng đấu tranh vì độc lập dân tộc và quyền sống của nhân dân. Nhờ có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập vào năm 1945, chấm dứt chính sách đô hộ của Thực dân Pháp hơn 80 năm.

Trong quá trình đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước, nhân dân ta đã phải chịu nhiều đau thương, mất mát. Những đau thương, mất mát ấy không phải do những “tham vọng quyền lực” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà là hệ quả của cuộc đấu tranh chống lại ách xâm lược của bọn thực dân, đế quốc, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.