
Trên trang “Baotiengdan”, Ngô Huy Cương đã đăng tải bài viết “Tại sao luật học ở Việt Nam không phát triển được? Với nội dung cho rằng: “Nước ta thay đổi liên tục các kiểu loại pháp luật theo những truyền thống pháp luật khác nhau; kể từ khi Liên Xô sụp đổ và ta bắt tay vào xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, thì hệ thống pháp luật của ta lại càng pha tạp nhiều hơn”. Đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp giá trị hệ thống pháp luật và phủ nhận con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, do đó, cần phải được đấu tranh bác bỏ.
Một là, hệ thống pháp luật Việt Nam kế thừa, phát triển và có định hướng rõ ràng.
Sau Ngày độc lập (2/9/1945), Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Hiến pháp 1946, bản hiến pháp đầu tiên phản ánh bản chất dân chủ, tiến bộ, đề cao quyền làm chủ của nhân dân. Trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, sự vận động phát triển của thế giới, khu vực và đất nước các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013 lần lượt ra đời. Mặc dù nội dung của các bản Hiến pháp có điều chỉnh, bổ sung, phát triển nhưng xuyên suốt là vì mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó chứng minh tính kế thừa, ổn định và định hướng nhất quán, chứ không hề “thay đổi vô nguyên tắc”.
Hơn nữa, trong khoa học pháp lý, có ba truyền thống lớn: Dân luật (civil law) ở châu Âu lục địa, thông luật (common law) ở Anh – Mỹ và pháp luật xã hội chủ nghĩa từng phổ biến ở các nước Đông Âu, Liên Xô. Trên thực tế, không một quốc gia nào giữ hệ thống pháp luật “thuần khiết”, mà đều tiếp thu yếu tố tiến bộ của nhau. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, thậm chí cả Trung Quốc đều kế thừa chọn lọc civil law và common law để phát triển luật pháp phù hợp với mình. Như vậy, việc tham khảo mô hình pháp luật quốc tế là quy luật – yêu cầu khách quan, không thể coi là “hỗn tạp”.
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Việc ban hành các bộ luật dân sự, thương mại, hình sự, tố tụng hay doanh nghiệp .. đều cho thấy sự tiếp thu kinh nghiệm quốc tế nhưng luôn đặt trong khuôn khổ Hiến pháp, đường lối của Đảng và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là “nội luật hóa” có chọn lọc, vừa phù hợp chuẩn mực chung, vừa bảo vệ lợi ích dân tộc. Nói cách khác, tính đa dạng về nguồn tham khảo không phải sự “pha tạp” mà chính là minh chứng cho sự hiện đại, hội nhập và tiến bộ.
Hai là, quy trình lập pháp, sửa đổi luật ở Việt Nam bảo đảm khoa học, minh bạch, khắc phục hạn chế, phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước.
Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, mỗi đạo luật đều trải qua quy trình chặt chẽ: soạn thảo, lấy ý kiến rộng rãi, thẩm định, thẩm tra, thảo luận tại Quốc hội và được biểu quyết thông qua. Đặc biệt, luật được công khai để người dân, chuyên gia, nhà khoa học góp ý. Sau khi ban hành, luật còn được giám sát thực hiện và sửa đổi khi thực tiễn đặt ra yêu cầu. Đây là biểu hiện của sự cầu thị, hoàn thiện, chứ không phải “ban hành theo phong trào”.
Thực tế, nhiều luật quan trọng đã được sửa đổi kịp thời để phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, như Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đất đai… Mỗi lần sửa đổi đều nhằm khắc phục bất cập, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đồng thời tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Nếu pháp luật chỉ “đóng khung”, sẽ không thể tạo ra khuôn khổ pháp lý phù hợp, giúp Việt Nam duy trì tăng trưởng kinh tế, kiểm soát dịch bệnh, mở rộng hội nhập và bảo đảm ổn định chính trị, xã hội như hiện nay.
Như vậy, Ngô Huy Cương đã xuyên tạc hệ thống pháp luật Việt Nam, nhằm phủ nhận bản chất xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thành tựu đổi mới của đất nước. Thực tế cho thấy, pháp luật nước ta đã chủ động tiếp thu tinh hoa nhân loại, liên tục phát triển nhưng luôn giữ vững bản sắc và định hướng xã hội chủ nghĩa; được ban hành và hoàn thiện theo quy trình dân chủ, minh bạch. Đó là cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế, bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân, nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét