Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG: SỰ LỰA CHỌN CỦA LỊCH SỬ VÀ NHÂN DÂN

 

Trong bài viết “Muốn giải phóng sức dân; hãy bỏ Điều 4 Hiến pháp, từ bỏ độc Đảng để xây dựng Việt Nam dân chủ, hùng cường”, Bùi Thị Trang đã cố tình suy diễn, xuyên tạc, kêu gọi từ bỏ Điều 4 Hiến pháp nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ nội bộ, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ. Việc đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái này là cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

1. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – sự lựa chọn của lịch sử và Nhân dân

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930, là Đảng của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Dù xuất hiện trong bối cảnh có nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau, nhưng ngay từ khi thành lập, Đảng đã nhanh chóng khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng, được các giai tầng xã hội thừa nhận và ủng hộ.

Sở dĩ như vậy vì Đảng đã sớm giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đáp ứng đúng yêu cầu cấp bách của lịch sử và khát vọng cháy bỏng của Nhân dân. Với Cương lĩnh chính trị đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam được xác định rõ ràng, khoa học, phù hợp thực tiễn. Đảng không chỉ có đường lối đúng đắn mà còn có phương pháp tổ chức, vận động quần chúng linh hoạt, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, giàu tinh thần hy sinh, tận trung với nước, tận hiếu với dân.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tiếp đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Những thành tựu vĩ đại đó là minh chứng sinh động cho bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng.

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC CỦA TÔ VĂN TRƯỜNG

 

Trên trang Boxitvn, Tô Văn Trường đăng bài viết “Thành tích ảo và hệ lụy quốc gia” với những nhận định phiến diện, quy chụp rằng Việt Nam đang mắc “bệnh thành tích trầm kha”, rằng các thành quả phát triển chỉ là “thiết kế”, “tô vẽ” và đất nước “yếu từ bên trong”. Cách lập luận này không chỉ đơn giản là một ý kiến phản biện, mà là sự đánh tráo bản chất vấn đề, phủ nhận thực tiễn khách quan, gieo rắc hoài nghi đối với thành tựu phát triển và vai trò lãnh đạo của Đảng. Trước những luận điệu ấy, cần nhìn nhận thẳng thắn, lý giải rõ ràng và phản bác trên cơ sở lý luận, thực tiễn và lợi ích quốc gia – dân tộc.

Thứ nhất, đánh tráo khái niệm để quy kết bản chất là thủ pháp ngụy biện không thể che đậy của Tô Văn Trường.

Không ai phủ nhận trong quá trình phát triển vẫn tồn tại hạn chế, thậm chí có biểu hiện “bệnh thành tích” ở một số nơi, một số cá nhân. Song, cố tình đồng nhất hiện tượng cá biệt với bản chất của cả hệ thống là một sự quy chụp thiếu thiện chí. Trong các văn kiện qua nhiều kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thẳng thắn chỉ rõ khuyết điểm, nhận diện nguy cơ suy thoái, trong đó có “bệnh thành tích”, và kiên quyết chấn chỉnh. Một tổ chức nếu chỉ biết tô hồng sẽ không bao giờ công khai những yếu kém của mình trước toàn dân.

Thực tiễn gần bốn thập niên đổi mới là minh chứng sinh động nhất bác bỏ luận điệu “thành tích ảo”. Từ một quốc gia chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, từng bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thuộc nhóm 40 thế giới về quy mô GDP và nhóm 20 về thương mại. Những tuyến cao tốc Bắc – Nam, những cây cầu vượt biển, những khu công nghiệp, đô thị hiện đại, hay sự đổi thay sâu sắc ở nông thôn mới… không phải là sản phẩm của báo cáo giấy. Không một bản “thiết kế thành tích” nào có thể tạo ra hàng triệu việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho hơn 100 triệu người dân. Phủ nhận những chuyển biến ấy là phủ nhận chính những gì đang hiện hữu trước mắt.

Thứ hai, các chỉ số phát triển được quốc tế thừa nhận là minh chứng khách quan mà Tô Văn Trường không thể xuyên tạc.

Một quốc gia “yếu từ bên trong” không thể duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thế giới đầy biến động. Giai đoạn 2021–2025, bất chấp tác động của đại dịch và bất ổn địa chính trị toàn cầu, Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6-6,5%/năm, thuộc nhóm cao trong khu vực. Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 700 tỷ USD, phản ánh năng lực sản xuất – thương mại thực chất chứ không phải con số tô vẽ. Các tổ chức quốc tế như World Bank, International Monetary Fund và Asian Development Bank đều có cơ chế thẩm định độc lập, dựa trên hệ thống dữ liệu và chuẩn mực toàn cầu. Những báo cáo đánh giá tích cực về ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam không phải sản phẩm của ý chí chủ quan trong nước.

GIÁ TRỊ KHOA HỌC VÀ SỨC SỐNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG THỰC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Trên trang Thongluan, Nguyễn Gia Kiểng đăng bài viết “Thêm một dịp để nhìn lại chế độ cộng sản” nhằm xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là sản phẩm của sự nông cạn, thiển cận, bạo lực và để lại hậu quả to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động cần phê phán, bác bỏ:

Một là, chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống lý luận khoa học, không phải là sản phẩm của sự nông cạn, thiển cận.

Chủ nghĩa Mác – Lênin là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, sâu sắc và toàn diện về xã hội loài người. C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa có chọn lọc những thành tựu trí tuệ của nhân loại, bao gồm triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Trên cơ sở đó, các ông đã xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, qua đó giải thích một cách khoa học về quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Chủ nghĩa Mác không phải là sản phẩm của sự tưởng tượng chủ quan, mà là kết quả của việc phân tích sâu sắc thực tiễn xã hội tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. C.Mác đã chỉ ra quy luật vận động tất yếu của xã hội loài người từ hình thái kinh tế – xã hội thấp đến cao, và khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là kết quả của quá trình phát triển lịch sử khách quan.

TỰ DO NGÔN LUẬN KHÔNG PHẢI LÀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM

 

Trên Bloger của Anhemdanchu, Phạm Minh Hạnh có bài viết: “Không tồn tại “giới hạn pháp luật” đối với quyền tự do ngôn luận”, cho rằng nhà cầm quyền độc tài cộng sản Việt Nam thường sử dụng các điều 117 và điều 331 Bộ luật Hình sự để bỏ tù người dân, nhà báo độc lập, nhà hoạt động xã hội khi họ thực hiện quyền tự do ngôn luận. Thực tế, Phạm Minh Hạnh đang cố tình không hiểu, vu cáo, xuyên tạc điều 117, điều 331 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và tự do ngôn luận ở Việt Nam.

          Thứ nhất, cần khẳng định rằng quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong nhiều văn bản luật quốc tế. Điều 29 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

          Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, nếu xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo đảm, cho phép tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và truyền đạt thông tin, quan điểm qua lời nói, văn bản, hoặc mạng xã hội. Tuy nhiên, quyền này phải thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không được xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, hoặc lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Theo đó, có thể hiểu Hiến pháp quy định “quyền tự do ngôn luận” của mọi công dân là quyền được tự do trong giới hạn mà pháp luật quy định, phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tự do ngôn luận khác với việc tùy tiện vu khống, bôi nhọ, xâm hại đến cá nhân, tổ chức. 

VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ SỰ THẬT VỀ NHỮNG LUẬN ĐIỆU BÔI NHỌ

 

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị học tập, nghiên cứu, quán triệt và triển khai Nghị quyết số 79 và Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị không chỉ là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương lớn của Đảng, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh và quyết tâm chính trị cao trong lãnh đạo phát triển đất nước. Tuy nhiên, một số đối tượng đã cố tình xuyên tạc, bóp méo nội dung bài viết, đặc biệt liên quan đến Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành và vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát triển kinh tế. Những luận điệu này cần được nhận diện và phản bác như sau:

1. Ý nghĩa chiến lược của Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành

Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành là công trình trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Đây không đơn thuần là một dự án giao thông, mà là động lực tăng trưởng mới, tạo sức lan tỏa lớn đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước.

Về mặt kinh tế, sân bay Long Thành được kỳ vọng trở thành trung tâm trung chuyển hàng không quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại, du lịch và dịch vụ logistics. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hạ tầng hàng không hiện đại là điều kiện thiết yếu để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Về mặt quy hoạch phát triển dài hạn, sân bay Long Thành góp phần giải quyết tình trạng quá tải của Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, đồng thời tạo dư địa phát triển không gian kinh tế mới, thúc đẩy đô thị hóa bền vững, tái cấu trúc kinh tế vùng theo hướng hiện đại, hiệu quả.

Về quốc phòng – an ninh, một cảng hàng không quốc tế quy mô lớn, hiện đại như sân bay Long Thành có khả năng phục vụ linh hoạt cả mục đích dân sự và các yêu cầu quốc phòng khi cần thiết. Trong các tình huống khẩn cấp như thiên tai, thảm họa hoặc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, hệ thống hạ tầng đồng bộ của sân bay sẽ hỗ trợ hiệu quả cho việc cơ động lực lượng, trang thiết bị, bảo đảm hậu cần – kỹ thuật cho các hoạt động quốc phòng.

CON NGƯỜI VIỆT NAM: BẢN LĨNH, NHÂN VĂN VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN

 

Trên trang Baotiengdan, Phạm Hồng Lam đăng bài viết “Nhận diện con người Việt Nam”. Bài viết chứa đựng những luận điệu xuyên tạc, hạ thấp giá trị văn hóa và con người Việt Nam trên trường quốc tế, cần phải phê phán, bác bỏ.

Thứ nhất, Phạm Hồng Lam cho rằng dân tộc Việt Nam “chạy trốn, hời hợt, không định hướng” đây là luận điệu cố tình phủ nhận lịch sử hào hùng và thành tựu phát triển của dân tộc Việt Nam.

Nếu nói Việt Nam là một dân tộc “chạy trốn, hời hợt” là điều phi lý, không có cơ sở khoa học, vì hiếm có dân tộc nào trên thế giới như dân tộc Việt Nam, lịch sử dựng nước lại đồng hành với lịch sử giữ nước. Từ buổi đầu dựng nước cho đến ngày nay, các thế hệ người Việt Nam nối tiếp nhau phải thường xuyên cầm vũ khí chống trả các thế lực xâm lược, bảo vệ non sông, nòi giống và bản sắc của mình. Cũng hiếm có dân tộc nào mà sự nghiệp giữ nước lại thường xuyên gặp phải tình thế cam go như dân tộc Việt Nam: kẻ thù xâm lược luôn lớn mạnh hơn mình nhiều lần. Nhưng cuối cùng, chiến thắng luôn thuộc về Việt Nam, đất nước ta, dân tộc ta vẫn tồn tại và phát triển. Đó không phải là “chạy chốn, hời hợt” mà đó là tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, nghệ thuật đánh giặc đặc sắc và tính nhân văn cao cả trong dựng nước và giữ nước; từ một nước nghèo nàn lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây cấm vận đã thực hiện thành công công cuộc đổi mới và trở thành một trong những nền kinh tế năng động nhất khu vực.  

Thứ hailuận điệu người Việt “tự ti, vọng ngoại, thiếu cái tôi bản lĩnh, đầu óc nô lệ” và tất cả dồn lại trong tiếng “xin” của Phạm Hồng Lam tung hô là sự xuyên tạc.

Trong văn hóa người Việt Nam, từ “xin” không phải biểu hiện của tâm thế thấp kém, mà là dấu hiệu của truyền thống trọng lễ nghĩa, coi trọng sự tôn trọng và hài hòa trong quan hệ cộng đồng. Từ “xin” thường đi cùng “cảm ơn”, thể hiện cầu thị, khiêm tốn, là nét văn hóa và ý thức về giới hạn cá nhân – điều mà nhiều nền văn hóa hiện đại cũng đề cao. Khiêm nhường không đồng nghĩa với tự ti; lịch sự không đồng nghĩa với nô lệ. Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập, việc học hỏi tinh hoa thế giới là thể hiện tinh thần cầu tiến chứ không phải vọng ngoại. mà Phạm Hồng Lam đã cố ý đánh đồng một cách ứng xử mềm mỏng của người Việt với “đầu óc nô lệ” với dụng ý đen tối, không đúng với giá trị văn hóa của người Việt Nam.

Vận dụng triết lý “ngoại giao cây tre” – mềm mại nhưng cứng cỏi, biết mình biết ta. Trong một thế giới đầy biến động “Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” việc giữ vững chủ quyền, là bạn với tất cả các nước, các nền kinh tế trên thế giới nhằm giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước là tư duy chiến lược, đặc sắc, chứ không hề mờ nhạt. Thể hiện văn hóa và bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam.

30/4/1975 – CHIẾN THẮNG CỦA CHÍNH NGHĨA, KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

Trên trang baoquocdan, Nguyên Văn Bài có bài viết “30 tháng 4 – Ngày Quốc Hận, không phải ngày chiến thắng”, cho rằng: “Ngày ấy không phải là ngày giải phóng mà là ngày mất nước, ngày đau thương của dân tộc”. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, phủ nhận bản chất chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Những luận điệu này cần được nhận diện rõ và kiên quyết bác bỏ.

Thứ nhất, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, quy định việc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tiến tới tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam đã phá hoại Hiệp định, từ chối tổng tuyển cử, thực hiện nhiều chính sách đàn áp phong trào cách mạng và những người yêu nước.

SINH THÁI HAY SINH SỰ

 

Trên trang Baotiengdan xuất hiện bài viết “Hệ sinh thái phản biện và độc canh tư tưởng” của bút danh Trần Văn. Nội dung bài viết quy kết rằng ở Việt Nam tồn tại một kiểu “độc canh tư tưởng” nhằm duy trì quyền lực, còn cái gọi là “hệ sinh thái phản biện” chỉ là khẩu hiệu hình thức. Lập luận nghe qua có vẻ học thuật, mượn hình ảnh sinh học để nói chuyện chính trị, nhưng càng đọc kỹ càng thấy sự đánh tráo khái niệm và suy diễn võ đoán của Trần Văn, đó là:

1. “Độc canh tư tưởng” – cách gọi trá hình của sự đơn giản hóa thô thiển

Trần Văn ví Việt Nam như một cánh đồng “độc canh”, nơi chỉ có một loại “cây tư tưởng” được phép tồn tại. Nghe thì kêu, nhưng thử hỏi: chính trị có phải là nông nghiệp để mà so sánh giản đơn như vậy không ? Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo Hiến pháp. Đó là sự lựa chọn của lịch sử và của Nhân dân, được khẳng định qua thực tiễn đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. Việc một quốc gia có một Đảng cầm quyền không đồng nghĩa với “độc canh tư tưởng”. Trong lòng xã hội Việt Nam tồn tại rất nhiều dòng ý kiến, nhiều cách tiếp cận, nhiều tranh luận về chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục, quản trị công… Thậm chí trong nội bộ các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc hoạt động góp ý, phản biện chính sách diễn ra thường xuyên, có tổ chức và có trách nhiệm.

Điều đáng nói ở đây là Trần Văn đã cố tình đồng nhất “đa dạng sinh học” với “đa nguyên chính trị”, rồi từ đó suy diễn rằng chỉ có đa đảng mới bảo đảm phản biện. Đây là một suy luận hết sức cảm tính. Đa dạng trong tư duy, trong tranh luận chính sách không đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Ngược lại, chính trong quá trình lãnh đạo, Đảng đã nhiều lần tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tiếp thu ý kiến Nhân dân để điều chỉnh đường lối cho phù hợp thực tiễn. Nếu là “độc canh” thật sự, liệu có những cuộc cải cách lớn, những thay đổi mạnh mẽ trong quản lý kinh tế, hội nhập quốc tế như thời gian qua?

NHÂN QUYỀN CHÂN CHÍNHKHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI “DÂN CHỦ XUỐNG ĐƯỜNG”

 

Trang Baoquocdan xuất hiện “Tài liệu nhằm xây dựng một Tân Việt Nam tự do, dân chủ”. Tài liệu này núp bóng “nhân quyền” để kêu gọi sinh viên Việt Nam xuống đường biểu tình, coi đó là “phong cách dấn thân”, là biểu hiện của “dân chủ đích thực”… Thoạt nhìn, các lập luận này được phủ lớp ngôn từ mỹ miều về tự do, nhân quyền, xã hội dân sự. Song, về bản chất, đây là luận điệu xuyên tạc có hệ thống, đánh tráo khái niệm nhân quyền, dân chủ, nhằm cổ xúy cho các hành vi vi phạm pháp luật, gây rối trật tự xã hội và từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Nhà nước Việt Nam.

Thứ nhất, đánh tráo khái niệm nhân quyền để kích động hành động cực đoan

Nhân quyền, theo chuẩn mực phổ quát, là tổng hòa các quyền cơ bản của con người được bảo đảm bằng pháp luật, gắn chặt với nghĩa vụ, trách nhiệm và trật tự xã hội. Không một quốc gia nào coi biểu tình trái pháp luật, gây rối an ninh, cản trở sinh hoạt xã hội là biểu hiện cao nhất của nhân quyền. Việc đồng nhất “nhân quyền” với hành vi “xuống đường”, cầm cờ, hô khẩu hiệu là sự giản lược thô thiển và có chủ ý. Thực tế, quyền con người chỉ có ý nghĩa khi được thực thi trong khuôn khổ pháp luật và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Tự do không đồng nghĩa với vô hạn, càng không thể là cái cớ để phá vỡ kỷ cương xã hội. Việc cổ súy cho hành động “xuống đường bằng mọi giá” thực chất là thúc đẩy trạng thái vô chính phủ, đi ngược lại chính những giá trị nhân quyền mà họ nhân danh bảo vệ.

KHÁT VỌNG VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC: TỪ Ý CHÍ ĐẾN HÀNH ĐỘNG THỰC TIỄN

 

Trong thời gian qua, trên trang Baotiengdan, Hồ Phú Bông có bài viết “Đầu năm nói chuyện vươn mình” nhằm phủ nhận, xuyên tạc sự nỗ lực, cố gắng, ý chí quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong xây dựng, phát triển đất nước ổn định, bền vững đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Y cho rằng: Việt Nam còn yếu về nhân lực, yếu về hạ tầng cơ sở, chưa có thương hiệu công nghệ lớn trên toàn cầu thì vươn mình đâu phải dễ như nói. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần phải phê phán.

Một là, Việt Nam không “yếu kém” về nhân lực và hạ tầng như cách nhìn bi quan; trái lại, đang sở hữu nền tảng và động lực đủ mạnh để bứt phá.

Về nguồn nhân lực, Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động trẻ, có trình độ học vấn ngày càng cao và khả năng thích ứng nhanh với khoa học – công nghệ mới. Hệ thống giáo dục đại học, đào tạo nghề và nghiên cứu khoa học từng bước được đổi mới theo hướng gắn với nhu cầu thị trường và chuyển đổi số. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ kỹ sư và chuyên gia công nghệ Việt Nam đã tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp trong nước đủ năng lực nghiên cứu, làm chủ và thương mại hóa công nghệ. Sự phát triển của các tập đoàn như Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) với việc nghiên cứu, thử nghiệm thiết bị 5G; Tập đoàn FPT với mạng lưới cung cấp dịch vụ công nghệ tại nhiều quốc gia; hay VNG Corporation trong lĩnh vực nền tảng số và trò chơi trực tuyến… là minh chứng sinh động cho năng lực sáng tạo của nhân lực Việt Nam. Nếu nhân lực thực sự “yếu”, không thể hình thành những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế như vậy.

Về hạ tầng cơ sở, cần đặt trong tiến trình lịch sử. Từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, đến nay Việt Nam đã xây dựng được hệ thống giao thông, điện, viễn thông, đô thị và hạ tầng số tương đối đồng bộ. Hệ thống cao tốc, cảng biển, sân bay được mở rộng; lưới điện quốc gia phủ rộng; tỷ lệ người dân sử dụng internet và điện thoại thông minh ở mức cao trong khu vực. Hạ tầng số, chính phủ điện tử và chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh, tạo nền tảng cho kinh tế số phát triển.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Bbc đã cho lan truyền bài viết “Chính trường Việt Nam: Tại sao phụ nữ hoàn toàn lép vế?”. Bài viết đưa ra những thông tin sai lệch, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta về phát huy vai trò của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng, cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

1. Luận điệu “phụ nữ hoàn toàn lép vế” – cái nhìn cực đoan, phiến diện

Bài viết cố tình sử dụng cụm từ “ phụ nữ hoàn toàn lép vế” như một định đề xuyên suốt. Họ đã đưa ra luận điệu cho rằng, phụ nữ Việt Nam không có vai trò, không có tiếng nói trong đời sống chính trị; một số phụ nữ tham gia trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương chỉ để “trang trí” cho “đủ chỉ tiêu” về tỉ lệ. Họ đã cố tình đánh đồng cơ chế tổ chức chặt chẽ của Đảng với “thỏa hiệp nội bộ”, cho rằng: Cơ chế “đề cử nội bộ” là rào cản khiến phụ nữ không thể tiến thân, bị chi phối của “mạng lưới nam giới” về chính trị. Cùng với đó, việc dựng lên màn kịch “phỏng vấn” một số cá nhân không hiểu gì về đời sống chính trị, văn hoá – xã hội ở Việt Nam để “khái quát thành xu hướng”, đưa ra đòi hỏi cần “mở rộng tranh cử” và giảm “không gian ảnh hưởng nội bộ”.

Thực chất, đây chỉ là những luận điệu xuyên tạc, vu khống nhằm hạ thấp vai trò và những đóng góp của của phụ nữ đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; sử dụng vấn đề giới như một công cụ tạo sức ép dư luận, tạo tâm lý hoài nghi của một bộ phận cử tri trong việc lựa chọn những đại biểu đủ tài, đức, tâm, tầm, bản lĩnh để tham gia bộ máy chính quyền các cấp. Sâu xa hơn, họ đi đến phủ nhận giá trị nhân đạo, nhân văn, khoa học, cách mạng của chế độ xã hội chủ nghĩa; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó, lôi kéo, dẫn dắt người dân đòi hỏi “mô hình dân chủ” của các nước phương Tây, nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

NHẬN DIỆN VÀ BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM

 

Trong thời gian gần đây, lợi dụng những biến động của thị trường năng lượng thế giới, một số đối tượng, trang mạng thiếu thiện chí đã tung ra nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc về công tác quản lý, điều hành thị trường xăng dầu của Nhà nước Việt Nam. Các luận điệu này cho rằng Chính phủ “bất lực trong bình ổn giá xăng dầu”, hoặc cố tình quy kết rằng việc điều hành giá xăng dầu “thiếu minh bạch, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp”. Những nhận định phiến diện đó không chỉ bóp méo sự thật mà còn bỏ qua toàn bộ nỗ lực của Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Cần phải nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện để thấy rõ sự sai trái của các luận điệu xuyên tạc này.

Thứ nhất, phủ nhận nỗ lực của Chính phủ trong bình ổn giá xăng dầu là luận điệu thiếu căn cứ, cố tình bóp méo thực tiễn.

Xăng dầu là mặt hàng chiến lược, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Giá xăng dầu trong nước chịu tác động mạnh mẽ từ thị trường thế giới, đặc biệt trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu nhiều lần bị gián đoạn, giá dầu thô biến động mạnh. Trong điều kiện đó, việc giữ giá xăng dầu ổn định tuyệt đối là điều không quốc gia nào có thể thực hiện. Vì vậy, nhiệm vụ của Chính phủ không phải là “đóng băng giá”, mà là điều hành linh hoạt để hạn chế tối đa tác động tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống nhân dân.

Thực tế cho thấy, Nhà nước Việt Nam đã triển khai cơ chế điều hành giá xăng dầu theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Giá xăng dầu được điều chỉnh định kỳ dựa trên biến động giá thế giới, qua đó bảo đảm tính minh bạch và phù hợp với thực tiễn thị trường.

Bên cạnh đó, một trong những công cụ quan trọng được sử dụng là Quỹ bình ổn giá xăng dầu. Thông qua quỹ này, Nhà nước có thể chủ động trích lập hoặc chi sử dụng để giảm bớt mức tăng giá khi thị trường thế giới biến động mạnh, qua đó góp phần kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Thực tiễn cho thấy, trong nhiều thời điểm giá dầu thế giới tăng cao, việc sử dụng Quỹ bình ổn đã giúp giảm áp lực tăng giá trong nước, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ còn triển khai nhiều chính sách tài khóa nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí xăng dầu, như điều chỉnh giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, xem xét giảm một số loại thuế, phí liên quan. Những quyết sách này thể hiện rõ nỗ lực của Nhà nước trong việc chia sẻ khó khăn với người dân và doanh nghiệp trước áp lực giá năng lượng tăng cao trên toàn cầu.

Do vậy, việc cho rằng Chính phủ “không có biện pháp bình ổn giá xăng dầu” là một nhận định hoàn toàn sai lệch. Thực chất, đây chỉ là chiêu trò tuyên truyền nhằm kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội, phủ nhận những nỗ lực điều hành của Nhà nước.

NHẬN DIỆN VÀ BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM

 

Trong thời gian gần đây, lợi dụng những biến động của thị trường năng lượng thế giới, một số đối tượng, trang mạng thiếu thiện chí đã tung ra nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc về công tác quản lý, điều hành thị trường xăng dầu của Nhà nước Việt Nam. Các luận điệu này cho rằng Chính phủ “bất lực trong bình ổn giá xăng dầu”, hoặc cố tình quy kết rằng việc điều hành giá xăng dầu “thiếu minh bạch, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp”. Những nhận định phiến diện đó không chỉ bóp méo sự thật mà còn bỏ qua toàn bộ nỗ lực của Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Cần phải nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện để thấy rõ sự sai trái của các luận điệu xuyên tạc này.

Thứ nhất, phủ nhận nỗ lực của Chính phủ trong bình ổn giá xăng dầu là luận điệu thiếu căn cứ, cố tình bóp méo thực tiễn.

Xăng dầu là mặt hàng chiến lược, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Giá xăng dầu trong nước chịu tác động mạnh mẽ từ thị trường thế giới, đặc biệt trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu nhiều lần bị gián đoạn, giá dầu thô biến động mạnh. Trong điều kiện đó, việc giữ giá xăng dầu ổn định tuyệt đối là điều không quốc gia nào có thể thực hiện. Vì vậy, nhiệm vụ của Chính phủ không phải là “đóng băng giá”, mà là điều hành linh hoạt để hạn chế tối đa tác động tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống nhân dân.

LÊ HUYỀN ÁI MỸ XUYÊN TẠC BẦU CỬ QUỐC HỘI

 

Trên Facebook Tiếng dân đăng bài viết của Lê Huyền Ái Mỹ với luận điệu cho rằng: “Việt Nam có hơn 100 triệu dân nhưng số người tự ứng cử đại biểu Quốc hội “đếm chưa đủ hai bàn tay”, vì chắc chắn là do người dân “biết trước không có cơ hội” nên không tự ứng cử”. Luận điệu này là sự đánh tráo khái niệm, sai trái, suy diễn thiếu cơ sở, cố tình xuyên tạc, phá hoại bầu cử và chế độ chính trị ở Việt Nam, cần phải đấu tranh, bác bỏ, cụ thể là:

Thứ nhất, ít ứng cử viên tự do không phải là dấu hiệu thiếu dân chủ

Lê Huyền Ái Mỹ đã đưa ra luận điệu xuyên tạc để cố tình tạo ra sự so sánh: “Hơn 100 triệu dân nhưng chỉ vài người tự ứng cử”. Cách lập luận này là thuật ngụy biện phổ biến – lấy quy mô dân số để suy ra số lượng ứng cử viên. Thực tế, trong bất kỳ hệ thống chính trị nào, số người tham gia tranh cử nghị viện (Quốc hội) cũng luôn là một nhóm rất nhỏ so với tổng dân số. Ngay tại nhiều quốc gia phương Tây – nơi thường được viện dẫn như hình mẫu dân chủ – ứng cử viên độc lập luôn chiếm tỷ lệ rất thấp so với ứng cử viên của các tổ chức chính trị hoặc đảng phái. Lý do rất đơn giản: Hoạt động nghị viện không phải là sân khấu của những cá nhân đơn lẻ. Nó gắn với chương trình hành động, năng lực lập pháp, khả năng đại diện cho lợi ích của các nhóm xã hội và trách nhiệm trước cử tri. Chính vì vậy, phần lớn ứng cử viên thường gắn với các tổ chức, đoàn thể hoặc hệ thống chính trị – xã hội. Do đó, việc số lượng ứng cử viên tự do không nhiều là một hiện tượng bình thường trong đời sống chính trị, chứ không thể suy diễn thành bằng chứng của việc “thiếu dân chủ” như sự xuyên tạc của Lê Huyền Ái Mỹ.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA VIETNAMTHOIBAO

 

Trên trang Vietnamthoibao có bài viết: “Phân tích quy trình hiệp thương ba vòng trong bầu cử”. Nội dung bài viết cho rằng: “quy trình hiệp thương ba vòng không đơn thuần là các bước thủ tục hành chính, mà thực chất là một hệ thống lưới lọc chính trị đa tầng”. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, mang tính suy diễn và cố tình bóp méo bản chất của quy trình bầu cử ở Việt Nam, bởi vì:   

1. Quy trình hiệp thương ba vòng là cơ chế dân chủ, minh bạch có sự tham gia trực tiếp của Nhân dân, không phải “là một hệ thống lưới lọc chính trị đa tầng” như các thế lực thù địch suy diễn.

Theo quy định của pháp luật về bầu cử, cụ thể là Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân số 85/2015/QH13, ngày 25/6/2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân số 83/2025/QH13, ngày 24/6/2025; tại các Điều 38, 39, 43, 44, 48, 49 quy định quy trình hiệp thương ba vòng rất cụ thể, được tổ chức ở Trung ương và địa phương, là quy trình lựa chọn, xác định tổng số đại biểu được bầu ở từng cấp, thỏa thuận cơ cấu đại biểu, dự kiến số lượng người của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu ứng cử. Quy trình này là một cơ chế dân chủ đặc thù, được pháp luật quy định chặt chẽ, nhằm bảo đảm việc lựa chọn những người tiêu biểu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín để đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân; là một cơ chế dân chủ nhiều tầng nấc nhằm bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các tổ chức và Nhân dân trong quá trình lựa chọn người ứng cử. Toàn bộ quy trình này do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, với sự tham gia của các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ quan, đơn vị và đặc biệt là sự giám sát của Nhân dân. Chính đặc điểm này đã tạo nên tính công khai, minh bạch và bảo đảm sự giám sát xã hội đối với quá trình giới thiệu người ứng cử.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC NHỮNG GIÁ TRỊ THIÊNG LIÊNG GẮN LIỀN VỚI CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Trên trang Quyenduocbiet, đối tượng Nguyên Anh đã đăng tải bài viết với tiêu đề “Thần thánh hóa phong kiến để ngu dân trục lợi”. Bài viết đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và khu mộ bà Hoàng Thị Loan – thân mẫu của Người. Những quan điểm xuyên tạc, sai trái, phản động ủa đối tượng Nguyên Anh không chỉ thể hiện sự thiếu hiểu biết về lịch sử, văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, mà còn nhằm phủ nhận những giá trị thiêng liêng gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và tình cảm của Nhân dân Việt Nam đối với Người.

Thứ nhất, việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là “thần thánh hóa để ngu dân”, mà là biểu tượng thiêng liêng của lòng biết ơn, sự tôn kính của toàn dân tộc đối với vị lãnh tụ vĩ đại.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, nguyện vọng giữ gìn lâu dài thi hài của Người và xây dựng Lăng để đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế đến viếng là mong muốn chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng tại Quảng trường Ba Đình, là nơi Người đọc Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 mang ý nghĩa lịch sử và chính trị sâu sắc. Công trình này không phải để “thần thánh hóa” cá nhân, mà là nơi thể hiện lòng tri ân sâu sắc đối với người lãnh tụ đã cống hiến trọn đời cho độc lập dân tộc, tự do của nhân dân.