Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

KHÁT VỌNG VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC: TỪ Ý CHÍ ĐẾN HÀNH ĐỘNG THỰC TIỄN

 

Trong thời gian qua, trên trang Baotiengdan, Hồ Phú Bông có bài viết “Đầu năm nói chuyện vươn mình” nhằm phủ nhận, xuyên tạc sự nỗ lực, cố gắng, ý chí quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong xây dựng, phát triển đất nước ổn định, bền vững đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Y cho rằng: Việt Nam còn yếu về nhân lực, yếu về hạ tầng cơ sở, chưa có thương hiệu công nghệ lớn trên toàn cầu thì vươn mình đâu phải dễ như nói. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần phải phê phán.

Một là, Việt Nam không “yếu kém” về nhân lực và hạ tầng như cách nhìn bi quan; trái lại, đang sở hữu nền tảng và động lực đủ mạnh để bứt phá.

Về nguồn nhân lực, Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động trẻ, có trình độ học vấn ngày càng cao và khả năng thích ứng nhanh với khoa học – công nghệ mới. Hệ thống giáo dục đại học, đào tạo nghề và nghiên cứu khoa học từng bước được đổi mới theo hướng gắn với nhu cầu thị trường và chuyển đổi số. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ kỹ sư và chuyên gia công nghệ Việt Nam đã tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp trong nước đủ năng lực nghiên cứu, làm chủ và thương mại hóa công nghệ. Sự phát triển của các tập đoàn như Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) với việc nghiên cứu, thử nghiệm thiết bị 5G; Tập đoàn FPT với mạng lưới cung cấp dịch vụ công nghệ tại nhiều quốc gia; hay VNG Corporation trong lĩnh vực nền tảng số và trò chơi trực tuyến… là minh chứng sinh động cho năng lực sáng tạo của nhân lực Việt Nam. Nếu nhân lực thực sự “yếu”, không thể hình thành những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế như vậy.

Về hạ tầng cơ sở, cần đặt trong tiến trình lịch sử. Từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, đến nay Việt Nam đã xây dựng được hệ thống giao thông, điện, viễn thông, đô thị và hạ tầng số tương đối đồng bộ. Hệ thống cao tốc, cảng biển, sân bay được mở rộng; lưới điện quốc gia phủ rộng; tỷ lệ người dân sử dụng internet và điện thoại thông minh ở mức cao trong khu vực. Hạ tầng số, chính phủ điện tử và chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh, tạo nền tảng cho kinh tế số phát triển.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Bbc đã cho lan truyền bài viết “Chính trường Việt Nam: Tại sao phụ nữ hoàn toàn lép vế?”. Bài viết đưa ra những thông tin sai lệch, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta về phát huy vai trò của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng, cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

1. Luận điệu “phụ nữ hoàn toàn lép vế” – cái nhìn cực đoan, phiến diện

Bài viết cố tình sử dụng cụm từ “ phụ nữ hoàn toàn lép vế” như một định đề xuyên suốt. Họ đã đưa ra luận điệu cho rằng, phụ nữ Việt Nam không có vai trò, không có tiếng nói trong đời sống chính trị; một số phụ nữ tham gia trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương chỉ để “trang trí” cho “đủ chỉ tiêu” về tỉ lệ. Họ đã cố tình đánh đồng cơ chế tổ chức chặt chẽ của Đảng với “thỏa hiệp nội bộ”, cho rằng: Cơ chế “đề cử nội bộ” là rào cản khiến phụ nữ không thể tiến thân, bị chi phối của “mạng lưới nam giới” về chính trị. Cùng với đó, việc dựng lên màn kịch “phỏng vấn” một số cá nhân không hiểu gì về đời sống chính trị, văn hoá – xã hội ở Việt Nam để “khái quát thành xu hướng”, đưa ra đòi hỏi cần “mở rộng tranh cử” và giảm “không gian ảnh hưởng nội bộ”.

Thực chất, đây chỉ là những luận điệu xuyên tạc, vu khống nhằm hạ thấp vai trò và những đóng góp của của phụ nữ đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; sử dụng vấn đề giới như một công cụ tạo sức ép dư luận, tạo tâm lý hoài nghi của một bộ phận cử tri trong việc lựa chọn những đại biểu đủ tài, đức, tâm, tầm, bản lĩnh để tham gia bộ máy chính quyền các cấp. Sâu xa hơn, họ đi đến phủ nhận giá trị nhân đạo, nhân văn, khoa học, cách mạng của chế độ xã hội chủ nghĩa; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó, lôi kéo, dẫn dắt người dân đòi hỏi “mô hình dân chủ” của các nước phương Tây, nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

NHẬN DIỆN VÀ BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM

 

Trong thời gian gần đây, lợi dụng những biến động của thị trường năng lượng thế giới, một số đối tượng, trang mạng thiếu thiện chí đã tung ra nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc về công tác quản lý, điều hành thị trường xăng dầu của Nhà nước Việt Nam. Các luận điệu này cho rằng Chính phủ “bất lực trong bình ổn giá xăng dầu”, hoặc cố tình quy kết rằng việc điều hành giá xăng dầu “thiếu minh bạch, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp”. Những nhận định phiến diện đó không chỉ bóp méo sự thật mà còn bỏ qua toàn bộ nỗ lực của Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Cần phải nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện để thấy rõ sự sai trái của các luận điệu xuyên tạc này.

Thứ nhất, phủ nhận nỗ lực của Chính phủ trong bình ổn giá xăng dầu là luận điệu thiếu căn cứ, cố tình bóp méo thực tiễn.

Xăng dầu là mặt hàng chiến lược, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Giá xăng dầu trong nước chịu tác động mạnh mẽ từ thị trường thế giới, đặc biệt trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu nhiều lần bị gián đoạn, giá dầu thô biến động mạnh. Trong điều kiện đó, việc giữ giá xăng dầu ổn định tuyệt đối là điều không quốc gia nào có thể thực hiện. Vì vậy, nhiệm vụ của Chính phủ không phải là “đóng băng giá”, mà là điều hành linh hoạt để hạn chế tối đa tác động tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống nhân dân.

Thực tế cho thấy, Nhà nước Việt Nam đã triển khai cơ chế điều hành giá xăng dầu theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Giá xăng dầu được điều chỉnh định kỳ dựa trên biến động giá thế giới, qua đó bảo đảm tính minh bạch và phù hợp với thực tiễn thị trường.

Bên cạnh đó, một trong những công cụ quan trọng được sử dụng là Quỹ bình ổn giá xăng dầu. Thông qua quỹ này, Nhà nước có thể chủ động trích lập hoặc chi sử dụng để giảm bớt mức tăng giá khi thị trường thế giới biến động mạnh, qua đó góp phần kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Thực tiễn cho thấy, trong nhiều thời điểm giá dầu thế giới tăng cao, việc sử dụng Quỹ bình ổn đã giúp giảm áp lực tăng giá trong nước, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ còn triển khai nhiều chính sách tài khóa nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí xăng dầu, như điều chỉnh giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, xem xét giảm một số loại thuế, phí liên quan. Những quyết sách này thể hiện rõ nỗ lực của Nhà nước trong việc chia sẻ khó khăn với người dân và doanh nghiệp trước áp lực giá năng lượng tăng cao trên toàn cầu.

Do vậy, việc cho rằng Chính phủ “không có biện pháp bình ổn giá xăng dầu” là một nhận định hoàn toàn sai lệch. Thực chất, đây chỉ là chiêu trò tuyên truyền nhằm kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội, phủ nhận những nỗ lực điều hành của Nhà nước.

NHẬN DIỆN VÀ BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM

 

Trong thời gian gần đây, lợi dụng những biến động của thị trường năng lượng thế giới, một số đối tượng, trang mạng thiếu thiện chí đã tung ra nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc về công tác quản lý, điều hành thị trường xăng dầu của Nhà nước Việt Nam. Các luận điệu này cho rằng Chính phủ “bất lực trong bình ổn giá xăng dầu”, hoặc cố tình quy kết rằng việc điều hành giá xăng dầu “thiếu minh bạch, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp”. Những nhận định phiến diện đó không chỉ bóp méo sự thật mà còn bỏ qua toàn bộ nỗ lực của Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Cần phải nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện để thấy rõ sự sai trái của các luận điệu xuyên tạc này.

Thứ nhất, phủ nhận nỗ lực của Chính phủ trong bình ổn giá xăng dầu là luận điệu thiếu căn cứ, cố tình bóp méo thực tiễn.

Xăng dầu là mặt hàng chiến lược, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Giá xăng dầu trong nước chịu tác động mạnh mẽ từ thị trường thế giới, đặc biệt trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu nhiều lần bị gián đoạn, giá dầu thô biến động mạnh. Trong điều kiện đó, việc giữ giá xăng dầu ổn định tuyệt đối là điều không quốc gia nào có thể thực hiện. Vì vậy, nhiệm vụ của Chính phủ không phải là “đóng băng giá”, mà là điều hành linh hoạt để hạn chế tối đa tác động tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống nhân dân.

LÊ HUYỀN ÁI MỸ XUYÊN TẠC BẦU CỬ QUỐC HỘI

 

Trên Facebook Tiếng dân đăng bài viết của Lê Huyền Ái Mỹ với luận điệu cho rằng: “Việt Nam có hơn 100 triệu dân nhưng số người tự ứng cử đại biểu Quốc hội “đếm chưa đủ hai bàn tay”, vì chắc chắn là do người dân “biết trước không có cơ hội” nên không tự ứng cử”. Luận điệu này là sự đánh tráo khái niệm, sai trái, suy diễn thiếu cơ sở, cố tình xuyên tạc, phá hoại bầu cử và chế độ chính trị ở Việt Nam, cần phải đấu tranh, bác bỏ, cụ thể là:

Thứ nhất, ít ứng cử viên tự do không phải là dấu hiệu thiếu dân chủ

Lê Huyền Ái Mỹ đã đưa ra luận điệu xuyên tạc để cố tình tạo ra sự so sánh: “Hơn 100 triệu dân nhưng chỉ vài người tự ứng cử”. Cách lập luận này là thuật ngụy biện phổ biến – lấy quy mô dân số để suy ra số lượng ứng cử viên. Thực tế, trong bất kỳ hệ thống chính trị nào, số người tham gia tranh cử nghị viện (Quốc hội) cũng luôn là một nhóm rất nhỏ so với tổng dân số. Ngay tại nhiều quốc gia phương Tây – nơi thường được viện dẫn như hình mẫu dân chủ – ứng cử viên độc lập luôn chiếm tỷ lệ rất thấp so với ứng cử viên của các tổ chức chính trị hoặc đảng phái. Lý do rất đơn giản: Hoạt động nghị viện không phải là sân khấu của những cá nhân đơn lẻ. Nó gắn với chương trình hành động, năng lực lập pháp, khả năng đại diện cho lợi ích của các nhóm xã hội và trách nhiệm trước cử tri. Chính vì vậy, phần lớn ứng cử viên thường gắn với các tổ chức, đoàn thể hoặc hệ thống chính trị – xã hội. Do đó, việc số lượng ứng cử viên tự do không nhiều là một hiện tượng bình thường trong đời sống chính trị, chứ không thể suy diễn thành bằng chứng của việc “thiếu dân chủ” như sự xuyên tạc của Lê Huyền Ái Mỹ.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA VIETNAMTHOIBAO

 

Trên trang Vietnamthoibao có bài viết: “Phân tích quy trình hiệp thương ba vòng trong bầu cử”. Nội dung bài viết cho rằng: “quy trình hiệp thương ba vòng không đơn thuần là các bước thủ tục hành chính, mà thực chất là một hệ thống lưới lọc chính trị đa tầng”. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, mang tính suy diễn và cố tình bóp méo bản chất của quy trình bầu cử ở Việt Nam, bởi vì:   

1. Quy trình hiệp thương ba vòng là cơ chế dân chủ, minh bạch có sự tham gia trực tiếp của Nhân dân, không phải “là một hệ thống lưới lọc chính trị đa tầng” như các thế lực thù địch suy diễn.

Theo quy định của pháp luật về bầu cử, cụ thể là Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân số 85/2015/QH13, ngày 25/6/2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân số 83/2025/QH13, ngày 24/6/2025; tại các Điều 38, 39, 43, 44, 48, 49 quy định quy trình hiệp thương ba vòng rất cụ thể, được tổ chức ở Trung ương và địa phương, là quy trình lựa chọn, xác định tổng số đại biểu được bầu ở từng cấp, thỏa thuận cơ cấu đại biểu, dự kiến số lượng người của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu ứng cử. Quy trình này là một cơ chế dân chủ đặc thù, được pháp luật quy định chặt chẽ, nhằm bảo đảm việc lựa chọn những người tiêu biểu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín để đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân; là một cơ chế dân chủ nhiều tầng nấc nhằm bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các tổ chức và Nhân dân trong quá trình lựa chọn người ứng cử. Toàn bộ quy trình này do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, với sự tham gia của các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ quan, đơn vị và đặc biệt là sự giám sát của Nhân dân. Chính đặc điểm này đã tạo nên tính công khai, minh bạch và bảo đảm sự giám sát xã hội đối với quá trình giới thiệu người ứng cử.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC NHỮNG GIÁ TRỊ THIÊNG LIÊNG GẮN LIỀN VỚI CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Trên trang Quyenduocbiet, đối tượng Nguyên Anh đã đăng tải bài viết với tiêu đề “Thần thánh hóa phong kiến để ngu dân trục lợi”. Bài viết đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và khu mộ bà Hoàng Thị Loan – thân mẫu của Người. Những quan điểm xuyên tạc, sai trái, phản động ủa đối tượng Nguyên Anh không chỉ thể hiện sự thiếu hiểu biết về lịch sử, văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, mà còn nhằm phủ nhận những giá trị thiêng liêng gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và tình cảm của Nhân dân Việt Nam đối với Người.

Thứ nhất, việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là “thần thánh hóa để ngu dân”, mà là biểu tượng thiêng liêng của lòng biết ơn, sự tôn kính của toàn dân tộc đối với vị lãnh tụ vĩ đại.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, nguyện vọng giữ gìn lâu dài thi hài của Người và xây dựng Lăng để đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế đến viếng là mong muốn chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng tại Quảng trường Ba Đình, là nơi Người đọc Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 mang ý nghĩa lịch sử và chính trị sâu sắc. Công trình này không phải để “thần thánh hóa” cá nhân, mà là nơi thể hiện lòng tri ân sâu sắc đối với người lãnh tụ đã cống hiến trọn đời cho độc lập dân tộc, tự do của nhân dân.

CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG”: TẤM KHIÊN VỮNG CHẮC BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Trên trang Facebook, Đặng Đình Mạnh có bài viết:“Chính sách “bốn không” của Việt Nam trong vòng xoáy địa chính trị mới”. Bìa viết đưa ra các luận điệu: Nguyên tắc “Bốn không”, đang đứng trước phép thử to lớn, thậm chí, với mức độ cần phải xem xét lại chính sách đó nếu không muốn đối diện với sự thất sách toàn diện về quân sự, đe dọa chủ quyền quốc gia; “Cái giá” của Trung lập: Khi căng thẳng gia tăng, các cường quốc lớn sẽ tăng cường sức ép buộc các quốc gia nhỏ phải chọn bên. Cần khẳng định những luận điệu này là xuyên tạc, bóp méo hòng làm suy yếu nền quốc phòng của Việt Nam, phá vỡ nguyên tắc nền quốc phòng tự chủ của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, dẫn đến sự lệ thuộc vào các lực lượng quân sự khác, gây nên những hệ lụy to lớn ảnh hưởng tới sức mạnh và chiến lược bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam.

Thứ nhất, chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay là:“Bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. “Không tham gia liên minh quân sự” là đường lối, quan điểm chiến lược nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và hòa bình, quyết định toàn bộ các chính sách quốc phòng khác của Việt Nam. 

PHONG HÀM ĐẠI TƯỚNG – SỰ GHI NHẬN CÔNG LAO, KHÔNG PHẢI CUỘC CHẠY ĐUA QUYỀN LỰC

 

Trên trang Vietnamthoibao, Trần Anh Quân đăng bài viết “Thời bình mà Việt Nam có tới 6 đại tướng đương nhiệm” cho rằng, việc phong hàm đại tướng không phải là chuyện ghi nhận công lao, mà là thông điệp về cuộc chạy đua giành ghế giữa các phe phái. Đây là luận điệu sai trái, xuyên tạc, bôi nhọ danh dự, uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước công tác trong lực lượng vũ trang, cần phê phán, bác bỏ:

Thứ nhất, phong hàm Đại tướng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là sự ghi nhận xứng đáng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với những cống hiến, thành tích đặc biệt của cán bộ cấp cao và được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, minh bạch.

Trong hệ thống pháp luật và quy định của Nhà nước Việt Nam, việc phong, thăng quân hàm cấp tướng nói chung và Đại tướng nói riêng được tiến hành theo những tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình rất nghiêm ngặt. Việc xét phong quân hàm không phải là quyết định mang tính cá nhân hay tùy tiện mà phải căn cứ vào nhiều yếu tố như: chức vụ đảm nhiệm, quá trình công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ huy và những đóng góp thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành xem xét, đánh giá một cách toàn diện trước khi đề xuất và quyết định phong quân hàm theo đúng quy định của pháp luật.

Những cán bộ được phong hàm Đại tướng đều là những người có quá trình cống hiến lâu dài, có uy tín cao trong quân đội và xã hội; tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, chỉ huy và tinh thần trách nhiệm đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Việc phong hàm vì thế không chỉ mang ý nghĩa về mặt tổ chức mà còn thể hiện sự ghi nhận, tôn vinh những đóng góp to lớn của họ đối với đất nước và quân đội.

VẠCH TRẦN NHỮNG “CÁO TRẠNG” KHÔNG CHỨNG CỨ CỦA ĐẶNG ĐÌNH MẠNH

 

Trong đời sống thông tin hiện nay, không khó để bắt gặp những bài viết mang danh “phê phán” hay “cáo trạng” về tình hình đất nước, nhưng thực chất chỉ là sự tập hợp các nhận định cảm tính, suy diễn chủ quan và xuyên tạc có chủ đích. Bài viết mang tên “Dự thảo cáo trạng độc tài” của Đặng Đình Mạnh đăng trên Danlambao là một ví dụ điển hình, khi tác giả cố dựng lên một bức tranh u ám về đời sống chính trị – xã hội Việt Nam, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và gây hoài nghi về con đường phát triển của đất nước.

1. Sự phát triển của Việt Nam trong 40 năm đổi mới cho thấy, một thực tiễn hoàn toàn khác với những gì Đặng Đình Mạnh cố tình mô tả. Từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã từng bước vươn lên trở thành một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng ổn định trong khu vực, hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế – chính trị quốc tế. Hàng chục triệu người đã thoát khỏi đói nghèo, hệ thống giáo dục và y tế không ngừng được mở rộng, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt. Những thành tựu đó không phải là kết quả ngẫu nhiên, mà là kết quả của quá trình lãnh đạo, quản lý và điều hành lâu dài của hệ thống chính trị, trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò quyết định.

Đặng Đình Mạnh cố tình bỏ qua bức tranh tổng thể đó để xây dựng một cách nhìn phiến diện về đời sống xã hội. Tác giả cho rằng, bộ máy nhà nước chỉ tồn tại để đàn áp, tham nhũng và bảo vệ quyền lực của một nhóm nhỏ. Nhưng thực tế cho thấy công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam đang được triển khai với cường độ mạnh mẽ. Điều này chứng tỏ hệ thống chính trị không né tránh những khuyết điểm của mình, mà đang chủ động xử lý, chỉnh đốn để nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước. Việc bỏ qua toàn bộ nỗ lực này để khẳng định rằng “mọi thứ đều mục nát” không phải là phân tích khách quan, mà là sự phủ định mang tính định kiến, xuyên tạc.

2. Đặng Đình Mạnh cố tình sử dụng những hình ảnh gây ấn tượng mạnh nhưng thiếu cơ sở thực tế, như mô tả đất nước rơi vào trạng thái sợ hãi, bất công tràn lan hay nhân dân không có bất kỳ quyền lực nào. Những mô tả như vậy hoàn toàn không phản ánh đúng thực tế đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, nơi các hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục và giao lưu quốc tế diễn ra sôi động, người dân tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động quản lý xã hội, phản biện chính sách và đóng góp ý kiến cho các chương trình phát triển. Nếu xã hội thực sự bị bóp nghẹt như cách tác giả mô tả, sẽ khó có thể tồn tại một đời sống xã hội năng động và đa dạng như hiện nay.