Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT LÀ NỀN TẢNG BẢO ĐẢM TỰ DO NGÔN LUẬN

 

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 174/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin, trang BBC đã đăng tải những nội dung cho rằng “Nghị định 174 khiến người dân ớn lạnh”, “xử phạt thông tin là đàn áp tự do ngôn luận”. Những luận điệu này cố tình tạo ra nhận thức sai lệch, đánh đồng giữa việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật với việc hạn chế quyền tự do ngôn luận. Đây là cách lập luận phiến diện, thiếu căn cứ pháp lý và cần được nhận diện, bác bỏ.

Thứ nhất, Nghị định số 174/2026/NĐ-CP không hạn chế quyền tự do ngôn luận mà chỉ xử lý các hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật.

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin và bày tỏ ý kiến. Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia pháp quyền trên thế giới, việc thực hiện các quyền đó phải trong khuôn khổ pháp luật, không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân khác.

Nghị định số 174/2026/NĐ-CP không đặt ra quy định cấm người dân phát biểu ý kiến, phản biện xã hội hay góp ý chính sách. Đối tượng điều chỉnh của nghị định là các hành vi vi phạm hành chính trong môi trường số như cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật; thông tin bịa đặt, vu khống; xúc phạm danh dự, nhân phẩm; giả mạo tổ chức, cá nhân; phát tán nội dung độc hại; lợi dụng không gian mạng để lừa đảo, gây mất an ninh, trật tự hoặc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Rõ ràng, Nghị định xử lý hành vi vi phạm pháp luật chứ không xử lý quyền tự do ngôn luận. Việc cố tình đánh đồng hai vấn đề hoàn toàn khác nhau nhằm tạo cảm giác rằng Nhà nước “bịt miệng” người dân là một thủ pháp tuyên truyền thiếu thiện chí.

THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT LÀ NỀN TẢNG BẢO ĐẢM TỰ DO NGÔN LUẬN

 

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 174/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin, trang BBC đã đăng tải những nội dung cho rằng “Nghị định 174 khiến người dân ớn lạnh”, “xử phạt thông tin là đàn áp tự do ngôn luận”. Những luận điệu này cố tình tạo ra nhận thức sai lệch, đánh đồng giữa việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật với việc hạn chế quyền tự do ngôn luận. Đây là cách lập luận phiến diện, thiếu căn cứ pháp lý và cần được nhận diện, bác bỏ.

Thứ nhất, Nghị định số 174/2026/NĐ-CP không hạn chế quyền tự do ngôn luận mà chỉ xử lý các hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật.

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin và bày tỏ ý kiến. Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia pháp quyền trên thế giới, việc thực hiện các quyền đó phải trong khuôn khổ pháp luật, không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân khác.

Nghị định số 174/2026/NĐ-CP không đặt ra quy định cấm người dân phát biểu ý kiến, phản biện xã hội hay góp ý chính sách. Đối tượng điều chỉnh của nghị định là các hành vi vi phạm hành chính trong môi trường số như cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật; thông tin bịa đặt, vu khống; xúc phạm danh dự, nhân phẩm; giả mạo tổ chức, cá nhân; phát tán nội dung độc hại; lợi dụng không gian mạng để lừa đảo, gây mất an ninh, trật tự hoặc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Rõ ràng, Nghị định xử lý hành vi vi phạm pháp luật chứ không xử lý quyền tự do ngôn luận. Việc cố tình đánh đồng hai vấn đề hoàn toàn khác nhau nhằm tạo cảm giác rằng Nhà nước “bịt miệng” người dân là một thủ pháp tuyên truyền thiếu thiện chí.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤTCỦA THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao, Nhật Ngôn tiếp tục tung ra luận điệu cũ rích cho rằng: “Việt Nam không phải là một nhà nước pháp quyền với hệ thống pháp luật chuẩn mực mà chỉ có luật rừng với sự suy diễn cảm tính của kẻ cẩm quyền”. Đây là một luận điểm mang tính quy chụp, phủ định sạch trơn, ngôn từ mang tính kích động hơn là lập luận học thuật, cố tình đổi trắng thay đen nhằm bôi nhọ hình ảnh đất nước và thể chế pháp quyền của Việt Nam.

Thứ nhất, Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Hiến pháp là tối cao; mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân đều phải nghiêm túc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; từ Luật Hình sự, Dân sự, Doanh nghiệp đến Luật Đất đai, Luật An ninh mạng… đều được xây dựng đồng bộ, công khai và tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế. Không quản lý bằng cảm tính, mọi hành vi vi phạm đều được xử lý dựa trên chứng cứ, trình tự tố tụng nghiêm ngặt, hoàn toàn không có chuyện tùy tiện hay “luật rừng”. Khẳng định, hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam từ Hiến pháp đến các Bộ luật chuyên ngành đều được đăng tải công khai trên các Cổng thông tin điện tử để người dân giám sát. Một vụ án từ lúc khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử phải trải qua sự kiểm soát chéo giữa Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án, có sự tham gia bắt buộc của Luật sư. Không một cá nhân nào có thể tự ý thay đổi quy trình nghiêm ngặt này để xử lý theo “cảm tính”, như những lời lẽ của Nhật Ngôn đã rêu rao.

Thứ hai, chủ trương “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, bình đẳng trước pháp luật trong xử lý vi phạm tại Việt Nam là nguyên tắc cốt lõi nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, áp dụng bình đẳng với mọi cá nhân. Dù là cán bộ cấp cao, doanh nhân hay người dân thường, hễ vi phạm pháp luật là bị xử lý đúng người, đúng tội, đặc biệt trong các lĩnh vực trọng điểm như: Phòng chống tham nhũng; làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước; lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

VẠCH TRẦN BẢN CHẤT PHẢN ĐỘNG DƯỚI CHIÊU BÀI “BÁO CHÍ ĐỘC LẬP”

 

Trên trang Vietnamthoibao, Quang Nguyên – một phần tử phản động đăng tải bài viết “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam: 12 năm đối mặt với kiểm duyệt và tù đày”, tiếp tục xuyên tạc tình hình tự do báo chí và quyền con người ở Việt Nam. Bài viết sử dụng nhiều luận điệu ngụy biện, đánh tráo khái niệm và bóp méo sự thật nhằm vu cáo Nhà nước Việt Nam, phục vụ mưu đồ chống phá. Vì vậy, cần nhận diện rõ bản chất và kiên quyết bác bỏ những luận điệu sai trái của Quang Nguyên.

1. Núp bóng các giá trị ngoại bang để hợp thức hóa hành vi xâm phạm chủ quyền tư tưởng quốc gia

Thủ đoạn đầu tiên và cũng là bản chất dễ nhận thấy nhất của tài liệu này là việc cố tình sùng bái và vay mượn các giá trị chính trị nước ngoài để áp đặt vào bối cảnh Việt Nam. Quang Nguyên ra sức rêu rao rằng việc lựa chọn ngày 4 tháng 7 – ngày Quốc khánh nước Mỹ – làm ngày thành lập tổ chức mang ý nghĩa biểu tượng cho khát vọng tự do ngôn luận và các giá trị phổ quát tiến bộ được nêu rõ trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Chúng lập luận rằng đây là mưu cầu quyền tự do biểu đạt, tự do báo chí và quyền tham gia chính đáng của công dân vào đời sống công cộng.

Đây là một sự ngụy biện kệch cỡm về mặt lý luận và bộc lộ tư duy nô dịch về mặt tư tưởng. Bởi lẽ, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận tại Việt Nam là những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến định, ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm. Các quyền này được xây dựng và thực thi dựa trên nền tảng lịch sử, văn hóa, thể chế chính trị và thực tiễn phát triển độc lập của dân tộc Việt Nam, hoàn toàn không cần và không thể sao chép rập khuôn hay dựa dẫm vào hiến pháp của bất kỳ quốc gia nào khác. Hơn nữa, việc cố tình gắn kết ngày thành lập của một tổ chức hoạt động tại Việt Nam với một biểu tượng chính trị ngoại bang thực chất là hành vi tự phơi bày bản chất lệ thuộc. Đó là mưu đồ định vị tổ chức như một “tiền đồn” tư tưởng ngoại bang nhằm tìm kiếm sự can thiệp, bảo trợ chính trị và nguồn lực tài trợ từ các thế lực thù địch quốc tế bên ngoài.

VẠCH TRẦN BẢN CHẤT PHẢN ĐỘNG DƯỚI CHIÊU BÀI “BÁO CHÍ ĐỘC LẬP”

 

Trên trang Vietnamthoibao, Quang Nguyên – một phần tử phản động đăng tải bài viết “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam: 12 năm đối mặt với kiểm duyệt và tù đày”, tiếp tục xuyên tạc tình hình tự do báo chí và quyền con người ở Việt Nam. Bài viết sử dụng nhiều luận điệu ngụy biện, đánh tráo khái niệm và bóp méo sự thật nhằm vu cáo Nhà nước Việt Nam, phục vụ mưu đồ chống phá. Vì vậy, cần nhận diện rõ bản chất và kiên quyết bác bỏ những luận điệu sai trái của Quang Nguyên.

1. Núp bóng các giá trị ngoại bang để hợp thức hóa hành vi xâm phạm chủ quyền tư tưởng quốc gia

Thủ đoạn đầu tiên và cũng là bản chất dễ nhận thấy nhất của tài liệu này là việc cố tình sùng bái và vay mượn các giá trị chính trị nước ngoài để áp đặt vào bối cảnh Việt Nam. Quang Nguyên ra sức rêu rao rằng việc lựa chọn ngày 4 tháng 7 – ngày Quốc khánh nước Mỹ – làm ngày thành lập tổ chức mang ý nghĩa biểu tượng cho khát vọng tự do ngôn luận và các giá trị phổ quát tiến bộ được nêu rõ trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Chúng lập luận rằng đây là mưu cầu quyền tự do biểu đạt, tự do báo chí và quyền tham gia chính đáng của công dân vào đời sống công cộng.

Đây là một sự ngụy biện kệch cỡm về mặt lý luận và bộc lộ tư duy nô dịch về mặt tư tưởng. Bởi lẽ, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận tại Việt Nam là những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến định, ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm. Các quyền này được xây dựng và thực thi dựa trên nền tảng lịch sử, văn hóa, thể chế chính trị và thực tiễn phát triển độc lập của dân tộc Việt Nam, hoàn toàn không cần và không thể sao chép rập khuôn hay dựa dẫm vào hiến pháp của bất kỳ quốc gia nào khác. Hơn nữa, việc cố tình gắn kết ngày thành lập của một tổ chức hoạt động tại Việt Nam với một biểu tượng chính trị ngoại bang thực chất là hành vi tự phơi bày bản chất lệ thuộc. Đó là mưu đồ định vị tổ chức như một “tiền đồn” tư tưởng ngoại bang nhằm tìm kiếm sự can thiệp, bảo trợ chính trị và nguồn lực tài trợ từ các thế lực thù địch quốc tế bên ngoài.

Một nền báo chí chân chính phải là nền báo chí phụng sự tổ quốc, phục vụ Nhân dân, gắn liền với lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc. Việc nhân danh “độc lập” để hướng ngoại, phủ nhận đường lối lối quản lý báo chí của Đảng và Nhà nước Việt Nam thực chất là hành vi phản bội lại lợi ích dân tộc, cố tình tạo ra các khoảng trống tư tưởng hòng thực hiện mưu đồ lật đổ chế độ.a

PHÂN BIỆT PHẢN BIỆN XÂY DỰNG VỚI HÀNH VI CHỐNG PHÁ

 

Bài viết “Phản động” trong nhãn quan Đảng Cộng sản Việt Nam trên Đài BBC đặt ra một vấn đề đáng chú ý, đó là cách sử dụng và diễn giải sai lệch về khái niệm “phản động”. Bài viết cho rằng, khái niệm này bị mở rộng tới những người phê phán chính quyền, thúc đẩy đa nguyên, đa đảng, dân chủ, tự do và nhân quyền cũng có thể bị gắn nhãn “phản động” hoặc “chống phá”. Đây là luận điệu không có cơ sở khoa học cần được nhận diện và đấu tranh phản bác.

Thứ nhất, khái niệm “phản động” gắn liền với hành vi chống phá lợi ích quốc gia và Nhân dân, không phải là sự bất đồng chính kiến thuần túy

Luận điệu khẳng định “’phản động” trong diễn ngôn và nhãn quan của chính quyền Việt Nam được gán cho nghĩa chống chính quyền, chống Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đó đưa ra nhận định rằng những người “thúc đẩy đa nguyên, đa đảng, dân chủ, tự do, nhân quyền” cũng có thể bị gọi là “phản động” hoặc “chống phá”. Trong đời sống chính trị, cần phân biệt rõ giữa quyền có quan điểm khác biệt với hành vi được thực hiện trên cơ sở quan điểm đó. Phê bình một chính sách, tranh luận về hiệu quả quản lý nhà nước, đề xuất sửa đổi pháp luật … cần được đánh giá bằng nội dung cụ thể. Chứ không thể mặc nhiên bị đồng nhất với hành vi chống phá. Nếu một cá nhân hoặc tổ chức nhân danh một quan điểm chính trị để thực hiện những hành vi xâm hại lợi ích quốc gia, kích động bạo lực, phá hoại an ninh, tổ chức hoạt động trái pháp luật hoặc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì vấn đề đã vượt ra ngoài phạm vi “bất đồng chính kiến thuần túy”.

XUYÊN TẠC LỊCH SỬ, BÔI XẤU LÃNH TỤ: MỘT THỦ ĐOẠN CẦN ĐƯỢC NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH

 

Trên trang Hung-viet, Nguyễn Doãn Đôn đăng tải bài viết “Ông Hồ gian dối, cái của mình thì không dám nhận; lại thích nhận thức của người khác”, cố tình xuyên tạc thân thế, sự nghiệp, nhân cách và di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, tác giả phủ nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là tác giả của tác phẩm Nhật ký trong tù, từ đó quy kết Người là “gian dối”, “nhận thức của người khác”. Đây là sự suy diễn chủ quan, bóp méo lịch sử, phủ nhận những chứng cứ khoa học và thực tiễn đã được khẳng định; đồng thời nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam.

Thứ nhất, Nguyễn Doãn Đôn xuyên tạc sự thật lịch sử, giá trị văn bản và thực tiễn nghiên cứu đã được khẳng định về tác giả của tác phẩm Nhật ký trong tù

Nhật ký trong tù là tập thơ được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943. Tập thơ gồm 133 bài viết bằng chữ Hán, phản ánh chân thực cuộc sống lao tù khắc nghiệt, đồng thời thể hiện bản lĩnh, ý chí cách mạng, tinh thần lạc quan và nhân cách cao đẹp của Người.

Từ khi được công bố đến nay, giá trị lịch sử và tác giả của Nhật ký trong tù đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thẩm định, xác nhận bằng những chứng cứ xác thực. Bản gốc tập thơ hiện vẫn được lưu giữ; nhiều tài liệu lịch sử, hồi ký của những người từng hoạt động cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định quá trình Người sáng tác tác phẩm trong thời gian bị giam giữ. Những đặc điểm về tư tưởng, ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật của tập thơ hoàn toàn thống nhất với tư tưởng, nhân cách và quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.Ngoài ra, Nhật ký trong tù không chỉ được nghiên cứu rộng rãi trong nước, mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Tác phẩm được đánh giá là một di sản văn hóa đặc sắc, kết tinh giữa tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng và giá trị nhân văn sâu sắc.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Trong bài viết “Chính trị thị trường – Tại sao không” trên Thongluan, Đinh Hoàng Thắng đã cố tình suy diễn, xuyên tạc thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay, nhằm phủ nhận đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, gieo rắc hoài nghi và chia rẽ nội bộ. Việc đấu tranh phản bác luận điệu sai trái này là cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào Đảng và chế độ.

 1. Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, nhất quán, không có sự cạnh tranh trong nội bộ

 Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhất quán, không có sự cạnh tranh nội bộ hoàn toàn có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc. Trước hết, về mặt lý luận, Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm này xuất phát từ học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân. Theo đó, để đảm bảo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cần có một lực lượng lãnh đạo thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật cao và mục tiêu rõ ràng. Đồng thời, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ, tức là có thảo luận dân chủ trong nội bộ nhưng khi đã thống nhất thì toàn Đảng hành động như một khối. Điều này không tạo ra cạnh tranh quyền lực theo kiểu đối lập mà hướng đến sự thống nhất ý chí và hành động. Vì vậy, tính “nhất quán” trong đường lối được bảo đảm bởi nền tảng tư tưởng, cương lĩnh chính trị và nguyên tắc tổ chức của Đảng.

ĐẰNG SAU CHIÊU BÀI “BẢO VỆ LUẬT SƯ” LÀ SỰ XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

Trên trang Thongluan, bài viết “Giới Luật sư trẻ Việt Nam trước mối đe dọa “to be or not to be” của Đặng Đình Mạnh đã xuyên tạc chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, hoàn thiện thể chế pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bằng việc chắp nối, suy diễn một số thông tin riêng lẻ, tác giả đưa ra nhận định vô căn cứ rằng Việt Nam đang từng bước “loại bỏ định chế luật sư truyền thống khỏi đời sống xã hội”. Đây không phải là phân tích pháp lý khách quan mà là sự áp đặt mang động cơ chính trị, nhằm gieo rắc hoài nghi trong giới luật sư, tạo sự đối lập giữa luật sư với Nhà nước và phủ nhận những thành tựu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ nhất, luận điệu cho rằng Việt Nam đang “loại bỏ luật sư truyền thống” là sự xuyên tạc trắng trợn chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước về phát triển đội ngũ luật sư.

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, liêm chính, phụng sự Tổ quốc và Nhân dân; trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp vững vàng. Điều đó cho thấy Đảng và Nhà nước không những không thu hẹp vai trò của luật sư mà còn đặt ra yêu cầu phát triển mạnh mẽ đội ngũ này nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU BÀI “QUỐC DÂN TÂN SINH HOẠT”

 

Trên Baoquocdan, YLymHa đăng bài viết “Phòng trào Quốc dân tân sinh hoạt” với những luận điệu xuyên tạc bản chất chế độ chính trị ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Y đã lợi dụng những vấn đề về dân chủ, dân sinh, dưới danh nghĩa “canh tân đất nước”, “khai phóng dân trí” hay “dân chủ hóa xã hội”. Luận điệu sai trái này cần được nhận diện và đấu tranh phản bác.

Thứ nhất, Quốc dân tân sinh hoạt” không phải là phong trào dân sinh, dân chủ mà thực chất là đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

YLymHa đã công khai đòi hỏi “chế độ đa đảng chuyển quyền”, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cho rằng, xã hội Việt Nam cần một lực lượng chính trị mới để thay thế vai trò hiện tại. Mục tiêu cốt lõi của bài viết không phải là đóng góp giải pháp phát triển đất nước, mà là tạo dựng cơ sở tư tưởng cho quá trình chuyển hóa chế độ chính trị theo mô hình phương Tây. Y sử dụng các khẩu hiệu như dân chủ, dân quyền, dân sinh để che giấu mục đích chính trị, nhằm gieo vào nhận thức xã hội suy nghĩ rằng mọi khó khăn của đất nước đều bắt nguồn từ mô hình chính trị hiện nay và chỉ có thay đổi thể chế mới giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, thực tiễn chứng minh điều ngược lại.

Trong nhiều năm qua đời sống người dân Việt Nam đã có những cải thiện rõ rệt như: Hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, an sinh xã hội và mức sống của người dân không ngừng được nâng lên; thu nhập bình quân tăng vọt, tỷ lệ nghèo giảm mạnh; tầng lớp trung lưu ngày càng mở rộng, phản ánh chất lượng tăng trưởng và tiến bộ xã hội; tiềm lực và vị thế quốc tế của đất nước được nâng lên; công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được tiến hành quyết liệt góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Những thành tựu đó là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn. Nếu mô hình hiện tại thực sự bế tắc như luận điệu của YlymHa rêu rao thì không thể có những kết quả Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong nhiều thập niên qua. Bởi vậy, cần kiên quyết đấu tranh với luận điệu “Quốc dân tân sinh hoạt” dưới lớp vỏ “dân chủ hóa đất nước”.

ĐỪNG ĐỂ NHỮNG LẬP LUẬN PHIẾN DIỆN LÀM LU MỜ THÀNH QUẢ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

 

Trên trang Viettan, Lê Vĩnh Triển đăng tải bài viết “Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm”. Với lối lập luận phiến diện, tác giả cố tình tuyệt đối hóa môi trường giáo dục, nghiên cứu và phát triển nhân tài ở các nước phương Tây; đồng thời quy kết Việt Nam chỉ “nói mà không làm”, không có khả năng phát hiện, đào tạo, thu hút và trọng dụng người tài. Đây là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng thay cho bản chất, lấy những khó khăn còn tồn tại trong quá trình phát triển của Việt Nam để phủ nhận toàn bộ thành tựu, nỗ lực và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; gieo rắc tâm lý sính ngoại, tự ti dân tộc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào triển vọng phát triển đất nước, cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, dùng thủ đoạn đánh tráo “hiện tượng” thành “bản chất” để phủ nhận thành tựu phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam.

Thủ đoạn xuyên suốt trong bài viết của Lê Vĩnh Triển là cố tình lấy một số hiện tượng riêng lẻ để quy kết thành bản chất của môi trường giáo dục và phát triển nhân tài ở Việt Nam. Đây là sự đánh tráo khái niệm trắng trợn. Bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu hóa, dịch chuyển lao động chất lượng cao là xu hướng diễn ra ở mọi quốc gia, kể cả các nước phát triển. Không một quốc gia nào có thể giữ toàn bộ nhân tài của mình, cũng như không quốc gia nào chỉ thu hút mà không bị thất thoát nguồn nhân lực chất lượng cao.

CHIÊU TRÒ NÚP BÓNG “BẢO VỆ XỨ ĐẠO” ĐỂ CẢN TRỞ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Trên trang blog “Việt Nam Thời Báo” vừa xuất hiện bài viết với tiêu đề: “Người Công giáo Việt Nam lo mất xứ đạo vì dự án sân bay mới”. Bài viết cố tình khai thác vấn đề giải phóng mặt bằng phục vụ Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình để xuyên tạc chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước ta, kích động tâm lý hoài nghi trong một bộ phận giáo dân, từ đó cản trở việc triển khai dự án trọng điểm quốc gia. Những luận điệu này hoàn toàn thiếu khách quan, không phản ánh đúng bản chất sự việc, cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, xuyên tạc việc thu hồi đất phục vụ Dự án Sân bay quốc tế Gia Bình là hành vi “xâm phạm quyền tự do tôn giáo”, “xóa bỏ xứ đạo” là sự đánh tráo bản chất của vấn đề.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc thu hồi đất để thực hiện các công trình trọng điểm quốc gia, phục vụ lợi ích công cộng, phát triển kinh tế – xã hội được tiến hành trên cơ sở quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm đúng trình tự, thủ tục và quyền lợi hợp pháp của người dân. Trong quá trình triển khai Dự án Sân bay quốc tế Gia Bình, các cơ quan chức năng đều thực hiện công tác khảo sát, đền bù, hỗ trợ tái định cư theo quy định của pháp luật, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

HIẾN PHÁP VIỆT NAM – KẾT TINH Ý CHÍ NHÂN DÂN, KHÔNG NHƯ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 

Để phục vụ cho mưu đồ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bản chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trên nhiều diễn đàn phản động xuất hiện bài viết: Hiến pháp 2013 và những quy định “không giống ai” về trách nhiệm bảo vệ hiến pháp của Đào Tăng Dực. Nội dung bài viết đã xuyên tạc: Đảng Cộng sản Việt Nam cố tình tạo ra một bản Hiến pháp mập mờ, đầy mâu thuẫn… và sử dụng sự mập mờ này để cai trị dân bằng luật rừng. Đây là luận điệu sai trái, phiến diện, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn, nhằm kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, cần khẳng định, Hiến pháp Việt Nam không phải là sản phẩm của ý chí chủ quan của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào, mà là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng, kế thừa truyền thống lập hiến dân tộc, tiếp thu có chọn lọc các giá trị pháp lý tiến bộ của nhân loại và phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử. Từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quá trình xây dựng và sửa đổi Hiến pháp luôn được tiến hành công khai, dân chủ, có sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, các nhà khoa học, chuyên gia pháp lý và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đặc biệt, quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã thu hút hàng chục triệu lượt ý kiến đóng góp của nhân dân trên phạm vi cả nước. Điều đó cho thấy Hiến pháp Việt Nam là kết tinh trí tuệ tập thể của toàn dân tộc, chứ không phải là một văn bản được xây dựng trong bí mật hay nhằm phục vụ mục đích cai trị như các luận điệu xuyên tạc đã cố tình quy kết. Luận điệu cho rằng Hiến pháp Việt Nam “mập mờ, đầy mâu thuẫn” thực chất xuất phát từ sự cố tình xuyên tạc bản chất của kỹ thuật lập hiến hiện đại, mang sẵn mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ XÂY DỰNG XÃ, PHƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Thí điểm xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa (XHCN) là quyết sách đúng đắn, là vấn đề có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và cấp thiết; thể hiện một bước đi có sự tìm tòi, sáng tạo của mỗi địa phương. Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề này không ít ý kiến cho rằng đây là mô hình “bình quân, bao cấp”, “mô hình cũ thế kỷ XIX”… cách hiểu này không chính xác, nhất là đặt ngoài bối cảnh chung của đất nước và định hướng phát triển của Đảng, Nhà nước ta. Do vậy, cần thống nhất nhận thức trên một số nội dung sau:

         1. Từ nghiên cứu nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam cho thấy, việc thí điểm mô hình XHCN ở cấp xã, phường thực chất là tổ chức phát động phong trào thực tế của quần chúng nhân dân nhằm cụ thể hóa mục tiêu, đặc trưng CNXH vào đời sống ở cấp cơ sở. Việc xây dựng mô hình XHCN không phải đến bây giờ Việt Nam mới triển khai mà qua mỗi thời kỳ, giai đoạn, tuỳ vào đặc điểm tình hình mà Đảng, Nhà nước ta đề ra các mô hình, chương trình phát triển cho phù hợp thực tế, với bước đi rút ngắn trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Hiện nay, các địa phương triển khai thí điểm xây dựng xã, phường XHCN không phải là xây dựng một mô hình xã hội khác biệt về bản chất, càng không phải là quay về mô hình bình quân, bao cấp hay quản lý theo kiểu cũ, mà hướng tới xây dựng những cộng đồng cơ sở văn minh, hiện đại, có năng lực tự quản và thích ứng với thời đại số, vận hành hiệu quả theo định hướng XHCN, với những tiêu chí cụ thể, có thể đo lường và kiểm chứng trong thực tiễn.

QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI QUYỀN VI PHẠM PHÁP LUẬT

 

Trên trang boxitvn, Phùng Thanh Sơn có giật tít: “Sửa đổi Bộ luật Hình sự: Cơ hội để nhổ tận gốc những điều luật đang bị lạm dụng” với nhiều luận điệu sai trái, cho rằng: “Hệ thống hình sự Việt Nam đang tồn tại một nhóm điều luật được xây dựng chỉ hoàn toàn bằng tiêu chí định tính, không có bất kỳ ngưỡng định lượng nào. Do đó, việc sửa đổi cần phải nhổ tận gốc các điều luật mơ hồ cho phép dễ dàng bắt bớ, bịt miệng người dân và bảo vệ lợi ích của nhóm cầm quyền”. Tuy nhiên, cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ luận điệu sai trái trên của y, bởi lẽ:

Thứ nhất, Bộ luật hình sự Việt Nam được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa các dấu hiệu định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính toàn diện, chặt chẽ, khả thi, và phù hợp với tính đa dạng của các hành vi phạm tội.

Trong nhiều quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành đã sử dụng các tiêu chí định lượng rất cụ thể như giá trị tài sản, số tiền thu lợi bất chính, tỷ lệ tổn thương cơ thể, số lượng hàng hóa vi phạm, mức độ thiệt hại hoặc số lần thực hiện hành vi phạm tội. Đây là những căn cứ khách quan giúp phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm, đồng thời làm cơ sở định khung hình phạt. Bên cạnh đó, đối với một số tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng, hoạt động tư pháp hoặc các quan hệ xã hội đặc biệt quan trọng, việc quy định các dấu hiệu mang tính định tính là cần thiết. Nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội không thể hoặc rất khó lượng hóa bằng các con số cụ thể. Nếu chỉ sử dụng tiêu chí định lượng, pháp luật có thể bỏ sót những hành vi gây nguy hại lớn nhưng chưa thể xác định chính xác bằng các chỉ số định lượng. Các dấu hiệu định tính trong luật hình sự không đồng nghĩa với sự mơ hồ hay tùy tiện. Chúng được giải thích thông qua các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, các nghị quyết của cơ quan xét xử và thực tiễn áp dụng pháp luật. Điều này giúp bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức và xử lý các vụ án hình sự.

Việc kết hợp giữa định tính và định lượng là phương pháp lập pháp phổ biến trên thế giới nhằm bảo đảm vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt trước sự biến đổi của tình hình tội phạm. Trong một xã hội đang chuyển đổi mạnh mẽ như Việt Nam, sự kết hợp giữa định tính và định lượng bảo đảm cho pháp luật hình sự phải đủ nghiêm để bảo vệ an ninh, trật tự, công lý; nhưng cũng phải đủ tỉnh táo để không làm triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo và phát triển.

Thứ hai, pháp luật hình sự Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận đi đôi với trách nhiệm pháp lý.

Hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định rõ việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền hội họp, quyền khiếu nại, tố cáo và nhiều quyền cơ bản khác. Các quyền này được Nhà nước thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện theo quy định của pháp luật. Việc bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc xử lý hình sự đối với một cá nhân không thể được thực hiện tùy tiện mà phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Các biện pháp này phải có căn cứ pháp luật, do cơ quan có thẩm quyền quyết định và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan tư pháp. Nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền bào chữa và quyền được xét xử công bằng đều được pháp luật ghi nhận.

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN VEN SÔNG HỒNG Ở HÀ NỘI

 

Trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước và Thành phố Hà Nội đã triển khai nhiều chủ trương, quy hoạch và dự án nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng khu vực ven sông Hồng, từng bước xây dựng không gian đô thị hiện đại, văn minh, đồng thời bảo đảm phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tuy nhiên, trên trang Facebook “Tiếng dân News”, Trần Hùng đã đưa ra những luận điệu sai trái khi cho rằng việc xây dựng các công trình ven sông Hồng là một “canh bạc đô thị”, chỉ nhằm phục vụ “lợi ích nhóm”. Đây là những nhận định phiến diện, thiếu căn cứ, cần được nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, luận điệu cho rằng phát triển khu vực ven sông Hồng là một “canh bạc đô thị” là sự xuyên tạc bản chất khoa học, bài bản của các chủ trương, quy hoạch phát triển đô thị của Đảng và Nhà nước.

Thực tế cho thấy, việc nghiên cứu, quy hoạch và phát triển khu vực ven sông Hồng không phải là quyết định mang tính chủ quan hay mạo hiểm như các đối tượng xuyên tạc. Đây là chủ trương đã được nghiên cứu trong thời gian dài, dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với yêu cầu phát triển của Thủ đô và xu hướng phát triển đô thị hiện đại trên thế giới. Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng đã được xây dựng với sự tham gia của nhiều cơ quan chuyên môn, nhà khoa học, chuyên gia quy hoạch, môi trường và thủy lợi; đồng thời được xem xét kỹ lưỡng về các yếu tố dân cư, hạ tầng, cảnh quan, bảo tồn văn hóa, phòng chống lũ và thích ứng với biến đổi khí hậu.