Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

ĐỪNG ĐỂ NHỮNG LẬP LUẬN PHIẾN DIỆN LÀM LU MỜ THÀNH QUẢ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

 

Trên trang Viettan, Lê Vĩnh Triển đăng tải bài viết “Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm”. Với lối lập luận phiến diện, tác giả cố tình tuyệt đối hóa môi trường giáo dục, nghiên cứu và phát triển nhân tài ở các nước phương Tây; đồng thời quy kết Việt Nam chỉ “nói mà không làm”, không có khả năng phát hiện, đào tạo, thu hút và trọng dụng người tài. Đây là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng thay cho bản chất, lấy những khó khăn còn tồn tại trong quá trình phát triển của Việt Nam để phủ nhận toàn bộ thành tựu, nỗ lực và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; gieo rắc tâm lý sính ngoại, tự ti dân tộc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào triển vọng phát triển đất nước, cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, dùng thủ đoạn đánh tráo “hiện tượng” thành “bản chất” để phủ nhận thành tựu phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam.

Thủ đoạn xuyên suốt trong bài viết của Lê Vĩnh Triển là cố tình lấy một số hiện tượng riêng lẻ để quy kết thành bản chất của môi trường giáo dục và phát triển nhân tài ở Việt Nam. Đây là sự đánh tráo khái niệm trắng trợn. Bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu hóa, dịch chuyển lao động chất lượng cao là xu hướng diễn ra ở mọi quốc gia, kể cả các nước phát triển. Không một quốc gia nào có thể giữ toàn bộ nhân tài của mình, cũng như không quốc gia nào chỉ thu hút mà không bị thất thoát nguồn nhân lực chất lượng cao.

Hơn nữa, trong bài viết Lê Vĩnh Triển còn cố tình lờ đi một thực tế hiển nhiên đó là: Chính nền giáo dục Việt Nam đã đào tạo nên nhiều thế hệ học sinh, sinh viên ưu tú, đủ năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế trên các diễn đàn khoa học, công nghệ quốc tế. Nếu Việt Nam thực sự không biết phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, thì những thành tích nổi bật của học sinh, sinh viên Việt Nam tại các kỳ thi Olympic quốc tế, những nhà khoa học, kỹ sư người Việt đang làm việc tại các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới được hình thành từ đâu? Qua đây có thể khẳng định, việc người tài ra nước ngoài học tập, nghiên cứu không đồng nghĩa với sự thất bại của môi trường phát triển trong nước. Trái lại, đó còn là minh chứng cho chất lượng nguồn nhân lực mà Việt Nam đã đào tạo được. Nhiều người trong số họ sau quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm đã trở về đóng góp cho đất nước hoặc tham gia kết nối nguồn lực quốc tế phục vụ sự phát triển của Việt Nam.

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU BÀI “QUỐC DÂN TÂN SINH HOẠT”

 

Trên Baoquocdan, YLymHa đăng bài viết “Phòng trào Quốc dân tân sinh hoạt” với những luận điệu xuyên tạc bản chất chế độ chính trị ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Y đã lợi dụng những vấn đề về dân chủ, dân sinh, dưới danh nghĩa “canh tân đất nước”, “khai phóng dân trí” hay “dân chủ hóa xã hội”. Luận điệu sai trái này cần được nhận diện và đấu tranh phản bác.

Thứ nhất, Quốc dân tân sinh hoạt” không phải là phong trào dân sinh, dân chủ mà thực chất là đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

YLymHa đã công khai đòi hỏi “chế độ đa đảng chuyển quyền”, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cho rằng, xã hội Việt Nam cần một lực lượng chính trị mới để thay thế vai trò hiện tại. Mục tiêu cốt lõi của bài viết không phải là đóng góp giải pháp phát triển đất nước, mà là tạo dựng cơ sở tư tưởng cho quá trình chuyển hóa chế độ chính trị theo mô hình phương Tây. Y sử dụng các khẩu hiệu như dân chủ, dân quyền, dân sinh để che giấu mục đích chính trị, nhằm gieo vào nhận thức xã hội suy nghĩ rằng mọi khó khăn của đất nước đều bắt nguồn từ mô hình chính trị hiện nay và chỉ có thay đổi thể chế mới giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, thực tiễn chứng minh điều ngược lại.

XUYÊN TẠC LỊCH SỬ, BÔI XẤU LÃNH TỤ: MỘT THỦ ĐOẠN CẦN ĐƯỢC NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH

 

Trên trang Hung-viet, Nguyễn Doãn Đôn đăng tải bài viết “Ông Hồ gian dối, cái của mình thì không dám nhận; lại thích nhận thức của người khác”, cố tình xuyên tạc thân thế, sự nghiệp, nhân cách và di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, tác giả phủ nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là tác giả của tác phẩm Nhật ký trong tù, từ đó quy kết Người là “gian dối”, “nhận thức của người khác”. Đây là sự suy diễn chủ quan, bóp méo lịch sử, phủ nhận những chứng cứ khoa học và thực tiễn đã được khẳng định; đồng thời nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam.

Thứ nhất, Nguyễn Doãn Đôn xuyên tạc sự thật lịch sử, giá trị văn bản và thực tiễn nghiên cứu đã được khẳng định về tác giả của tác phẩm Nhật ký trong tù

Nhật ký trong tù là tập thơ được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943. Tập thơ gồm 133 bài viết bằng chữ Hán, phản ánh chân thực cuộc sống lao tù khắc nghiệt, đồng thời thể hiện bản lĩnh, ý chí cách mạng, tinh thần lạc quan và nhân cách cao đẹp của Người.

Từ khi được công bố đến nay, giá trị lịch sử và tác giả của Nhật ký trong tù đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thẩm định, xác nhận bằng những chứng cứ xác thực. Bản gốc tập thơ hiện vẫn được lưu giữ; nhiều tài liệu lịch sử, hồi ký của những người từng hoạt động cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định quá trình Người sáng tác tác phẩm trong thời gian bị giam giữ. Những đặc điểm về tư tưởng, ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật của tập thơ hoàn toàn thống nhất với tư tưởng, nhân cách và quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.Ngoài ra, Nhật ký trong tù không chỉ được nghiên cứu rộng rãi trong nước, mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Tác phẩm được đánh giá là một di sản văn hóa đặc sắc, kết tinh giữa tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng và giá trị nhân văn sâu sắc.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Trong bài viết “Chính trị thị trường – Tại sao không” trên Thongluan, Đinh Hoàng Thắng đã cố tình suy diễn, xuyên tạc thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay, nhằm phủ nhận đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, gieo rắc hoài nghi và chia rẽ nội bộ. Việc đấu tranh phản bác luận điệu sai trái này là cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào Đảng và chế độ.

 1. Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, nhất quán, không có sự cạnh tranh trong nội bộ

 Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhất quán, không có sự cạnh tranh nội bộ hoàn toàn có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc. Trước hết, về mặt lý luận, Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm này xuất phát từ học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân. Theo đó, để đảm bảo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cần có một lực lượng lãnh đạo thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật cao và mục tiêu rõ ràng. Đồng thời, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ, tức là có thảo luận dân chủ trong nội bộ nhưng khi đã thống nhất thì toàn Đảng hành động như một khối. Điều này không tạo ra cạnh tranh quyền lực theo kiểu đối lập mà hướng đến sự thống nhất ý chí và hành động. Vì vậy, tính “nhất quán” trong đường lối được bảo đảm bởi nền tảng tư tưởng, cương lĩnh chính trị và nguyên tắc tổ chức của Đảng.

KIÊN QUYẾT BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA VÀ ĐỀ CAO THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT TRONG ĐỐI NGOẠI

 

Trên trang Viettan, tác giả Đình Long đã tung ra bài viết xuyên tạc, bóp méo tình hình đất nước dưới luận điệu “ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo”. Bài viết cố tình đưa ra những luận điệu lập lờ, đánh tráo khái niệm giữa việc Việt Nam hội nhập quốc tế với việc các cơ quan chức năng thực thi pháp luật, xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật trong nước. Đây không phải là sự phản biện khách quan mà là thủ đoạn chính trị thâm độc nhằm bôi nhọ thể chế, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và kích động tâm lý hoài nghi trong nhân dân. Cần phải nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, đối nội và đối ngoại là một nguyên lý cơ bản trong đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau nhằm thực hiện một mục tiêu cao nhất: Bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền và phát triển đất nước. Đối nội là gốc, là nền tảng quyết định đối ngoại. Một quốc gia có chính trị ổn định, kinh tế phát triển mạnh mẽ và khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc mới có đủ thực lực để tự tin hội nhập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Mọi hoạt động đối ngoại đều phải xuất phát từ nhu cầu nội tại trong nước. Đối ngoại là sự tiếp nối, hỗ trợ và thúc đẩy đối nội. Ngoại giao giúp mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tiếp thu khoa học công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Đây là những nguồn lực quốc tế vô cùng quan trọng để giải quyết các bài toán đối nội về kinh tế, việc làm và nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời, thông qua hoạt động đối ngoại, xây dựng mạng lưới đối tác chiến lược, tạo thế đan xen lợi ích với các nước. Điều này, giúp ngăn ngừa các nguy cơ xung đột, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không làm gián đoạn tiến trình phát triển đất nước.

SỰ NGỤY BIỆN CỦA NHẬT NGÔN NHẰM PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 

Trên Bloger của Vietnamthoibao, Nhật Ngôn có bài viết: “Những con số biết nói”, cho rằng các số liệu thực tế đã chứng minh rằng: Những quốc gia tôn trọng sở hữu tư nhân, tự do kinh tế và đa nguyên thể chế luôn tạo ra những xã hội giàu mạnh hơn. Ngược lại, các mô hình độc trị, kế hoạch hóa tập trung chỉ làm cho quốc gia trì trệ và tụt hậu. Thực tế, Nhật Ngôn đang cố tình xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và thành tựu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thứ nhất, việc đồng nhất sự phát triển của quốc gia với mô hình đa nguyên chính trị là cách tiếp cận phiến diện, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn.

Nhật Ngôn cố tình tạo ra sự đối lập giữa các quốc gia theo mô hình đa nguyên chính trị với các quốc gia do đảng cộng sản lãnh đạo, từ đó quy kết rằng chỉ có đa nguyên, đa đảng mới tạo ra sự phát triển. Đây là cách suy diễn đơn giản hóa một vấn đề hết sức phức tạp của sự phát triển quốc gia.

Thực tiễn thế giới cho thấy, sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện lịch sử, văn hóa, nguồn lực con người, trình độ khoa học – công nghệ, năng lực quản trị quốc gia, chiến lược phát triển và khả năng thích ứng với bối cảnh quốc tế. Không có bất kỳ cơ sở khoa học nào chứng minh rằng, đa nguyên chính trị là điều kiện tiên quyết hoặc duy nhất để bảo đảm sự giàu mạnh của một quốc gia. Nhiều quốc gia theo mô hình đa đảng vẫn đối mặt với khủng hoảng chính trị kéo dài, xung đột xã hội, bất bình đẳng gia tăng, nợ công lớn và tăng trưởng kinh tế trì trệ. Ngược lại, một số quốc gia do đảng cầm quyền lãnh đạo ổn định đã đạt được những thành tựu phát triển nổi bật về kinh tế, khoa học – công nghệ, giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Điều đó cho thấy không thể lấy tiêu chí đa nguyên hay đơn nguyên chính trị để đánh giá một cách máy móc hiệu quả phát triển của mỗi quốc gia.

Đối với Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử và nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đã giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế theo hướng hiện đại. Thực tiễn gần 40 năm đổi mới đã chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đồng thời là điều kiện bảo đảm ổn định chính trị – xã hội để phát triển kinh tế bền vững. Bởi vậy, việc Nhật Ngôn lấy một số số liệu kinh tế đơn lẻ rồi quy kết rằng mô hình chính trị ở Việt Nam là nguyên nhân của sự kém phát triển không chỉ là sự ngụy biện, mà còn thể hiện động cơ chính trị nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ hai, những thành tựu to lớn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là minh chứng thuyết phục bác bỏ các luận điệu xuyên tạc

Một trong những thủ đoạn của Nhật Ngôn là cố tình bỏ qua những thành tựu phát triển to lớn mà Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng để đưa ra những nhận định sai lệch về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực tế cho thấy, từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế có quy mô thuộc nhóm hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm liên tục duy trì ở mức khá cao; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng hoàn thiện; môi trường đầu tư, kinh doanh liên tục được cải thiện.

QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM: NHỮNG SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

Trên trang Viettan, BBT Việt Tân đăng tải bài viết “Các nhà hoạt động dân chủ lên án hành động “đàn áp xuyên quốc gia” của nhà nước CSVN tại Quốc Hội Châu Âu” để phủ nhận, xuyên tạc những quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tự do, dân chủ; cho rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam đàn áp những nhà tự do, dân chủ xuyên quốc gia, kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước đoàn kết, không khuất phục trước khủng bố. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần phê phán, bác bỏ:

Một là, những cá nhân bị xử lý vì có hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại an ninh quốc gia không phải vì thực hiện quyền tự do, dân chủ.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam “đàn áp những người đấu tranh cho tự do, dân chủ”. Đây là luận điệu sai trái, cố tình đánh đồng giữa việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ chính đáng với những hành vi vi phạm pháp luật, chống phá Nhà nước và xâm hại lợi ích quốc gia. Trên thực tế, Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân theo các chuẩn mực quốc tế và phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã khẳng định, quyền con người, quyền công dân về tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền hội họp, lập hội và tham gia quản lý nhà nước, xã hội. Chương 1, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Bất kỳ quốc gia nào, quyền tự do đều không phải là quyền vô hạn mà phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không được xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân khác. Một số đối tượng lợi dụng danh nghĩa “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” để phát tán thông tin sai sự thật, kích động chống chính quyền, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thậm chí câu kết với các tổ chức phản động ở nước ngoài nhằm gây mất ổn định chính trị – xã hội. Việc các cơ quan chức năng xử lý những hành vi này là thực thi pháp luật, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc chứ không phải “đàn áp dân chủ” như các thế lực chống phá xuyên tạc. Thực tế cho thấy, Việt Nam hiện có hàng trăm cơ quan báo chí, hàng chục nghìn trang thông tin điện tử và hàng chục triệu tài khoản mạng xã hội hoạt động thường xuyên; người dân được bày tỏ quan điểm, tham gia góp ý vào các dự thảo luật, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và các vấn đề quan trọng của đất nước. Đó là những minh chứng sinh động cho việc quyền tự do, dân chủ được bảo đảm ngày càng đầy đủ và thực chất.

VIỆT TÂN ĐÁNH TRÁO BẢN CHẤT, XUYÊN TẠC SỰ THẬT VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Facebook Việt Tân tán phát bài viết “Nghị viện châu Âu gọi tên Việt Nam vì đàn áp xuyên quốc gia”. Bài viết lợi dụng việc Nghị viện châu Âu thông qua Nghị quyết A10-0142/2026 về chống đàn áp xuyên quốc gia để xuyên tạc, quy chụp Việt Nam vi phạm quyền con người, đồng thời đánh tráo bản chất các đối tượng vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia thành “nạn nhân của đàn áp xuyên quốc gia”. Đây là thủ đoạn quen thuộc nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, kích động dư luận và gây hoài nghi đối với chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Những luận điệu này hoàn toàn phiến diện, thiếu căn cứ và cần được nhận diện, bác bỏ.

Thứ nhất, Việt Tân cố tình xuyên tạc nội dung Nghị quyết của Nghị viện châu Âu để quy chụp Việt Nam bị quốc tế lên án là không có cơ sở.

Nghị quyết A10-0142/2026 của Nghị viện châu Âu được ban hành nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống các hành vi đàn áp xuyên quốc gia đối với những trường hợp cụ thể trên phạm vi toàn cầu. Đây là văn bản mang tính chính trị, đưa ra các khuyến nghị đối với Liên minh châu Âu và các quốc gia thành viên, không phải là một phán quyết tư pháp hay kết luận điều tra xác định trách nhiệm pháp lý của bất kỳ quốc gia nào. Thế nhưng, Việt Tân đã cố tình cắt ghép, suy diễn nội dung nghị quyết, biến một văn bản mang tính khuyến nghị thành cái cớ để khẳng định rằng Việt Nam bị cộng đồng quốc tế “lên án” vì thực hiện đàn áp xuyên quốc gia. Đây là thủ pháp đánh tráo khái niệm, thổi phồng thông tin nhằm dẫn dắt dư luận theo hướng tiêu cực.

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU BÀI “QUỐC DÂN TÂN SINH HOẠT”

 

Trên Baoquocdan, YLymHa đăng bài viết “Phòng trào Quốc dân tân sinh hoạt” với những luận điệu xuyên tạc bản chất chế độ chính trị ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Y đã lợi dụng những vấn đề về dân chủ, dân sinh, dưới danh nghĩa “canh tân đất nước”, “khai phóng dân trí” hay “dân chủ hóa xã hội”. Luận điệu sai trái này cần được nhận diện và đấu tranh phản bác.

Thứ nhất, Quốc dân tân sinh hoạt” không phải là phong trào dân sinh, dân chủ mà thực chất là đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

YLymHa đã công khai đòi hỏi “chế độ đa đảng chuyển quyền”, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cho rằng, xã hội Việt Nam cần một lực lượng chính trị mới để thay thế vai trò hiện tại. Mục tiêu cốt lõi của bài viết không phải là đóng góp giải pháp phát triển đất nước, mà là tạo dựng cơ sở tư tưởng cho quá trình chuyển hóa chế độ chính trị theo mô hình phương Tây. Y sử dụng các khẩu hiệu như dân chủ, dân quyền, dân sinh để che giấu mục đích chính trị, nhằm gieo vào nhận thức xã hội suy nghĩ rằng mọi khó khăn của đất nước đều bắt nguồn từ mô hình chính trị hiện nay và chỉ có thay đổi thể chế mới giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, thực tiễn chứng minh điều ngược lại.

KHÔNG THỂ HẠ THẤP VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VÀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI LÀM BÁO

 

Báo chí cách mạng Việt Nam là sản phẩm của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngay từ khi sáng lập nền báo chí cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Trải qua hơn một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc, báo chí cách mạng luôn giữ vững vai trò là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận vai trò đó. Trên trang Vietnamthoibao, Nguyễn Đình Ấm có bài viết “Nhà báo, phóng viên nên làm…của ai” là một biểu hiện điển hình của thủ đoạn chống phá này, nên cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ như sau:

Thứ nhất, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, không có nền báo chí nào đứng ngoài chính trị, đứng ngoài lợi ích giai cấp. Báo chí cách mạng là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và là diễn đàn của Nhân dân, báo chí cách mạng vừa là công cụ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, góp phần tạo nên sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Báo chí là một mặt trận, cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng, người làm báo chân chính, không những phản ánh đúng sự thật mà còn tham gia đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ chân lý, lẽ phải và những giá trị tốt đẹp của xã hội, do đó phải “viết đúng sự thật”, “nói có sách, mách có chứng”. Đó là sự kết hợp thống nhất giữa bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp của người làm báo cách mạng.

ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM PHÁP LÝ – THỦ ĐOẠN QUEN THUỘC CỦA VIỆT TÂN

 

Trên trang Viettan, với chiêu trò cắt ghép thông tin, suy diễn chủ quan, đánh tráo khái niệm pháp lý, Việt Tân đã cố tình quy kết Việt Nam thực hiện “khủng bố” đối với người dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là những luận điệu sai trái hòng tạo hình ảnh sai lệch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, không thể gọi việc thực thi pháp luật là hành động “khủng bố nhà nước”.

Theo các công ước của Liên hợp quốc, khủng bố được hiểu là hành vi sử dụng bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực nhằm gieo rắc sự sợ hãi trong dân thường để đạt mục đích chính trị. Trong khi các đối tượng: Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa, Đặng Thị Huệ… vi phạm pháp luật với các hành vi tuyên truyền chống Nhà nước; lợi dụng quyền tự do dân chủ; quản lý xuất nhập cảnh bị các cơ quan chức năng của Việt Nam xử lý theo trình tự: điều tra, truy tố, xét xử theo đúng quy định tố tụng và hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, với những bản án thích đáng được đông đảo người dân trong nước và cộng đồng quốc tế đồng tình, ủng hộ. Vì vậy, không thể gọi các hành vi tuyên truyền chống nhà nước là là hoạt động vì tự do, nhân quyền, cũng không thể gọi hoạt động “thực thi pháp luật” của Nhà nước là việc “đàn áp”; việc “xử lý hành vi vi phạm pháp luật” là hoạt động “khủng bố”. Thực tế trên thế giới cho thấy, bất kỳ một quốc gia nào cũng đều có hệ thống pháp luật để xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, kích động bạo lực, lật đổ chính quyền hoặc lợi dụng quyền tự do ngôn luận nhằm xâm phạm lợi ích của nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

VẠCH TRẦN CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG SỰ HY SINH CỦA CÁC ANH HÙNG, LIỆT SĨ ĐỂ PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG

 

Trên trang Vietnamthoibao có bài viết “Họ đã nằm xuống – để hôm nay chúng ta được gì?” của Nhật Ngôn. Bài viết cố tình lợi dụng sự hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ để xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước ta, đồng thời phủ nhận thành quả cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Thứ nhất, xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa là sự phủ nhận trắng trợn đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và bản chất nhân văn của chế độ ta.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, tri ân người có công không chỉ là một chính sách xã hội, mà trước hết là đạo lý, là lương tâm, là truyền thống văn hóa bền vững của một dân tộc luôn biết trân trọng quá khứ, biết ơn những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, dù trong chiến tranh hay hòa bình, dù đất nước còn nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm chăm lo thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo nghĩa của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Trên thực tế, chính sách ưu đãi người có công ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, mở rộng cả về đối tượng, chế độ và phương thức thực hiện. Hàng triệu lượt người có công và thân nhân được hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi; nhiều gia đình chính sách được hỗ trợ nhà ở, chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng phục hồi sức khỏe; hàng vạn Bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng; các nghĩa trang liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ được tu bổ, tôn tạo; công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tiếp tục được triển khai với trách nhiệm và tình cảm sâu nặng. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” đã trở thành hoạt động thường xuyên, lan tỏa rộng khắp trong đời sống xã hội.

Thứ hai, phủ nhận thành quả cách mạng của dân tộc là sự xuyên tạc lịch sử, xúc phạm sự hy sinh của các thế hệ đã ngã xuống vì Tổ quốc.

Câu hỏi “họ đã nằm xuống để hôm nay chúng ta được gì?” của Nhật Ngôn nếu được đặt ra bằng thái độ nghiêm túc, trung thực, sẽ dẫn mỗi người Việt Nam đến một câu trả lời thiêng liêng, họ đã nằm xuống để đất nước được độc lập, dân tộc được tự do, non sông được thống nhất, Nhân dân được làm chủ vận mệnh của mình; để hôm nay chúng ta được sống trong hòa bình, được xây dựng, học tập, lao động, sáng tạo trên một đất nước có chủ quyền, có vị thế, có tương lai. Nhưng dưới ngòi bút xuyên tạc, câu hỏi ấy bị biến thành công cụ phủ định, nhằm làm cho người đọc hoài nghi về ý nghĩa của các cuộc kháng chiến, hoài nghi về con đường cách mạng mà dân tộc ta đã lựa chọn.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM

 

Trên nhiều diễn đàn phản động xuất hiện bài viết “Cải cách chống tham nhũng: Động lực cải cách hay giới hạn cấu trúc?” của Vũ Đức Khanh với nhiều nhận định mang tính suy diễn, phiến diện nhằm phủ nhận những thành tựu và nỗ lực của Việt Nam trong công tác phòng, chống tham nhũng. Y trắng trợn cho rằng, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam còn tồn tại nhiều “khoảng trống bảo hiến và ràng buộc pháp lý chưa hoàn chỉnh”, “giám sát xã hội là mắt xích còn thiếu”. Tuy nhiên, thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta là bằng chứng đanh thép, phủ nhận hoàn toàn những luận điệu sai trái đó.

Thứ nhất, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam được triển khai trên cơ sở chính trị – pháp lý vững chắc.

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã xác lập đầy đủ nền tảng hiến định cho việc kiểm soát quyền lực nhà nước và phòng, chống tham nhũng. Điều 2 quy định quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là cơ chế quan trọng nhằm ngăn ngừa lạm quyền, tha hóa quyền lực – nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tham nhũng. Điều 8 của Hiến pháp cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong việc chịu sự giám sát của Nhân dân và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Những quy định này cho thấy không hề tồn tại cái gọi là “khoảng trống bảo hiến” như các đối tượng chống đối cố tình xuyên tạc.

Trên cơ sở các nguyên tắc hiến định, hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng không ngừng được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cùng các văn bản hướng dẫn đã thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực toàn diện thông qua các quy định về công khai, minh bạch, kê khai và kiểm soát tài sản, thu nhập, kiểm soát xung đột lợi ích, trách nhiệm giải trình và xử lý các hành vi tham nhũng. Đồng thời, các luật như Luật Thanh tra, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Tố cáo, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã tạo nên hành lang pháp lý thống nhất, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng.

XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM: THỦ ĐOẠN CŨ KHÔNG CHE LẤP ĐƯỢC SỰ THẬT MỚI

 

Trên trang Machsongmedia, Nguyễn Đình Thắng đã đăng bài với luận điệu xuyên tạc rằng: Việt Nam là “điểm nóng vi phạm sở hữu trí tuệ”, “không tôn trọng bản quyền”, thậm chí quy kết rằng Nhà nước Việt Nam “thiếu năng lực và ý chí bảo hộ tài sản trí tuệ”. Đó không phải là những nhận xét khách quan, mà là sự bóp méo có chủ đích nhằm hạ thấp uy tín quốc gia, phủ nhận nỗ lực cải cách của Việt Nam và gây hoài nghi trong cộng đồng doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư quốc tế, vì thế cần được nhận diện và bác bỏ.

Thứ nhất, Việt Nam rất coi trọng sở hữu trí tuệ.

Hiện nay, vấn đề sở hữu trí tuệ đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm mạnh mẽ và được cộng đồng quốc tế liên tục ghi nhận là một điểm sáng về đổi mới sáng tạo. Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam hiện đứng thứ 44 thế giới về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) và nằm trong nhóm các quốc gia có thành tích vượt trội so với trình độ phát triển kinh tế. Đặc biệt, Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia duy trì thành tích đổi mới sáng tạo vượt kỳ vọng trong suốt nhiều năm liên tiếp. Không có nền đổi mới sáng tạo nào có thể phát triển bền vững nếu quyền sở hữu trí tuệ không được tôn trọng và bảo vệ.

KHÔNG CÓ “PHE QUÂN ĐỘI” NHƯ SỰ XUYÊN TẠC CỦA TRÀ MY

 

Trên trang Thơibao, Trà My đăng bài viết “Phe Quân đội tận dụng đội ngũ yêu nước online để giành lợi thế trước phe Công an” nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò của Quân đội trong việc đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; cho rằng phe Quân đội đã tận dụng lợi thế tuyên truyền trực tuyến để củng cố vị thế và giành được những nhân sự chủ chốt có tầm ảnh hưởng như hiện nay. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần phê phán, bác bỏ:

Một là, luận điệu về “phe Quân đội” chỉ là chiêu trò gieo rắc nhận thức sai lệch về sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Việc cố tình gán ghép khái niệm “phe Quân đội” vào đời sống chính trị Việt Nam là một thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch nhằm gieo rắc nhận thức sai lệch về bản chất của công tác cán bộ, đồng thời làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Thực chất, đây không phải là sự phản ánh khách quan thực tiễn chính trị Việt Nam mà là sự áp đặt tư duy phe phái, đối đầu quyền lực của một số mô hình chính trị khác vào điều kiện đặc thù của Việt Nam.

SỰ THẬT LỊCH SỬ KHÔNG THỂ BỊ “ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN”

 

Trên trang Baoquocdan, Nguyễn Quốc Chánh đăng tải bài viết “Mắc kẹt giữa hai phương Tây” với những luận điệu xuyên tạc lịch sử dân tộc Việt Nam. Bằng cách cố tình so sánh, đánh đồng con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh với chế độ tay sai Ngô Đình Diệm, y bóp méo bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, biến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chính nghĩa thành một cuộc xung đột phe phái hoặc “nội chiến”. Đây là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, đổi trắng thay đen nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp giá trị các thành quả cách mạng, gieo rắc hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Những luận điệu xuyên tạc, sai trái này cần phải được kiên quyết vạch trần và bác bỏ.

Thứ nhất, luận điệu cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chỉ là một “cuộc nội chiến” là sự xuyên tạc trắng trợn bản chất lịch sử, cố tình phủ nhận yếu tố xâm lược của đế quốc Mỹ và tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Khi gọi “Bi kịch Việt Nam thế kỷ XX không phải là cuộc chiến” mà là “nội chiến thuần túy”, Nguyễn Quốc Chánh đã cố tình xóa bỏ vai trò can thiệp và xâm lược của ngoại bang đối với Việt Nam, bình thường hóa hành vi áp đặt ý chí của các thế lực thực dân, đế quốc lên một quốc gia độc lập. Đây là thủ đoạn đánh đồng bên xâm lược với bên bị xâm lược, biến khát vọng độc lập, tự do, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam thành một cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị. Lập luận này cũng cố tình phủ nhận những sự kiện lịch sử và cơ sở pháp lý đã được ghi nhận. Chính quyền Ngô Đình Diệm là một chính quyền do Mỹ hậu thuẫn dựng lên, phế truất Bảo Đại để thành lập cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa”, ngang nhiên từ chối thực hiện Tổng tuyển cử theo Hiệp định Genevơ năm 1954, phá hoại tiến trình hòa bình và duy trì sự chia cắt đất nước. Việc Ngô Đình Diệm tuyên bố “biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17” càng cho thấy bản chất lệ thuộc vào Mỹ, đi ngược lại lợi ích dân tộc và các cam kết quốc tế.

Sự thật lịch sử đã khẳng định, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam không phải là cuộc chiến tranh giành quyền lực hay xung đột giữa hai lực lượng ngang hàng, mà là cuộc đấu tranh chính nghĩa nhằm giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước trước sự xâm lược của đế quốc Mỹ và chế độ tay sai. Mọi sự đánh đồng giữa chính nghĩa và phi nghĩa đều là sự xuyên tạc lịch sử, phục vụ mưu đồ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và thành quả cách mạng.

TÊN GỌI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – BIỂU TƯỢNG CỦA ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT VÀ KHÁT VỌNG DÂN TỘC

 

Trên trang Baoquocdan, bút danh Quê hương đăng bài viết “Phong trào quốc dân đòi trả tên Sài Gòn”. Dưới vỏ bọc “yêu Sài Gòn”, “giữ gìn ký ức đô thị”, bài viết đã cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận ý nghĩa tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh, bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh, kích động tâm lý hoài niệm chế độ cũ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây không phải là sự bày tỏ tình cảm với một địa danh, mà là thủ đoạn chính trị lợi dụng vấn đề tên gọi để phủ nhận thành quả cách mạng, chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.

Thứ nhất, tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh là sự ghi nhận lịch sử, thể hiện ý chí thống nhất đất nước và lòng biết ơn sâu nặng của Nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sài Gòn là địa danh có lịch sử, văn hóa, tình cảm riêng trong lòng nhiều thế hệ người Việt Nam. Không ai phủ nhận điều đó. Nhưng cũng không thể vì tình cảm với một địa danh mà cố tình cắt rời Sài Gòn khỏi lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Mảnh đất ấy từng chứng kiến biết bao hy sinh của đồng bào, chiến sĩ miền Nam trong cuộc kháng chiến chống xâm lược. Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, việc đặt tên Thành phố Hồ Chí Minh là sự ghi nhận thắng lợi vĩ đại của dân tộc, đánh dấu miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối.