Gần đây, trang Boxitvn, Tuấn Huỳnh đã tung ra một bài viết với cái nhìn đầy định kiến, so sánh một cách khập khiễng và phiến diện về trình độ phát triển công nghệ của Việt Nam so với các “con rồng” Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay Trung Quốc. Với thủ đoạn “lấy hiện tượng thay bản chất”, Tuấn Huỳnh đã cố tình lờ đi bối cảnh lịch sử, xuất phát điểm và những đặc thù chính trị, xã hội để Phủ nhận thành tựu của 40 năm Đổi mới, công kích đường lối phát triển kinh tế và khoa học công nghệ của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ nhất,Tuấn Huỳnh dùng thủ đoạn, đánh tráo khái niệm để phủ nhận nỗ lực bứt phá của dân tộc Việt Nam.
Thực tế cho thấy, khi các quốc gia Đông Á bắt đầu bứt phá công nghệ (những năm 60 -70 của thế kỷ trước), họ không phải gánh chịu hậu quả của hàng thập kỷ chiến tranh hủy diệt và lệnh cấm vận nghiệt ngã như Việt Nam. Việt Nam bước vào công cuộc Đổi mới (1986) từ một nền kinh tế kiệt quệ, lạm phát phi mã lên tới 774,7%, lương thực không đủ ăn. Trong khi đó, Nhật Bản hay Hàn Quốc đã có nền tảng công nghiệp nặng từ trước hoặc nhận được những gói viện trợ khổng lồ và sự chuyển giao công nghệ đặc hữu từ phương Tây.
Mặc dù với xuất phát điểm rất thấp, thu nhập bình quân đầu người năm 1986 chỉ khoảng 100 USD, sản xuất công nghiệp lạc hậu, khoa học công nghệ gần như không có nền tảng đáng kể, thế nhưng sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã trở thành điểm sáng về tăng trưởng kinh tế, đây là một kỳ tích mà cả thế giới phải ngả mũ và thừa nhận. Tính đến năm 2025, GDP của Việt Nam đạt mức tăng trưởng 8,02%. Quy mô nền kinh tế ước đạt 514 tỷ USD, chính thức vượt qua mốc 500 tỷ USD như kỳ vọng. Về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), theo báo cáo mới nhất, Việt Nam tiếp tục giữ vững vị trí trong nhóm 45 quốc gia dẫn đầu và là điểm sáng trong các nước thu nhập trung bình thấp.
Trong bài viết “Giàu nghèo Việt Nam hôm nay thật lố bịch” trên Baotiengdan, Lâm Văn Bé đã xuyên tạc rằng “tỉ số người nghèo cùng cực vẫn còn rất cao”, “VN đứng hạng gần với Phi Châu là các quốc gia nghèo, độc tài, chậm tiến” … Đây là những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình Việt Nam, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và chế độ ta
Thứ nhất, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Nếu có cái nhìn khách quan và không định kiến thì ai cũng biết được, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, vươn tới những thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, hàng năm phải nhập khẩu lương thực, đến giai đoạn 2021 – 2025 tăng trưởng kinh tế nước ta đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới, đặc biệt tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD gấp 104 lần so với năm 1986, gấp 2,73 lần so với năm 2011, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức uy tín quốc tế đánh giá cao. Những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế đã không ngừng tăng cường điều kiện phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống Nhân dân và nâng cao chất lượng bảo đảm an sinh xã hội, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58,1% (1993) xuống còn 1,3% (2025).
Sau chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư Tô Lâm đến Trung Quốc (từ ngày 14 – 17/4/2026). Trên trang Viettan đã đăng tải bài viết: “Quan điểm của Việt Tân về chuyến thăm Trung Quốc của Tô Lâm”. Dưới vỏ bọc “phân tích chính trị”, bài viết thực chất lặp lại các luận điệu quen thuộc: Bóp méo quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, kích động tâm lý nghi ngờ, chia rẽ và phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam: “Chuyến đi vội vã này là tín hiệu chính trị rõ ràng: Hà Nội đang lún sâu hơn quỹ đạo lệ thuộc vào Bắc Kinh”. Những luận điệu này thể hiện rõ động cơ chính trị thù địch, thiếu thiện chí, cần được nhận diện và bác bỏ như sau:
Thứ nhất, suy đoán, lập luận vô căn cứ “Việt Nam ngày càng lún sâu vào quỹ đạo lệ thuộc Bắc Kinh”.
Việt Tân cố tình đánh đồng quan hệ hợp tác với sự “lệ thuộc”, bỏ qua thực tế rằng Việt Nam kiên trì nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Nếu thực sự “lệ thuộc”, Việt Nam khó có thể đồng thời thiết lập và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều quốc gia lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu… trong những năm gần đây.
Thực tế cho thấy, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là mối quan hệ tốt đẹp, phát triển ổn định; hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước phát triển mạnh là điều tất yếu do yếu tố địa lý, chuỗi cung ứng khu vực và lợi ích song phương. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với phụ thuộc. Ngược lại, Việt Nam đã và đang chủ động tái cấu trúc nền kinh tế, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP… nhằm giảm thiểu rủi ro và tăng tính tự chủ.
Trên trang Boxitvn, Giáo sư Stephen Young, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng đăng bài viết “Việt Nam trước ngã rẽ” để phủ nhận, xuyên tạc những quan điểm, đường lối của Đảng về cải cách thể chế pháp luật, cho rằng: Cải cách thể chế ở Việt Nam chỉ là một bóng ma, tập hợp của các mối ràng buộc, lợi ích đan xen, vừa bảo vệ hệ thống khỏi sự sụp đổ đột ngột, vừa khiến cải cách trở nên rủi ro. Đây là luận điểm hoàn toàn sai trái, phản động, cần phê phán, bác bỏ.
Một là, cải cách thể chế ở Việt Nam là thực chất, không phải “bóng ma”.
Cải cách thể chế ở Việt Nam không tồn tại tách rời, mà gắn chặt với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mọi hoạt động của Nhà nước được tổ chức và vận hành trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật. Chính yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền đã đặt ra động lực và phương hướng cho cải cách thể chế: Hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, nâng cao tính minh bạch, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý nhà nước.
Thực tiễn chứng minh rằng, cải cách thể chế đã góp phần quan trọng vào việc định hình một Nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nếu cải cách chỉ là “bóng ma”, thì không thể có những chuyển biến rõ rệt trong việc đề cao thượng tôn pháp luật và trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền. Hơn nữa, việc cải cách thể chế được tiến hành theo lộ trình, từng bước, có tính toán và điều chỉnh linh hoạt phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Đây không phải là biểu hiện của sự trì trệ hay hình thức, mà là cách tiếp cận thận trọng, khoa học nhằm bảo đảm sự ổn định chính trị – xã hội, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững. Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, những cải cách nóng vội, thiếu kiểm soát dễ dẫn đến khủng hoảng, thậm chí làm suy yếu hoặc phá vỡ hệ thống. Trong quá trình cải cách thể chế luôn tồn tại những ràng buộc và sự đan xen lợi ích giữa các chủ thể khác nhau. Tuy nhiên, đây là đặc điểm phổ biến của mọi hệ thống chính trị – xã hội, không phải là hiện tượng riêng của Việt Nam. Việt Nam đã và đang từng bước hoàn thiện các cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường tính công khai, minh bạch, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, qua đó hạn chế những tác động tiêu cực của lợi ích nhóm, đồng thời phát huy những yếu tố tích cực phục vụ cho quá trình phát triển.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đường lối đối ngoại của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không ngừng đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo bản chất và phủ nhận những kết quả đó. Việc nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, đồng thời khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại là yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
1.Phản bác luận điệu sai trái, cho rằng Việt Nam “phụ thuộc” vào các nước lớn, “thiếu nhất quán” trong chính sách đối ngoại hoặc “đánh đổi chủ quyền để hội nhập”.
Cần khẳng định, đây là những nhận định phiến diện, thiếu cơ sở thực tiễn, bởi đường lối đối ngoại của Việt Nam luôn nhất quán trên nguyên tắc độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên hàng đầu. Việc Việt Nam thiết lập và phát triển quan hệ với nhiều quốc gia, bao gồm cả các nước lớn, không phải là biểu hiện của sự phụ thuộc, mà là minh chứng cho chính sách đối ngoại linh hoạt, cân bằng và khôn khéo. Việt Nam không liên minh quân sự, không dựa vào nước này để chống nước kia, mà chủ động xây dựng quan hệ đối tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.
Trên trang Thongluan, Lê Thân có bài viết “Sửa đổi tổng thể Hiến pháp 2013 là sửa đổi theo định hướng nào”, Y còn mượn cớ cho rằng: “Xem xét sửa đổi Điều 4 theo hướng đặt lợi ích quốc gia – dân tộc và chủ quyền nhân dân làm kim chỉ nam tối thượng…”. Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc Hiến pháp để thực hiện mục tiêu hướng lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Thứ nhất,cần hiểu đúng cơ chế lập hiến và Hiến pháp Việt Nam.
Ở Việt Nam, Hiến pháp phản ánh ý chí và nguyện vọng chung của dân tộc và toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam; là cơ sở pháp lý cho xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), cũng như Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định rõ: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt Nam được giao cho các cơ quan khác nhau trong nhà nước, trong đó: Quốc hội Việt Nam là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng, cốt yếu của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Chỉ có Quốc hội mới có đủ thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền lợi ích quốc gia và các vấn đề trọng đại của đất nước. Cùng với quyền lập hiến, Quốc hội cũng là cơ quan có quyền sửa đổi Hiến pháp. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Các cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân) là cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Mới đây, trên trang Vietnamthoibao, Đặng Đình Mạnh đã đăng bài: “Có chủ trương loại bỏ luật sư ra khỏi đời sống xã hội Việt Nam” với luận điệu xuyên tạc cho rằng việc nghiên cứu, đề xuất Chế định luật sư công ở Việt Nam là bước đi nhằm “loại bỏ luật sư” khỏi đời sống xã hội. Đây là cách diễn giải sai lệch, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn, đồng thời phủ nhận những nỗ lực bền bỉ của Việt Nam trong việc hoàn thiện thể chế pháp lý, phát triển đội ngũ luật sư và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thứ nhất, cần khẳng định, Chế định luật sư công không phải là một phát kiến nhằm thay thế hay triệt tiêu vai trò của luật sư tư, mà là một thiết chế bổ trợ trong hệ thống tư pháp. Ở nhiều quốc gia, mô hình luật sư công tồn tại song song với luật sư hành nghề độc lập nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công lý cho những nhóm yếu thế, người không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý. Do đó, việc nghiên cứu áp dụng mô hình này ở Việt Nam, nếu có, phải được nhìn nhận như một bước tiến nhằm mở rộng phạm vi bảo vệ quyền con người, chứ không phải là sự thu hẹp hay phủ nhận vai trò của luật sư.
Luận điệu của Nguyễn Đình Mạnh cho rằng Việt Nam muốn “loại bỏ luật sư” đã cố tình bỏ qua thực tế rằng trong nhiều năm qua, Nhà nước đã ban hành và liên tục hoàn thiện khung pháp lý để phát triển nghề luật sư. Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập tổ chức hành nghề, nâng cao tiêu chuẩn đào tạo, bồi dưỡng và đạo đức nghề nghiệp. Số lượng luật sư gia tăng nhanh chóng, phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng, từ tham gia tố tụng đến tư vấn pháp lý, đại diện ngoài tố tụng, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Trong bài viết “Chuẩn bị cho cuộc đối thoại nhân quyền Hoa Kỳ – Việt Nam: Kêu gọi đồng hương đóng góp thông tin” trên trang Machsongmedia, BPSOS đã cố tình xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, phủ nhận những nỗ lực và thành tựu bảo đảm quyền con người của Đảng, Nhà nước ta, đồng thời kêu gọi “quốc tế hóa” các vấn đề nội bộ. Thủ đoạn của đối tượng là núp bóng “thu thập thông tin”, “bảo vệ nhân quyền” để lựa chọn, bóp méo thông tin một chiều; lấy hiện tượng cá biệt để quy kết bản chất; từ đó tạo cớ gây sức ép chính trị từ bên ngoài. Đây không phải là hoạt động thiện chí, càng không phải tiếng nói khách quan, mà là sự áp đặt định kiến, phục vụ mưu đồ chống phá Việt Nam.
Thứ nhất, luận điệu phủ nhận thành tựu nhân quyền ở Việt Nam là sự xuyên tạc trắng trợn thực tiễn và nền tảng pháp lý của chế độ ta.
Về bản chất, quyền con người ở Việt Nam không phải là khẩu hiệu hình thức, mà là giá trị được hiến định và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định rõ Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; mọi quyền đều được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Đây là nguyên tắc nền tảng của một nhà nước pháp quyền, đồng thời bác bỏ hoàn toàn luận điệu cho rằng Việt Nam “vi phạm nhân quyền có hệ thống”.
Trên trang Vietnamthoibao, Chu Đông Gia đăng bài viết “Tiềm năng cho phát triển ở Việt Nam đến từ đâu”. Y lập luận, so sánh, suy diễn một cách kệch cỡm, thiếu cơ sở khoa học giữa Trung Quốc và Việt Nam về cách thức, biện pháp lựa chọn và sử dụng nhân tài để phát triển đất nước; cho rằng ở Việt Nam thiếu những cơ chế, chính sách hấp dẫn để trọng dụng nhân tài, vì vậy, nhiều nhân tài mãi ở dạng tiềm năng. Đây là luận điệu sai trái, cần phê phán, bác bỏ:
Một là, Việt Nam đã có hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện để thu hút, trọng dụng và phát huy nhân tài.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm coi con người là trung tâm, là chủ thể, đồng thời là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển. Từ nhận thức đó, hệ thống quan điểm, đường lối và chính sách về phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài đã từng bước được xây dựng tương đối đồng bộ. Nhiều nghị quyết, chiến lược lớn về phát triển nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học, công nghệ đã được ban hành, tạo nền tảng chính trị – pháp lý quan trọng cho việc trọng dụng nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, như: Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24-11-2023 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới;Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 31-7-2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050… Ở cấp độ địa phương và ngành, nhiều cơ chế đặc thù mang tính đột phá đã được ban hành nhằm thu hút và giữ chân nhân tài, như: hỗ trợ tài chính ban đầu, bố trí nhà ở, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, giao nhiệm vụ phù hợp với năng lực và sở trường. Như vậy, có thể khẳng định Việt Nam không hề thiếu cơ chế, chính sách cho việc trọng dụng nhân tài; trái lại, hệ thống này đang từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng để phát huy tối đa tiềm năng con người phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước.
Hai là, hạn chế về phát huy nhân tài nếu có do thực thi chưa đồng bộ, không phải do thiếu cơ chế.
Thực tiễn cho thấy, bên cạnh hệ thống chính sách tương đối đầy đủ, việc phát huy nhân tài ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế nhất định. Tuy nhiên, những hạn chế này không bắt nguồn từ việc thiếu cơ chế, chính sách, mà chủ yếu nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương việc cụ thể hóa chủ trương, chính sách còn chậm; cách thức tuyển dụng, sử dụng cán bộ đôi khi vẫn mang tính hành chính, chưa thật sự linh hoạt, chưa gắn chặt với năng lực và hiệu quả công việc. Có nơi mạnh dạn đổi mới, tạo môi trường thuận lợi để nhân tài phát huy năng lực; nhưng cũng có nơi còn tâm lý e ngại, thiếu quyết liệt trong việc trao quyền, giao nhiệm vụ cho người có năng lực vượt trội. Sự khác biệt này dẫn đến hiệu quả sử dụng nhân tài chưa thật sự đồng đều trên phạm vi cả nước. Trên thực tế, đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ quản lý có trình độ cao đã và đang có những đóng góp rất quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh… Những thành tựu trong tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phòng chống dịch bệnh, bảo vệ chủ quyền quốc gia… đều có dấu ấn rõ nét của lực lượng này. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhiều trí thức Việt Nam ở nước ngoài cũng đã trở về hoặc tham gia đóng góp cho đất nước thông qua các chương trình hợp tác, chuyển giao tri thức, nghiên cứu khoa học.
Trên trang Vietnamthoibao, Chu Đông Gia đăng bài viết “Tiềm năng cho phát triển ở Việt Nam đến từ đâu”. Y lập luận, so sánh, suy diễn một cách kệch cỡm, thiếu cơ sở khoa học giữa Trung Quốc và Việt Nam về cách thức, biện pháp lựa chọn và sử dụng nhân tài để phát triển đất nước; cho rằng ở Việt Nam thiếu những cơ chế, chính sách hấp dẫn để trọng dụng nhân tài, vì vậy, nhiều nhân tài mãi ở dạng tiềm năng. Đây là luận điệu sai trái, cần phê phán, bác bỏ:
Một là, Việt Nam đã có hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện để thu hút, trọng dụng và phát huy nhân tài.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm coi con người là trung tâm, là chủ thể, đồng thời là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển. Từ nhận thức đó, hệ thống quan điểm, đường lối và chính sách về phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài đã từng bước được xây dựng tương đối đồng bộ. Nhiều nghị quyết, chiến lược lớn về phát triển nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học, công nghệ đã được ban hành, tạo nền tảng chính trị – pháp lý quan trọng cho việc trọng dụng nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, như: Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24-11-2023 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới;Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 31-7-2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050… Ở cấp độ địa phương và ngành, nhiều cơ chế đặc thù mang tính đột phá đã được ban hành nhằm thu hút và giữ chân nhân tài, như: hỗ trợ tài chính ban đầu, bố trí nhà ở, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, giao nhiệm vụ phù hợp với năng lực và sở trường. Như vậy, có thể khẳng định Việt Nam không hề thiếu cơ chế, chính sách cho việc trọng dụng nhân tài; trái lại, hệ thống này đang từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng để phát huy tối đa tiềm năng con người phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước.
Trong bài viết “Từ “vừa chạy vừa xếp hàng” đến yêu cầu hoàn thiện mô hình chính quyền hai cấp”, Tô Văn Trường đã đưa ra một số nhận định mang tính hoài nghi về quá trình cải cách tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam. Các lập luận như “quá tải hệ thống”, “tinh giản nhưng mất người giỏi” hay hàm ý việc triển khai cải cách là “vừa làm vừa dò đường” không chỉ phiến diện, mà còn chưa phản ánh đúng bản chất, mục tiêu và thực tiễn của quá trình đổi mới bộ máy nhà nước hiện nay. Những luận điệu này cần được nhìn nhận và phản bác một cách khách quan, khoa học.
Thứ nhất, cải cách tổ chức bộ máy không gây “quá tải hệ thống” mà nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia
Tô Văn Trường cho rằng việc, tinh gọn bộ máy có thể dẫn đến tình trạng “quá tải hệ thống”. Đây là cách nhìn mang tính cơ học, thiếu cơ sở thực tiễn và chưa đặt trong tổng thể đổi mới phương thức quản trị hiện đại. Bởi lẽ, cải cách tổ chức bộ máy ở Việt Nam không đơn thuần là giảm số lượng đầu mối hay biên chế, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện, gắn với đổi mới chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và đặc biệt là ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Khi các quy trình được số hóa, liên thông và minh bạch hơn, khối lượng công việc không tăng lên theo cách tuyến tính với số lượng cán bộ, ngược lại, hiệu suất xử lý được nâng cao rõ rệt.
Trên Baoquocdan, Đào Tăng Dực/ Úc Châu đăng bài viết “Văn hoá dân tộc và nhận định chính trị”. Bài viết lợi dụng vấn đề văn hoá và chính trị Việt Nam để truyền bá dân chủ phương Tây, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo ra sự lung lay về lý tưởng, phá vỡ nền tảng chính trị và sự ổn định đất nước. Họ đã cố tình lồng ghép các nhận định về văn hoá dân tộc với các quan điểm chính trị để dẫn dắt dư luận theo hướng có chủ ý nhằm làm sai lệch nhận thức. Cần phân tích rõ để thấy bản chất phiến diện của luận điệu này.
Thứ nhất, gắn vấn đề văn hoá dân tộc với mục tiêu “truyền bá dân chủ phương Tây” là một sự đánh tráo khái niệm
Văn hoá là kết tinh của lịch sử, truyền thống và quá trình phát triển lâu dài của mỗi dân tộc. Trong khi đó, các mô hình dân chủ cụ thể lại gắn với điều kiện kinh tế, chính trị và lịch sử riêng của từng quốc gia. Việc lấy một hệ giá trị chính trị nhất định rồi áp đặt như một chuẩn mực phổ quát, sau đó dùng các yếu tố văn hoá để biện minh cho sự áp đặt đó là không phù hợp với thực tiễn đa dạng của đời sống chính trị thế giới.
Trong bài viết “Bẩy dấu hiệu Đảng đang kéo đất nước về thời bao cấp”, trên Vietnathoibao, Lý Thái Hùng đã cố tình suy diễn, xuyên tạc những thành tựu trong lãnh đạo đất nước, quyền tự do, dân chủ của Nhân dân, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, gieo rắc hoài nghi và chia rẽ nội bộ. Vì vậy, việc đấu tranh phản bác luận điệu sai trái này là cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò quan trọng, là lực lượng duy nhất có đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực lãnh đạo đất nước phát triển toàn diện trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” thể hiện trước hết ở năng lực định hướng chiến lược và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước. Đảng là lực lượng duy nhất có đủ bản lĩnh chính trị, tầm nhìn và kinh nghiệm lịch sử để xác định con đường đi lên phù hợp với điều kiện Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt, Đảng đề ra các chủ trương phát triển kinh tế nhanh, bền vững, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thúc đẩy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, qua đó tạo nền tảng cho đất nước bứt phá.
Báo cáo “Chỉ số tự do báo chí toàn cầu năm 2026” của tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) tiếp tục xếp Việt Nam ở nhóm cuối bảng và đưa ra nhiều nhận định phiến diện, thiếu khách quan về tình hình báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam. Đây không phải là lần đầu tiên tổ chức này sử dụng những tiêu chí mang nặng định kiến chính trị, áp đặt mô hình phương Tây để đánh giá các quốc gia có chế độ chính trị khác biệt. Đằng sau những báo cáo tưởng như “trung lập” ấy là thủ đoạn lợi dụng danh nghĩa “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” nhằm gây sức ép chính trị, xuyên tạc thực tiễn dân chủ ở Việt Nam, phục vụ mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam.
Thứ nhất, cần nhận rõ bản chất và thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc từ RSF.
Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) thường dựa vào các nguồn tin thiếu kiểm chứng, phiến diện từ số đối tượng chống đối cực đoan, phần tử cơ hội chính trị, cá nhân vi phạm pháp luật rồi quy kết rằng Việt Nam “đàn áp tự do báo chí”. Họ cố tình đánh đồng việc xử lý các hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để chống Nhà nước, xuyên tạc, kích động chống phá, xâm phạm lợi ích quốc gia với cái gọi là “đàn áp tiếng nói bất đồng”. Đây là sự ngụy biện nguy hiểm, đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế rằng mọi quyền tự do đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật và không được xâm hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
Thực tế cho thấy, ở bất kỳ quốc gia nào, kể cả các nước phương Tây thường tự nhận là “thiên đường tự do báo chí”, quyền tự do ngôn luận cũng không phải là quyền vô hạn. Nhiều nước có các đạo luật nghiêm ngặt về an ninh mạng, chống kích động bạo lực, chống tin giả, chống khủng bố, bảo vệ bí mật quốc gia… Tuy nhiên, khi Việt Nam xử lý những cá nhân lợi dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền chống Nhà nước, kích động hận thù, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước thì RSF lại cố tình bóp méo thành “đàn áp tự do báo chí”. Đó là biểu hiện rõ ràng của tiêu chuẩn kép và động cơ chính trị thiếu thiện chí.
Trên trang Vietnamthoibao, Phạm Tiêu Dao có bài viết: “Xã hội này của ai?”, cho rằng xã hội Việt Nam được tuyên bố là tài sản chung của Nhân dân, nhưng hàng ngày lại bảo vệ quyền sở hữu thực tế của một thiểu số có quyền lực. Thực tế, Phạm Tiêu Dao đang cố tình xuyên tạc, phủ nhận bản chất nhà nước “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nghi ngờ về quyền sở hữu đất đai, bóp méo mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do nhân dân quản lý và điều hành xã hội. Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quyền làm chủ của Nhân dân, gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Thực hiện hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Trước, trong và sau chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong, các phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã tung ra nhiều luận điệu sai trái, nhằm xuyên tạc mục đích, ý nghĩa của chuyến thăm, chống phá đường lối đối ngoại, hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đáng chú ý, trên trang Boxitvn, Đinh Hoàng Thắng đăng bài: “Việt – Ấn với “Đối tác Chiến lược tăng cường” (ECSP): Làm cho rõ mặt đôi ta…”. Nội dung bài viết Y đưa ra luận điệu: Hai nước nâng cấp quan hệ lên “Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường”, cụ thể cho rằng: “hợp tác an ninh thì có thật, nhưng ngôn ngữ công khai lại được phi quân sự hóa”, “Việt Nam đang cố gắng tham gia nội dung nhưng tránh tham gia nhãn hiệu”, gọi đó là một phong thái đối ngoại “Cây Tre 2.0”. Những luận điệu này không chỉ thể hiện sự suy diễn thiếu thiện chí, mà còn nhằm chia rẽ mối quan hệ “Đối tác Chiến lược tăng cường” giữa Việt Nam với Ấn Độ; xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam.
1.Quan hệ Việt Nam – Ấn Độ là mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, được xây dựng trên nền tảng tin cậy chính trị, lợi ích song trùng và tôn trọng luật pháp quốc tế.
Lịch sử quan hệ Việt Nam – Ấn Độ bắt nguồn từ quá trình giao lưu văn hoá, tôn giáo từ hơn 2000 năm trước; được lãnh tụ Hồ Chí Minh, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru gây dựng, vun đắp. Tiếp đó, hai nước luôn ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và công cuộc đổi mới, Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ tích cực, mạnh mẽ, thực chất của Chính phủ và Nhân dân Ấn Độ.
Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tới Cộng hòa Ấn Độ là để củng cố và làm sâu sắc hơn mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Ấn Độ; tăng cường niềm tin chiến lược và quan hệ giữa hai nước; khẳng định Ấn Độ là một đối tác “Chiến lược toàn diện” của Việt Nam; nâng cao uy tín, vị thế, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.
Chuyến thăm đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, tạo dấu ấn quan trọng trong quan hệ Việt Nam – Ấn Độ. Hai bên khẳng định quyết tâm tiếp tục củng cố tin cậy chính trị, tăng cường trao đổi cấp cao và thúc đẩy quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện”. Nhiều nội dung hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và giáo dục, đào tạo đã được thống nhất, ký kết, mở ra triển vọng phát triển mạnh mẽ hơn. Hai nước cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở khu vực, trên cơ sở luật pháp quốc tế…được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Gần đây, trên Vietnamthoibao, đối tượng Thùy Linh đăng tải bài viết với tiêu đề “Cơ quan Nhà nước có quyền đình chỉ chức vụ tôn giáo: quản lý hay lấn sân”, đưa ra những lập luận sai lệch về dự thảo sửa đổi Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo ở Việt Nam. Bài viết cố tình đánh tráo bản chất vấn đề khi cho rằng việc Nhà nước có thẩm quyền đình chỉ chức vụ tôn giáo là biểu hiện “lấn sân”, “vi phạm Hiến pháp” và trái với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR). Đây là luận điệu không mới nhưng nguy hiểm, bởi nó nhằm phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước, kích động nhận thức sai lệch về tự do tôn giáo.
Một là, quy định Nhà nước có quyền đình chỉ chức vụ tôn giáo trong trường hợp vi phạm pháp luật không phải là “lấn sân”, mà là yêu cầu tất yếu của quản lý nhà nước pháp quyền.
Tôn giáo, dù thuộc lĩnh vực tinh thần, nhưng không tồn tại trong trạng thái biệt lập mà luôn gắn với các thiết chế xã hội cụ thể: Tổ chức, nhân sự, tài sản và hoạt động cộng đồng. Một chức sắc tôn giáo không chỉ thực hành niềm tin, mà còn có ảnh hưởng xã hội nhất định. Khi đã có tác động xã hội, thì mọi hoạt động liên quan đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật. Đây không phải là đặc thù của Việt Nam mà là nguyên tắc phổ biến ở mọi quốc gia có chủ quyền. Vì vậy, việc dự thảo luật quy định cơ quan nhà nước có quyền đình chỉ chức vụ tôn giáo đối với những cá nhân vi phạm pháp luật thực chất là nhằm bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội, đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo để phục vụ các mục đích phi tôn giáo.