Nhân chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, một số trang mạng phản động đã cố tình hạ thấp, phủ nhận ý nghĩa việc Việt Nam tham dự, cho rằng đây chỉ là hoạt động mang tính hình thức, không đem lại lợi ích thiết thực cho đất nước. Những quan điểm này cố tình xem nhẹ vai trò ngày càng lớn của không gian vũ trụ, phủ nhận đóng góp của Việt Nam vào các vấn đề quốc tế mới và hạ thấp hiệu quả hoạt động đối ngoại của đất nước. Đây không phải là cách nhìn khách quan mà là sự suy diễn sai lệch, phiến diện, cần phải nhận diện và đấu tranh bác bỏ.
Thứ nhất, Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ khẳng định sự chủ động, tích cực trong hội nhập quốc tế và nâng cao vị thế đất nước.
Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ được tổ chức tại Paris ngày 9 và 10/9/2026, nhằm thúc đẩy đối thoại, hợp tác quốc tế và trao đổi về các nguyên tắc, quy tắc, khuôn khổ quản trị trong lĩnh vực không gian vũ trụ. Việc Việt Nam tham dự hội nghị ở cấp cao thể hiện sự chủ động tham gia những vấn đề mới có ý nghĩa ngày càng lớn đối với sự phát triển của các quốc gia và cộng đồng quốc tế.
Trên trang Boxitvn, Nguyễn Ngọc Chu đăng bài viết “Chính quyền địa phương 2 cấp – Khó khăn, thách thức và giải pháp” để phủ nhận, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tinh, gọn hệ thống chính trị các cấp. Y cho rằng: Việc vận hành mô hình 2 cấp nhưng lại giữ nguyên tư duy “Tập trung – Quản trị thứ bậc”, khiến cho bộ máy rơi vào trạng thái quá tải, nghẹt thở ở cấp xã như hiện nay. Đây là cách nhìn phiến diện, đồng nhất giữa mô hình tổ chức và khối lượng công việc, cần phê phán, bác bỏ:
Một là,việc vận hành mô hình 2 cấp ở Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ cơ chế phân cấp, phân quyền và quản trị.
Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp ở Việt Nam không đồng nghĩa với việc làm gia tăng quá tải ở cấp xã. Cách nhìn cho rằng mô hình mới chỉ là sự “dồn việc” từ cấp trên xuống cơ sở là phiến diện, bởi bản chất của mô hình 2 cấp là tái cấu trúc thẩm quyền, trách nhiệm và phương thức quản trị, đưa việc giải quyết các vấn đề sát dân hơn, đồng thời nâng cao tính chủ động của chính quyền cơ sở. Sức ép đối với cấp xã trong quá trình vận hành mô hình 2 cấp được xem là tín hiệu để nhận diện những điểm chưa đồng bộ của thể chế, chứ không phải bằng cách phủ định mô hình. Thực tiễn cho thấy, ở đâu nhiệm vụ được giao nhưng thẩm quyền chưa tương xứng, ở đó dễ phát sinh ách tắc; ở đâu trách nhiệm được xác định nhưng nhân lực, tài chính, dữ liệu và công cụ quản trị chưa đáp ứng, ở đó dễ hình thành quá tải. Điểm cốt lõi không nằm ở việc cấp xã “gánh thêm bao nhiêu việc”, mà ở chỗ việc được giao có đi đôi với quyền hạn, nguồn lực và năng lực thực thi hay không. Trong điều kiện chuyển đổi số và xây dựng chính quyền số, không thể đo năng lực của cấp xã đơn thuần bằng số lượng nhiệm vụ hay số lượng cán bộ. Vì vậy, thay vì quy kết mô hình 2 cấp gây “nghẹt thở” ở cơ sở, cần tập trung đổi mới tư duy từ “tập trung – mệnh lệnh” sang “phân quyền – chủ động – phục vụ”, từ quản lý theo thứ bậc sang quản trị theo mục tiêu và kết quả. Khi nhiệm vụ, thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm được phân định rõ ràng, cùng với chuyển đổi số và đơn giản hóa quy trình, cấp xã sẽ không phải là “điểm nghẽn”, mà trở thành khâu trực tiếp hiện thực hóa hiệu quả quản trị và phục vụ Nhân dân.
Trên trang Vietnamthoibao xuất hiện bài viết của Lý Thái Hùng: “Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm”. Nội dung bài viết lợi dụng việc Đảng và Nhà nước ta thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, “điểm nghẽn” trong thực thi chính sách để xuyên tạc bản chất của chế độ, phủ nhận những thành quả phát triển và hướng lái dư luận theo tư duy tư bản chủ nghĩa.
Thứ nhất, bài viết cố tình tạo ra sự đối lập giả tạo giữa “an ninh chính trị” và “sự khai mở xã hội”. Trong bài viết, Lý Thái Hùng đã lập luận rằng nếu “quyền lực thống trị vẫn đặt an ninh chính trị cao hơn sự khai mở xã hội, thì cải cách sẽ gặp giới hạn rất lớn” và cho rằng mọi khác biệt ở Việt Nam đang bị nhìn bằng “con mắt an ninh”, xã hội dân sự bị kiểm soát quá chặt khiến người dân không thể tự do sáng tạo. Đây là một thủ đoạn đánh tráo khái niệm vô cùng nguy hiểm. Trên thực tế, an ninh chính trị và tự do sáng tạo của xã hội không phải là hai mặt đối lập bài trừ lẫn nhau, mà là tiền đề của nhau. Không một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển kinh tế, thúc đẩy sáng tạo trong một môi trường chính trị bất ổn, bạo loạn hay chia rẽ. Sự ổn định chính trị mà Việt Nam duy trì được trong suốt những thập kỷ qua chính là “thỏi nam châm” thu hút đầu tư quốc tế và là nền tảng vững chắc để người dân yên tâm sinh sống, lao động, học tập và cống hiến. Việc đòi hỏi một thứ “tự do phản biện” vô thời hạn, không bị ràng buộc bởi lăng kính an ninh quốc gia thực chất là đang cổ súy cho thứ tự do vô tổ chức, tự do đứng trên pháp luật, điều mà mọi quốc gia đều cấm. Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do sáng tạo luôn được Hiến pháp bảo hộ, nhưng quyền tự do đó đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và không được xâm phạm đến lợi ích của quốc gia, dân tộc. Việc quản lý xã hội bằng pháp luật để đảm bảo an ninh trật tự hoàn toàn khác với việc “kiểm soát tư duy” Lý Thái Hùng quy chụp. Chính nhờ giữ vững an ninh chính trị, Việt Nam mới có được một môi trường xã hội hưng thịnh, nơi các giá trị văn hóa tốt đẹp của thế giới được tiếp thu, phát triển và là nơi các doanh nghiệp, cá nhân có cơ hội phát huy tối đa năng lực đổi mới sáng tạo của mình.
Trên Vietnamthoibao xuất hiện bài viết “Đừng làm buồn lòng người tranh đấu vì chúng ta” của Đặng Đình Mạnh – một cựu luật sư đã rời bỏ đất nước, hiện sống tị nạn tại Mỹ. Bằng thứ ngôn từ thêu dệt và góc nhìn méo mó, Y ra sức tô vẽ, ca ngợi các cá nhân, tổ chức chống phá Nhà nước ở nước ngoài như những “người dấn thân bất vụ lợi”. Núp sau vỏ bọc “tri ân” và “trăn trở vì quê hương” ấy thực chất là thủ đoạn tinh vi nhằm hà hơi thổi ngạt cho các lực lượng cờ đen đang rệu rã, đồng thời tẩy trắng bản chất chống phá Nhân dân, phản bội Dân tộc của các phe nhóm phản động.
Thứ nhất, núp bóng “vô vị lợi” để che đậy bản chất phản bội Tổ quốc và phục vụ mưu đồ ngoại bang.
Trong bài viết, Đặng Đình Mạnh dựng lên một hình tượng đầy lãng mạn về cái gọi là “đội ngũ hoạt động bất vụ lợi bằng tiền bạc, thời gian, công sức của chính họ cho mục tiêu dân chủ hóa”. Y lý giải rằng, vì họ đã có cuộc sống ổn định tại Mỹ, không có ý định quay về Việt Nam sinh sống, nên việc bỏ tiền túi gây quỹ, viết bài, vận động chính giới ngoại bang hay tham gia điều trần chỉ xuất phát từ “món nợ tinh thần với quê hương” và muốn đồng bào trong nước được “hưởng quyền tự do”. Đây là luận điệu vô cùng tráo trở, cố tình đánh tráo khái niệm giữa “lòng yêu nước” với “hành vi chống phá Tổ quốc”.
Thực chất, không có cái gọi là “hoạt động bất vụ lợi” hay “hy sinh cao cả” như Đặng Đình Mạnh thêu dệt. Hành vi của các cá nhân và tổ chức này về bản chất là một chuỗi đổi trác lợi ích chính trị và kinh tế. Để duy trì tư cách tị nạn, sự tồn tại và chỗ đứng trong đời sống chính trị bờ bên kia đại dương, họ buộc phải duy trì “ngọn lửa chống Cộng”. Việc họ gõ cửa Quốc hội Mỹ, tiếp xúc các tổ chức nhân quyền quốc tế hay xuyên tạc tình hình trong nước không nhằm mục đích giúp đỡ nhân dân Việt Nam, mà là tạo ra các “sản phẩm chính trị” để xin tài trợ, thậm chí là kiếm cái ăn qua ngày từ các quỹ, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam.
Trên trang mạng Facebook: Việt Nam thời báo, Nhật Ngôn có bài viết “Tuyên ngôn độc lập hay là cái bánh vẽ mị dân tinh vi?” để phủ nhận, xuyên tạc giá trị lịch sử, tầm vóc thời đại của bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Nhật Ngôn cho rằng: Tuyên ngôn Độc lập thực chất là một sản phẩm truyền thông chính trị mị dân tinh vi. Đây là luận điệu sai trái, phản động cần phải phê phán, bác bỏ:
Một là,gọi Tuyên ngôn Độc lập là “sản phẩm truyền thông chính trị mị dân tinh vi” là sự đánh tráo khái niệm, lấy hình thức tuyên truyền để phủ nhận sự thật lịch sử.
Luận điệu trên đã đồng nhất một cách khiên cưỡng giữa tuyên truyền và mị dân, giữa nghệ thuật thuyết phục và sự thao túng quần chúng. Tuyên ngôn Độc lập có chức năng tuyên truyền là điều không thể phủ nhận, bởi văn kiện nhằm công bố chính thức với quốc dân và thế giới về sự ra đời của một nhà nước độc lập, đồng thời tập hợp và củng cố ý chí của toàn dân; nhưng tuyên truyền không đồng nghĩa với mị dân. Mị dân là dùng sự giả dối, xuyên tạc hoặc lợi dụng cảm xúc quần chúng để che giấu sự thật; trong khi đó, Tuyên ngôn Độc lập được xây dựng trên những sự kiện lịch sử cụ thể và một thực tế chính trị đã được xác lập bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Hồ Chí Minh không “tạo dựng” một nền độc lập bằng ngôn từ, mà tuyên bố về một nền độc lập đã được nhân dân Việt Nam giành lấy bằng hành động cách mạng.
Sức thuyết phục của Tuyên ngôn không nằm ở kỹ thuật “đánh vào tâm lý đám đông”, mà ở sự thống nhất giữa sự thật lịch sử, lập luận chính trị và cơ sở pháp lý. Việc viện dẫn những nguyên lý về quyền con người, tự do và bình đẳng để khẳng định quyền độc lập của dân tộc Việt Nam là một lập luận chính trị sắc bén, đặt vấn đề dân tộc Việt Nam trong những giá trị phổ quát của thời đại. Dùng hai chữ “mị dân” để phủ nhận một sự thật lịch sử đã được xác lập bằng hành động của cả một dân tộc thực chất là lấy định kiến thay cho lập luận, lấy cái nhãn “truyền thông” để né tránh cái lõi không thể phủ nhận của vấn đề, đó là quyền độc lập của một dân tộc đã được xác lập bằng chính hành động lịch sử của nhân dân Việt Nam.
Trên trang Baotiengdan, Trương Nhân Tuấn đăng bài “Ngày “độc lập 2 tháng 9” nên dẹp bỏ”. Núp dưới cách diễn giải về lịch sử dựng nước, giữ nước và đề cao giá trị của Nam quốc sơn hà, tác giả đưa ra một loạt nhận định rằng dân tộc Việt Nam “đã độc lập hơn ngàn năm”, đã có “Tuyên ngôn độc lập từ ngàn năm trước”, vì thế không cần một bản tuyên ngôn độc lập mới; đồng thời xuyên tạc ý nghĩa của Ngày Quốc khánh 2/9/1945, phủ nhận vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh đối với sự nghiệp giành độc lập dân tộc.
Thứ nhất, khẳng định truyền thống độc lập hàng nghìn năm của dân tộc hoàn toàn không mâu thuẫn với việc khẳng định giá trị lịch sử và pháp lý đặc biệt của Tuyên ngôn Độc lập Ngày 2/9/1945.
Sai lầm đầu tiên và cũng là nền tảng cho toàn bộ lập luận của Trương Nhân Tuấn nằm ở chỗ cố tình đặt Nam quốc sơn hà và Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vào quan hệ loại trừ đã có cái trước thì cái sau trở thành “dư thừa”. Đây là một phép suy luận phi lịch sử. Không ai phủ nhận Việt Nam là quốc gia có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo cùng nhiều văn kiện, sự kiện lịch sử khác là những cột mốc rực rỡ khẳng định ý chí độc lập, chủ quyền và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu của các học giả Việt Nam từ lâu cũng nhìn nhận Nam quốc sơn hà như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc.
Chính vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 phải được nhìn nhận là sự kế thừa và phát triển truyền thống ấy trong một điều kiện lịch sử hoàn toàn mới, chứ không phải sự phủ nhận lịch sử trước đó. Trước Ngày 2/9/1945, Việt Nam đã trải qua hơn 80 năm dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp; đến năm 1940 lại chịu sự thống trị của phát xít Nhật. Vì vậy, vấn đề đặt ra vào năm 1945 không phải là chứng minh “dân tộc Việt Nam có từ bao giờ”, mà là xác lập lại nền độc lập đã bị chủ nghĩa thực dân tước đoạt và tuyên bố sự ra đời của một nhà nước độc lập trong trật tự quốc tế mới. Tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn đồng thời tuyên bố chấm dứt quan hệ thuộc địa với Pháp, xóa bỏ những đặc quyền của Pháp ở Việt Nam và khẳng định quyền của dân tộc Việt Nam được hưởng tự do, độc lập. Bởi vậy, lấy Nam quốc sơn hà để kết luận rằng Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là “dư thừa” chẳng khác nào cho rằng một dân tộc đã từng có độc lập trong lịch sử thì sau khi bị xâm lược, mất độc lập không cần tuyên bố khôi phục chủ quyền quốc gia. Đó không phải tư duy lịch sử mà là sự đánh đồng các thời đại, các chủ thể nhà nước và các hoàn cảnh pháp lý hoàn toàn khác nhau.
Trên trang phản động Thoibao, Lê Trung Khoa tiếp tục tung ra bài viết với luận điệu xuyên tạc, chống phá Việt nam: “Vì sao hàng trăm Đảng viên ĐCSVN lại ủng hộ Nhà báo Lê Trung Khoa?”. Bằng thủ đoạn tự gán ghép, dựng chuyện vô căn cứ, bài viết xuyên tạc rằng, Việt Nam đã “rũ bỏ cam kết vươn mình”, thay vào đó là “mô hình quản lý cứng nhắc”, “thắt chặt kiểm soát xã hội bằng tư duy bao cấp”. Đây là thủ đoạn “đổi trắng thay đen” quen thuộc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, chia rẽ nội bộ và phủ nhận những thành tựu phát triển vượt bậc của đất nước, cần nhận diện và bác bỏ như sau:
Thứ nhất, xuyên tạc “khái niệm vươn mình” và áp đặt mô hình phương Tây
Lê Trung Khoa rêu rao rằng Việt Nam từ bỏ việc “vươn mình theo xu hướng văn minh và tiến bộ của phương Tây”. Đây là sự đánh tráo bản chất cực kỳ nguy hiểm. Con đường Đổi mới và “Kỷ nguyên vươn mình” mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chưa bao giờ là sự “sao chép” hay rũ bỏ bản sắc để rập khuôn theo mô hình phương Tây. Quan điểm xuyên suốt của Đảng là xây dựng Chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại trên nguyên tắc giữ vững độc lập, tự chủ. Việt Nam vươn mình bằng chính nội lực và việc mở rộng hợp tác quốc tế đa phương hóa, đa dạng hóa. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với hầu hết các cường quốc trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam liên tục duy trì ở mức cao (thuộc nhóm hàng đầu khu vực), quy mô nền kinh tế đạt trên 514 tỷ USD. Đất nước không cần phải “rập khuôn phương Tây” mới có thể phát triển, mà đang khẳng định vị thế quốc tế bằng chính con đường xã hội chủ nghĩa độc lập, tự chủ.
Trên trang Thongluan, bút danh Việt Hoàng có bài viết: “Đảng cộng sản xưa và nay khác nhau?”. Bài viết cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam “ngày xưa và bây giờ cũng chỉ là một”, không đặt lợi ích đất nước và dân tộc ra gì mà chỉ đặt quyền lợi của mình lên trên hết. Qua đó, phủ nhận ý nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng ta lãnh đạo. Đây rõ ràng là những nhận định mang tính xuyên tạc, quy chụp và sai sự thật lịch sử.
Thứ nhất, chúng ta cần khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã xác định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Không thể đánh giá một chính đảng bằng cách suy đoán, lập luận vô căn cứ rồi phủ nhận những mục tiêu được xác lập rõ trong Cương lĩnh và được kiểm chứng qua thực tiễn. Ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930, Đảng xác định nhiệm vụ “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”, “làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”. Cương lĩnh đồng thời xác định con đường phát triển lâu dài của cách mạng Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa. Như vậy, ngay từ đầu, hai mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã được đặt trong mối quan hệ với nhau, chứ không có căn cứ nào cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam muốn tách riêng mục tiêu độc lập dân tộc, rồi kết luận đó chỉ là “vỏ bọc” để giành chính quyền.
Trên trang Facebook Chân Trời Mới Media tán phát bài “Quân đội thuộc về nhân dân không phải công cụ bảo vệ tư tưởng của bất kỳ đảng nào”, đưa ra những luận điệu xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bài viết cho rằng Quân đội “đang phục vụ một Đảng cầm quyền chứ không phục vụ nhân dân”, việc Quân đội chịu sự lãnh đạo của Đảng có thể dẫn tới sử dụng vũ lực chống nhân dân, đồng thời quy kết Quân đội tham gia phát triển kinh tế sẽ làm phát sinh đặc quyền, tham nhũng và suy yếu kỷ luật. Đây là những nhận định phiến diện, đánh tráo bản chất và cố tình đối lập Đảng với nhân dân, qua đó kích động tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin đối với Đảng và Quân đội, hướng tới yêu cầu “phi chính trị hóa” Quân đội. Có thể bác bỏ các luận điệu trên ở hai vấn đề cơ bản sau:
1. Xuyên tạc mối quan hệ giữa Đảng, Quân đội và nhân dân, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam
Luận điệu cho rằng Quân đội “phục vụ một Đảng cầm quyền chứ không phục vụ nhân dân” là sự đối lập giả tạo giữa sự lãnh đạo của Đảng và lợi ích của nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và rèn luyện; bản chất giai cấp công nhân của Quân đội thống nhất với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đảng lãnh đạo Quân đội không phải để phục vụ lợi ích riêng của một tổ chức chính trị, mà nhằm bảo đảm Quân đội thực hiện đúng mục tiêu chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trên trang Diendantheky, Phạm Trần đăng bài “Quân đội nhân dân Việt Nam “tự diễn biến” như thế nào?”, với thủ đoạn lợi dụng biểu hiện sai lệch ở một vài quân nhân để quy kết Quân đội đang “tha hóa”, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng “không hiệu quả”, bản chất chính trị của Quân đội đang bị phai nhạt. Đây là cách lập luận phiến diện, đánh tráo hiện tượng với bản chất, lấy hiện tượng cá biệt để phủ nhận cả một tổ chức. Thực tiễn cho thấy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Quân đội xác định là nguy cơ phải chủ động nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh, chứ không phải cái cớ để quy kết Quân đội đang “tha hóa”.
Thứ nhất, đánh tráo giữa những biểu hiện sai phạm, lệch chuẩn của cá nhân với bản chất chính trị và sức mạnh của cả Quân đội nhân dân Việt Nam.
Một tổ chức lớn với hàng ngũ cán bộ, chiến sĩ đông đảo không thể tránh khỏi việc có những cá nhân vi phạm kỷ luật, pháp luật hoặc có biểu hiện suy thoái, lệch lạc trong nhận thức và hành động. Vấn đề quyết định là cách tổ chức nhận diện, xử lý và khắc phục những biểu hiện đó. Việc một số cá nhân có sai phạm không phải là căn cứ để quy kết cả Quân đội “tự diễn biến”, “tha hóa” hay thay đổi bản chất chính trị. Đó là sự đánh đồng giữa khuyết điểm của cá nhân với bản chất của tổ chức, giữa hiện tượng với bản chất, giữa một vụ việc cụ thể với xu hướng chung.
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; có chức năng chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Bản chất, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và cơ chế lãnh đạo đó được bảo đảm bằng hệ thống tổ chức đảng, công tác chính trị, giáo dục chính trị, quản lý bộ đội, xây dựng chính quy và hệ thống pháp luật, điều lệnh, điều lệ chặt chẽ. Vì vậy, lấy một số biểu hiện cá biệt để phủ nhận bản chất chính trị của Quân đội là không có cơ sở.
Bài viết “USTR: Việt Nam tiếp tục phủ nhận cưỡng bức lao động” của Lê Thị Kim Thu đăng trên trang Machsongmedia tiếp tục đưa ra những nhận định thiếu căn cứ khi quy kết Việt Nam “cưỡng bức lao động”, trong đó đánh đồng hoạt động lao động, giáo dục, cải tạo của phạm nhân trong trại giam và việc thực hiện nghĩa vụ quân sự với “lao động cưỡng bức có hệ thống”. Cách lập luận này không chỉ thiếu sự phân biệt về bản chất pháp lý mà còn cố tình tách một số hiện tượng khỏi bối cảnh pháp luật, từ đó đưa ra những kết luận mang tính quy chụp, phiến diện về Việt Nam.
Thứ nhất, đánh tráo giữa nghĩa vụ bắt buộc theo pháp luật với “lao động cưỡng bức” để quy kết sai bản chất của các chế định pháp luật Việt Nam.
Về nguyên tắc, không phải mọi hoạt động mà cá nhân phải thực hiện theo quy định của pháp luật đều là “lao động cưỡng bức”. Theo các tiêu chuẩn của ILO, lao động cưỡng bức gắn với việc một người bị ép buộc thực hiện công việc hoặc dịch vụ dưới sự đe dọa của một hình phạt và không tự nguyện. Pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm cưỡng bức lao động, đồng thời xác định rõ những hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để ép buộc người lao động làm việc trái ý muốn. Vì vậy, muốn đưa ra cáo buộc về “cưỡng bức lao động có hệ thống”, cần chứng minh bằng chứng cứ cụ thể các yếu tố pháp lý cấu thành hành vi, không thể chỉ dựa vào sự tồn tại của những nghĩa vụ bắt buộc theo luật.
Trên trang Việt Tân đăng bài “Chuyện thật như bịa: Việt Cộng ‘tiếp đạn’ cho Việt Tân” của Trần Văn, xuyên tạc hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan chức năng Việt Nam, cho rằng việc xử lý một số cá nhân đang tạo điều kiện để Việt Tân vận động quốc tế gây sức ép đối với Việt Nam. Thực chất, bài viết đã đánh tráo giữa thực thi pháp luật với “đàn áp”, giữa người bị xử lý theo pháp luật với “nạn nhân nhân quyền”, qua đó tìm cách quốc tế hóa những vấn đề thuộc phạm vi pháp luật và thẩm quyền tư pháp của Việt Nam. Cách lập luận này cần được nhìn nhận khách quan trên cơ sở quyền con người, thượng tôn pháp luật và chủ quyền quốc gia.
Thứ nhất, gán việc Việt Nam xử lý hành vi vi phạm pháp luật thành “đàn áp xuyên quốc gia” là sự đánh tráo khái niệm, phủ nhận quyền chính đáng của một quốc gia có chủ quyền trong bảo vệ an ninh, trật tự và thực thi pháp luật.
Điểm thiếu thuyết phục trong lập luận của Trần Văn là đồng nhất việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ với quyền thực hiện mọi hành vi mà không chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Trong một nhà nước pháp quyền, quyền con người và quyền công dân phải được tôn trọng, bảo đảm, nhưng việc thực hiện các quyền đó phải trong khuôn khổ pháp luật và không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích chung của xã hội hoặc an ninh, trật tự quốc gia. Vì vậy, việc một người tự nhận là “nhà hoạt động”, “người bất đồng chính kiến” hay đang ở nước ngoài không thể tự thân trở thành căn cứ để phủ nhận trách nhiệm pháp lý đối với hành vi cụ thể của họ.
Cứ vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại gia tăng hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta, tập trung xuyên tạc lịch sử, bịa đặt sự thật, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và uy tín, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Gần đây, trên một số diễn đàn phản động, Nguyễn Văn Đài phát tán bài viết “Hồ Chí Minh – hình tượng được thần thánh hóa nhưng mất quyền lực vào tay Lê Duẩn và trách nhiệm đối với chế độ toàn trị”, với nhiều luận điệu xuyên tạc, quy chụp nhằm phủ nhận vai trò, công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là sự bóp méo lịch sử, phủ nhận sự thật khách quan, cần được nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ bằng cơ sở khoa học, thực tiễn.
Thứ nhất, phủ nhận vai trò lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự xuyên tạc có chủ ý, trái với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Luận điệm quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh là người “sáng lập và đặt nền móng cho chế độ độc tài cộng sản tại Việt Nam”, thậm chí là “nguồn gốc của hơn 80 năm độc tài và đàn áp” là cách cố tình bóp méo lịch sử, tách Người khỏi hoàn cảnh cụ thể của dân tộc đầu thế kỷ XX. Khi đất nước mất độc lập, nhân dân chịu ách áp bức của chủ nghĩa thực dân, các phong trào yêu nước theo nhiều khuynh hướng lần lượt thất bại, Nguyễn Ái Quốc đã tìm tòi, khảo nghiệm nhiều con đường cứu nước, tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin và xác định con đường giải phóng dân tộc phù hợp với điều kiện Việt Nam. Người có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức và sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra bước ngoặt căn bản của cách mạng Việt Nam.
Trên trang Baotiengdan, Nguyễn Tư Tiếu đăng bài viết “Gen Z Việt Nam và những chuyện lớn hơn phía trước”; nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận hệ tư tưởng Mác – Lênin, cho rằng: Chủ nghĩa Mác-Lênin ngày nay không còn chủ yếu là một học thuyết phát triển. Nó đã trở thành giấy phép chính trị cho sự độc quyền. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động, cần phê phán, bác bỏ:
Một là,chủ nghĩa Mác– Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng về sự phát triển xã hội, không phải là “giấy phép chính trị” để hợp thức hóa sự độc quyền quyền lực.
Việc quy kết chủ nghĩa Mác – Lênin là “giấy phép chính trị” để hợp thức hóa sự độc quyền quyền lực là cách nhìn phiến diện, đánh đồng bản chất của học thuyết với những biểu hiện cụ thể, thậm chí là những sai lệch, trong quá trình vận dụng vào thực tiễn. Về bản chất, chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng về sự vận động, phát triển của xã hội và giải phóng con người. C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I.Lênin không xem các thiết chế xã hội, chính trị và quyền lực là những thực thể bất biến, mà luôn đặt chúng trong những điều kiện lịch sử cụ thể, trong mối quan hệ với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ xã hội và đời sống con người.
Trên trang Diendanthongtin, Nhật Ngôn đã đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo vấn đề công lý và pháp luật ở Việt Nam dưới cách đặt vấn đề “công lý hay cảm tính”. Bài viết cố tình chắp nối một số vụ việc, đánh tráo giữa hiện tượng với bản chất, lấy những nhận định chủ quan thay cho chứng cứ và căn cứ pháp luật, từ đó quy kết hoạt động thực thi pháp luật ở Việt Nam thiếu khách quan, công bằng. Đây không phải là cách tiếp cận khách quan về pháp luật và công lý mà là thủ đoạn nhằm gây hoài nghi đối với tính nghiêm minh của pháp luật, làm suy giảm niềm tin vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ.
Thứ nhất,thượng tôn pháp luật là nền tảng bảo đảm công lý, công bằng trong xã hội Việt Nam.
Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật là cơ sở xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; mọi hành vi vi phạm phải được xem xét theo tính chất, mức độ, hậu quả và các tình tiết liên quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định. Thượng tôn pháp luật cũng có nghĩa không ai đứng trên pháp luật, không ai được đứng ngoài pháp luật. Người có hành vi vi phạm phải chịu trách nhiệm theo quy định; đồng thời người bị buộc tội được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp theo pháp luật. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào một thông tin trên mạng xã hội, một nhận định chủ quan hay phản ứng nhất thời của dư luận để kết luận một vụ việc là “bất công”, không thể từ một trường hợp cụ thể phủ nhận tính nghiêm minh của cả hệ thống pháp luật. Phản biện đối với hoạt động thực thi pháp luật là cần thiết, nhưng phải dựa trên sự thật, chứng cứ và căn cứ pháp lý.
Thứ hai,pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân.
Công bằng không có nghĩa là mọi hành vi đều được chấp nhận hoặc người vi phạm không phải chịu trách nhiệm. Công bằng là mọi người được đối xử theo pháp luật, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Hiến pháp Việt Nam ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đồng thời việc thực hiện các quyền phải gắn với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với Nhà nước, xã hội và cộng đồng. Quyền tự do ngôn luận, quyền phản ánh, kiến nghị và tham gia vào đời sống xã hội là những quyền quan trọng được pháp luật bảo đảm. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền phải trong khuôn khổ pháp luật, không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích quốc gia, dân tộc và trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không thể nhân danh “tự do”, “dân chủ” hay “công lý” để phủ nhận trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm. Một xã hội muốn ổn định, phát triển phải có pháp luật nghiêm minh, có cơ chế xử lý vi phạm và bảo vệ người dân trước những hành vi xâm hại. Chính sự thống nhất giữa bảo đảm quyền con người và giữ vững kỷ cương pháp luật mới tạo nên nền tảng của công lý, công bằng.
Trên trang Baoquocdan, Nguyễn Gia Kiểng có bài viết: “Tuyên bố của Tập hợp dân chủ đa nguyên về việc chính quyền cộng sản Việt Nam gia tăng đàn áp” đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Y cho rằng, Đảng Cộng sản lãnh đạo, đất nước không phát triển, xã hội mất dân chủ, dẫn dắt Việt Nam trở thành chư hầu. Cần khẳng định, đây là sự xuyên tạc đường lối đối ngoại, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và thành tựu phát triển đất nước, cần được nhận diện và bác bỏ.
1. Điều 4, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và cả xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, Hiến pháp và Nhân dân Việt Nam khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng, nhất thiết không cần và không thể chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch mong muốn”.
Thành tựu sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng và thật đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh… được cộng đồng quốc tế ghi nhận, sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên. Việt Nam được cả thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI, chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Theo Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên hợp quốc công bố, năm 2025 Việt Nam đứng thứ 46/143, tăng 8 bậc so với năm 2024; năm 2026 Việt Nam đứng thứ 45/147, tăng 1 bậc so với năm 2025. Kết quả này, là sự thừa nhận của Liên hợp quốc. Người dân Việt Nam ngày càng hạnh phúc, ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
Trên trang blog Tiếng Dân đăng bài “Tổ quốc trong tim – Hay một đảng trong tim?”, đặt vấn đề về lòng yêu nước và mối quan hệ giữa tình cảm với Tổ quốc với sự ủng hộ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài viết cho rằng người Việt Nam có thể yêu nước nhưng không nhất thiết ủng hộ Đảng lãnh đạo, đồng thời cổ xúy các quan điểm đa đảng, “tam quyền phân lập”, qua đó tạo cách nhìn đối lập giữa Tổ quốc, Nhân dân với Đảng. Cách lập luận sai lệch này cần được nhìn nhận và bác bỏ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
1. Không thể đối lập tình yêu Tổ quốc với vai trò lãnh đạo của Đảng; mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là một chỉnh thể thống nhất
Yêu nước là giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam, còn sự lãnh đạo của Đảng là vấn đề thuộc tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực chính trị. Hai vấn đề có quan hệ với nhau nhưng không thể bị giản lược thành một phép lựa chọn đối lập. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đồng thời, Hiến pháp xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Như vậy, trong khuôn khổ hiến định của Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng không đứng ngoài Tổ quốc và Nhân dân, mà được đặt trong mục tiêu bảo vệ độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia – dân tộc và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân.
Điểm cốt lõi của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” là sự phân định chức năng trong một chỉnh thể thống nhất, chứ không phải sự thay thế hay triệt tiêu lẫn nhau. Đảng định hướng bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương và phương thức lãnh đạo phù hợp; Nhà nước thể chế hóa, tổ chức thực hiện và quản lý xã hội bằng pháp luật; Nhân dân là chủ thể của quyền lực, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển. Các nghiên cứu chính trị gần đây cũng nhấn mạnh sự thống nhất giữa ba thành tố này vì mục tiêu chung, đồng thời chỉ rõ yêu cầu phải bảo đảm đúng chức năng, trách nhiệm của từng chủ thể. Do đó, lập luận “yêu nước thì có thể chống Đảng” đã tạo ra một sự đối lập giả tạo. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, yêu nước không đồng nghĩa với đồng nhất mọi chủ trương, chính sách hoặc hành động của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào với lợi ích quốc gia. Người dân có quyền góp ý, phản biện, giám sát, phê bình những hạn chế, bất cập trong quản lý và thực thi quyền lực. Nhưng từ quyền góp ý, phản biện chính sách đến phủ nhận nền tảng hiến định và kích động đối lập Đảng với Tổ quốc là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Chính yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, nâng cao hiệu lực quản lý và phát huy dân chủ cho thấy cơ chế hiện hành không phủ nhận phản biện, mà đòi hỏi phản biện phải hướng tới hoàn thiện chế độ và phục vụ lợi ích của Nhân dân.