Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM KÊU GỌI VIỆT NAM TỪ BỎ “NGOẠI GIAO CÂY TRE”

 

Trên trang BBC News, bài viết “Việt Nam với ‘ngoại giao thức thời’: từ hình tượng cây tre đến chiến lược quốc gia” đã đưa ra những lập luận kêu gọi Việt Nam từ bỏ chính sách “ngoại giao cây tre”, thay vào đó là “ngoại giao thức thời” dựa trên “ngũ tri cổ điển” và “kiến tạo luật chơi”. Đây là cách lập luận chứa đựng sự ngộ nhận nghiêm trọng, bỏ qua bản chất, giá trị và thành công của đường lối đối ngoại Việt Nam.

1. Trước hết, cần nói ngay rằng, khái niệm “ngũ tri cổ điển” không phản ánh đầy đủ bản chất và chiều sâu của “ngoại giao cây tre”. Ngoại giao cây tre không đơn thuần là khéo léo trong ứng xử, biết tiến, biết lùi theo thời thế; đó là sự kết hợp giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt sách lược – vừa mềm dẻo để thích ứng, vừa kiên cường để giữ vững độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia. Đây là sự chủ động, nhất quán và dài hạn, chứ không phải ứng xử “thức thời” theo biến động ngắn hạn. Nói cách khác, “ngoại giao cây tre” không chỉ biết thời – thế mà còn chủ động định vị, chọn lựa và kết hợp các thời – thế đó theo cách có lợi nhất cho đất nước, không để bị cuốn theo áp lực của bất kỳ thế lực nào. Việc giản lược đường lối ngoại giao Việt Nam vào vài yếu tố của “ngũ tri” chẳng khác nào cắt xén, bóp méo thực tế để phục vụ một luận điểm định trước.

Nguy hiểm hơn, luận điệu “kiến tạo luật chơi” mà tác giả bài viết đưa ra – với hàm ý “chủ động hiện diện để định hình luật chơi” và “dám định vị mình như một trong những chủ thể của luật chơi” – không hề vô tư. Đây là một “mồi câu chính trị” được bọc trong vỏ bọc ngôn từ hấp dẫn, nhằm khéo léo dẫn dắt dư luận tới chỗ chấp nhận rằng Việt Nam nên từ bỏ thế cân bằng chiến lược vốn là cốt lõi của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ. Một khi bước qua ranh giới này, Việt Nam sẽ mất đi lợi thế lớn nhất của mình về quyền tự quyết chiến lược, tự biến mình thành công cụ hoặc “tiền tuyến” phục vụ lợi ích của cường quốc. Đó không phải là “kiến tạo luật chơi”, mà là chấp nhận trở thành quân cờ trong ván cờ của kẻ khác. Lịch sử đã chứng minh, chính sách cân bằng không phải là né tránh, càng không phải là bị động; đó là lựa chọn chiến lược để tối đa hóa lợi ích, giảm thiểu rủi ro và bảo vệ không gian tự quyết trong một môi trường quốc tế đầy biến động; những quốc gia mất thế cân bằng thường phải trả giá đắt, khi chính sách đối ngoại bị chi phối bởi lợi ích bên ngoài.

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ TƯƠNG LAI TƯƠI SÁNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Những ngày gần đây trên Trang “Doithoaionline” có đăng tải bài viết “80 năm đấu tranh chống cs của dân tộc vn”, với những luận điệu xuyên tạc rằng: “Trong 80 năm tồn tại của chế độ này, dân tộc Việt Nam chúng ta đã phải gánh chịu biết bao khổ nạn, đau thương, chết chóc chỉ vì những toan tính cá nhân, những tham vọng quyền lực độc đoán của những kẻ chóp bu đứng đầu chế độ từ Hồ Chí Minh cho tới Tô Lâm”. Luận điệu này không chỉ sai trái mà còn thể hiện sự thiếu hiểu biết, xuyên tạc lịch sử và thực tiễn phát triển của dân tộc Việt Nam, vì:

Một là, vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam là không thể phủ nhận.

Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh đất nước bị áp bức bởi thực dân và phong kiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng những người sáng lập Đảng đã không ngừng đấu tranh vì độc lập dân tộc và quyền sống của nhân dân. Nhờ có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập vào năm 1945, chấm dứt chính sách đô hộ của Thực dân Pháp hơn 80 năm.

Trong quá trình đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước, nhân dân ta đã phải chịu nhiều đau thương, mất mát. Những đau thương, mất mát ấy không phải do những “tham vọng quyền lực” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà là hệ quả của cuộc đấu tranh chống lại ách xâm lược của bọn thực dân, đế quốc, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

Hai là, chủ nghĩa xã hội là khát vọng phát triển của dân tộc.

Khát vọng xây dựng một xã hội công bằng, tiến bộ không chỉ là ước mơ của một cá nhân hay một đoàn thể, mà là mong muốn của cả dân tộc. Chúng ta cần tiếp tục phát huy sức mạnh đoàn kết, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và hướng tới tương lai tươi sáng cho đất nước. Khát vọng phát triển không chỉ nằm ở những lý thuyết xa vời mà là hiện thực trong từng bước đi của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ ràng mục tiêu của mình là xây dựng một xã hội mà mọi người đều được sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Những chính sách như phát triển kinh tế bền vững, cải cách giáo dục, và nâng cao chất lượng cuộc sống đã và đang được thực hiện để hiện thực hóa khát vọng này.

Ba là, đi theo con đường chủ nghĩa xã hội đã mang lại những thành tựu đổi mới to lớn cho đất nước.

Kể từ khi Đảng lãnh đạo, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với những thành tựu đáng ghi nhận. Công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986 đã đưa đất nước từ một nền kinh tế tập trung trở thành một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, GDP của Việt Nam đã tăng trưởng liên tục với tỷ lệ bình quân khoảng 6-7% mỗi năm trong hơn ba thập kỷ qua. Các chỉ số về giáo dục, y tế, và chất lượng cuộc sống của người dân đã có sự cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đã giảm từ 24% năm 2010 xuống còn khoảng 11% vào năm 2024. Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, và Việt Nam đã khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Những thành tựu này không thể được tạo ra bởi những “toan tính cá nhân” mà là kết quả của một chiến lược phát triển đúng đắn, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự đồng lòng của toàn thể nhân dân.

Thực tiễn Việt Nam bác bỏ luận điệu phản động của Nguyễn Văn Đài về chủ nghĩa xã hội

 

Vừa qua, trên trang Hoianhemdanchu, Nguyễn Văn Đài đã đăng tải bài viết “Chủ nghĩa xã hội, trò lừa bịp của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Nội dụng bài viết là những luận điệu sai trái, xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cho rằng: “Có Đảng Cộng sản Việt Nam thì không bao giờ có chủ nghĩa xã hội”. Song cả thực tiễn và lý luận đã bác bỏ luận điệu xuyên tạc này.

Một là, lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử, là khát vọng của nhân dân ta.

Thắng lợi cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra thời kỳ mới cho lịch sử phát triển thế giới, thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi đó, thúc đẩy cách mạng xã hội chủ nghĩa và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc phát triển. Đồng thời, làm rung chuyển hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa tư bản và trở thành nguồn cảm hứng quan trọng cho con đường phát triển của cách mạng Việt Nam.

TỪ SỰ THẬT LỊCH SỬ ĐẾN GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

 

Cách đây 108 năm, Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và dành thắng lợi đã làm “rung chuyển thế giới”. Trải qua hơn một thế kỷ với nhiều biến động, thăng trầm của lịch sử, giá trị vĩ đại và sức sống trường tồn của Cách mạng Tháng Mười vẫn tiếp tục được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, mỗi dịp Kỷ niệm thắng lợi vĩ đại ấy, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị lại ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử. Điển hình như Thụy My, một kẻ phản bội lý tưởng cách mạng đã trắng trợn viết trên trang RFI.FR rằng “Cách mạng Tháng Mười chỉ là cuộc đảo chính Bôn-sê-vích”. Đây chỉ là luận điệu sai trái, phản động nhằm phủ nhận bản chất cách mạng, tính chính nghĩa và ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga.

1.Sự thật lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga

 Với luận điệu cho rằng “Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là cuộc đảo chính”, các thế lực thù địch và những cây bút cơ hội như Thụy My đã cố tình đánh tráo khái niệm, xuyên tạc bản chất lịch sử, lộ rõ dụng ý chính trị phản động. Bởi lẽ, không thể có cuộc “đảo chính” nào lại được chuẩn bị và diễn ra công khai với sự tham gia của hàng triệu người lao động trên khắp đất nước, với sự ủng hộ mạnh mẽ của lực lượng công, nông, binh. Để hiểu bản chất của Cách mạng Tháng Mười, cần trở lại với nước Nga trước năm 1917. Dưới ách thống trị của chế độ Nga hoàng chuyên chế, hơn 80% dân số là nông dân không có ruộng đất, công nhân bị bóc lột tàn tệ, nhân dân chìm trong đói khổ, áp bức và bất công. Sự phân hóa giai cấp sâu sắc cùng hậu quả nặng nề của Chiến tranh thế giới thứ nhất, đã đẩy đất nước đến bờ vực khủng hoảng toàn diện. Chính quyền Nga hoàng và sau đó là Chính phủ lâm thời tư sản không còn khả năng điều hành đất nước. Trong bối cảnh đó, phong trào cách mạng của quần chúng dâng cao chưa từng có. Hàng trăm Xô viết của công nhân, binh sĩ và nông dân được thành lập. Đảng Bôn-sê-vich dưới sự lãnh đạo của Lênin đã nắm bắt đúng quy luật vận động của lịch sử, đưa ra đường lối cách mạng đúng đắn: chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, lấy khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay Xô viết” làm ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng. Đó là ngọn cờ tập hợp lực lượng, dẫn dắt quần chúng bước vào cuộc đấu tranh quyết định giành chính quyền về tay nhân dân.

Ý THỨC HỆ CỦA VIỆT NAM – NGUỒN GỐC, ĐỘNG LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC

 

Trên trang Thongluan, Trần Khánh Ân đăng bài viết “Từ sự cáo chung của một ý thức hệ đến khúc quanh tất yếu của Việt Nam”; nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phản động nhằm reo rắc sự hoài nghi, mơ hồ, ảo tưởng trong nhân dân, khi cho rằng không có một ý thức hệ nào có thể sống mãi với thời gian, thay vì đem lại niềm tin, nó gieo rắc hoài nghi và tuyệt vọng.  Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần phải phê phán, bác bỏ:

Một là, ý thức hệ của Việt Nam là nền tảng tinh thần vững chắc tạo sự đồng thuận, thống nhất trong xã hội.

Ý thức hệ của Việt Nam hiện nay bao gồm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò định hướng toàn diện cho sự phát triển của đất nước. Nó xác lập hệ mục tiêu chiến lược như độc lập dân tộc, phát triển bền vững, công bằng xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được hoạch định một cách nhất quán, đảm bảo tính liên tục và phù hợp với các quy luật vận động của xã hội. Ý thức hệ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo không chỉ được hình thành từ cơ sở lý luận vững chắc mà còn được kiểm nghiệm, chứng thực qua lịch sử cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước. Ý thức hệ của Việt Nam là hệ thống quan điểm, lý tưởng và mục tiêu phát triển mà dân tộc đã lựa chọn; gắn với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và được khẳng định trong Hiến pháp cũng như thực tiễn. Ý thức hệ ấy xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; phát triển đất nước đi đôi với bảo đảm quyền con người, quyền công dân và độc lập dân tộc. Với vai trò nền tảng tư tưởng, ý thức hệ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của hệ thống chính trị, đồng thời tạo nên sự thống nhất trong nhận thức, hành động của toàn dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam lựa chọn ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Đó là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, thử thách bằng máu xương và trí tuệ của nhiều thế hệ. Ý thức hệ này đã dẫn dắt dân tộc vượt qua chiến tranh, giành độc lập, thống nhất đất nước, đồng thời tiếp tục chứng minh giá trị trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay.Những kết quả như giữ vững ổn định chính trị, nâng cao vị thế quốc tế, phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo bền vững… là minh chứng rõ ràng cho sức sống của ý thức hệ Việt Nam.

Hai là, ý thức hệ là nhân tố quan trọng cho sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

Ý thức hệ của Việt Nam giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước, bởi nó tạo ra nền tảng tư tưởng thống nhất để định hướng đường lối và chiến lược phát triển trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ý thức hệ giúp xác lập mục tiêu, phương hướng và nguyên tắc phát triển, đồng thời tạo nên sự đồng thuận và thống nhất trong xã hội. Đây là yếu tố quyết định giúp giữ vững ổn định chính trị – xã hội, một điều kiện thiết yếu cho tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, ý thức hệ còn định hình các giá trị đạo đức, văn hoá và bản sắc dân tộc, qua đó định hướng phát triển con người – trung tâm của mọi chính sách bền vững. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, ý thức hệ giúp Việt Nam củng cố bản lĩnh chính trị, giữ vững độc lập tự chủ và chủ động hội nhập mà không bị hòa tan. Nhờ đó, ý thức hệ trở thành nhân tố then chốt bảo đảm cho sự phát triển hài hòa, ổn định và lâu dài của đất nước. Những thành tựu trong phát triển kinh tế, ổn định xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, nâng cao vị thế quốc tế cùng với kết quả bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và an ninh chính trị nội bộ là minh chứng thuyết phục nhất cho ý thức hệ ở Việt Nam luôn được củng cố, giữ vững và tăng cường; qua đó tạo nền tảng cho sự phát triển ổn định và bền vững của đất nước ở mọi lúc, moi nơi.

SỰ THẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao đăng bài viết “Cập nhật tình hình Việt Nam” của USCIRF, với luận điệu cho rằng “Việt Nam bên ngoài là hình ảnh tự do tôn giáo, bên trong là mạng lưới kiểm soát len lỏi tới từng nhóm đức tin”. Theo lập luận này, mặc dù Việt Nam có những cải cách nhất định và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao, nhưng thực chất tự do tôn giáo vẫn bị hạn chế nghiêm trọng, thậm chí bị “đàn áp có hệ thống”. Tuy nhiên, khi đặt các nhận định đó dưới góc nhìn pháp lý, thực tiễn xã hội và dữ liệu khách quan, có thể thấy đây là một cách diễn giải phiến diện, không phản ánh đầy đủ thực trạng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cố tình xuyên tạc, phủ nhận và chống phá nhà nước Việt Nam. Do đó, cần phân tích, nhận diện, phản bác, cụ thể là:

Trước hết, cần khẳng định rằng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam không phải là một khẩu hiệu mang tính hình thức mà là quyền được hiến định. Hiến pháp năm 2013, tại Điều 24, quy định rõ: mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định này phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), mà Việt Nam là thành viên từ năm 1982. Trên cơ sở hiến định đó, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã lần đầu tiên thiết lập một khung pháp lý tương đối toàn diện cho hoạt động tôn giáo, từ sinh hoạt cá nhân, hoạt động của tổ chức tôn giáo cho đến quan hệ quốc tế của các tổ chức này. Việc một quốc gia ban hành luật chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo cho thấy nỗ lực thể chế hóa quyền con người, chứ không phải là biểu hiện của việc “kiểm soát ngầm” như một số luận điệu quy kết.

VẠCH TRẦN BẢN CHẤT LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VAI TRÒ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Trên trang ThekymediaVũ Đăng Khánh đăng bài viết “Đảng tai: Một thế kỷ quyền lực và cái giá mà Việt Nam phải trả”. Nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vị trí, vai trò, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, cần phải phê phán, bác bỏ:

Một là, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định trong dòng chảy của lịch sử dân tộc.

Trong dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc từ khi ra đời tới nay là lịch sử dựng nước và giữ nước. Dựng nước luôn luôn gắn chặt với giữ nước, trong đó dựng nước là yếu tố cơ bản. Phải xây dựng được đất nước hùng mạnh về mọi mặt mới có điều kiện, khả năng chiến thắng các thế lực thù địch và phải giữ được nước mới có điều kiện để xây dựng đất nước. Chính nhờ kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tinh hoa của văn hóa phương Đông và phương Tây mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước (1911) và đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin (1920). Con đường cứu nước đúng đắn đã được xác định, đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm đứng ra nhận sứ mệnh lịch sử to lớn mà giai cấp và dân tộc giao phó: Lãnh đạo các tầng lớp nhân dân Việt Nam đấu tranh chống thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, dân chủ cho nhân dân. Từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ là một đảng cách mạng chân chính nhất, có sức hội tụ lớn nhất mọi sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, sớm trở thành đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam là do thời đại, do giai cấp và dân tộc quy định. Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với vai trò của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trước các nhiệm vụ lịch sử, Đảng và Bác Hồ đã kịp thời xác định đúng đắn, sáng tạo đường lối, chiến lược, sách lược đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Hai là, thực tiễn đã khẳng định vai trò, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc.

GEN Z VIỆT NAM VÀ SỰ THẬT VỀ CHÍNH SÁCH CHĂM LO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên không gian mạng với chiêu bài quen thuộc là “nhân quyền”, “tự do”, “quyền của giới trẻ”. Dưới vỏ bọc “bảo vệ Gen Z”, “đấu tranh cho tương lai thanh niên”, chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ; đồng thời kích động tâm lý bất mãn, kêu gọi tụ tập, biểu tình trái pháp luật nhằm gây mất ổn định chính trị – xã hội.

Đây không phải là hiện tượng tự phát, mà là sự tiếp nối có tính toán của chiến lược “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa thế hệ trẻ”, từng bước làm suy giảm niềm tin của thanh niên vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước. Do đó, cần phải đấu tranh bác bỏ trên cơ sở nhận diện và khẳng định bởi một số thực tiễn sinh động như sau:

1.Thực tiễn phát triển của Việt Nam trong những năm qua đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu cho rằng Đảng, Nhà nước “không quan tâm đến đời sống nhân dân”. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, xung đột, suy thoái cục bộ, Việt Nam vẫn duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Các chính sách giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, phát triển nhà ở xã hội, chăm lo y tế, giáo dục… đã mang lại hiệu quả rõ rệt, được các tổ chức quốc tế ghi nhận. Quyền con người ở Việt Nam không phải là những khẩu hiệu trừu tượng, mà được bảo đảm bằng các chính sách cụ thể, gắn với quyền được sống, quyền được học tập, lao động, chăm sóc sức khỏe và thụ hưởng thành quả phát triển. Việc các đối tượng chống phá cố tình phớt lờ những thành tựu này, chỉ tập trung khai thác mặt hạn chế, khó khăn mang tính cục bộ để quy kết thành “bản chất chế độ” là thủ đoạn quen thuộc nhằm bóp méo sự thật, gây hoài nghi trong xã hội.

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2026

TỪ SỰ THẬT LỊCH SỬ ĐẾN GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

 

Cách đây 108 năm, Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và dành thắng lợi đã làm “rung chuyển thế giới”. Trải qua hơn một thế kỷ với nhiều biến động, thăng trầm của lịch sử, giá trị vĩ đại và sức sống trường tồn của Cách mạng Tháng Mười vẫn tiếp tục được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, mỗi dịp Kỷ niệm thắng lợi vĩ đại ấy, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị lại ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử. Điển hình như Thụy My, một kẻ phản bội lý tưởng cách mạng đã trắng trợn viết trên trang RFI.FR rằng “Cách mạng Tháng Mười chỉ là cuộc đảo chính Bôn-sê-vích”. Đây chỉ là luận điệu sai trái, phản động nhằm phủ nhận bản chất cách mạng, tính chính nghĩa và ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga.

1.Sự thật lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga

 Với luận điệu cho rằng “Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là cuộc đảo chính”, các thế lực thù địch và những cây bút cơ hội như Thụy My đã cố tình đánh tráo khái niệm, xuyên tạc bản chất lịch sử, lộ rõ dụng ý chính trị phản động. Bởi lẽ, không thể có cuộc “đảo chính” nào lại được chuẩn bị và diễn ra công khai với sự tham gia của hàng triệu người lao động trên khắp đất nước, với sự ủng hộ mạnh mẽ của lực lượng công, nông, binh. Để hiểu bản chất của Cách mạng Tháng Mười, cần trở lại với nước Nga trước năm 1917. Dưới ách thống trị của chế độ Nga hoàng chuyên chế, hơn 80% dân số là nông dân không có ruộng đất, công nhân bị bóc lột tàn tệ, nhân dân chìm trong đói khổ, áp bức và bất công. Sự phân hóa giai cấp sâu sắc cùng hậu quả nặng nề của Chiến tranh thế giới thứ nhất, đã đẩy đất nước đến bờ vực khủng hoảng toàn diện. Chính quyền Nga hoàng và sau đó là Chính phủ lâm thời tư sản không còn khả năng điều hành đất nước. Trong bối cảnh đó, phong trào cách mạng của quần chúng dâng cao chưa từng có. Hàng trăm Xô viết của công nhân, binh sĩ và nông dân được thành lập. Đảng Bôn-sê-vich dưới sự lãnh đạo của Lênin đã nắm bắt đúng quy luật vận động của lịch sử, đưa ra đường lối cách mạng đúng đắn: chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, lấy khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay Xô viết” làm ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng. Đó là ngọn cờ tập hợp lực lượng, dẫn dắt quần chúng bước vào cuộc đấu tranh quyết định giành chính quyền về tay nhân dân.

TỪ SỰ THẬT LỊCH SỬ ĐẾN GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

 

Cách đây 108 năm, Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và dành thắng lợi đã làm “rung chuyển thế giới”. Trải qua hơn một thế kỷ với nhiều biến động, thăng trầm của lịch sử, giá trị vĩ đại và sức sống trường tồn của Cách mạng Tháng Mười vẫn tiếp tục được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, mỗi dịp Kỷ niệm thắng lợi vĩ đại ấy, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị lại ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử. Điển hình như Thụy My, một kẻ phản bội lý tưởng cách mạng đã trắng trợn viết trên trang RFI.FR rằng “Cách mạng Tháng Mười chỉ là cuộc đảo chính Bôn-sê-vích”. Đây chỉ là luận điệu sai trái, phản động nhằm phủ nhận bản chất cách mạng, tính chính nghĩa và ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga.

1.Sự thật lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga

 Với luận điệu cho rằng “Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là cuộc đảo chính”, các thế lực thù địch và những cây bút cơ hội như Thụy My đã cố tình đánh tráo khái niệm, xuyên tạc bản chất lịch sử, lộ rõ dụng ý chính trị phản động. Bởi lẽ, không thể có cuộc “đảo chính” nào lại được chuẩn bị và diễn ra công khai với sự tham gia của hàng triệu người lao động trên khắp đất nước, với sự ủng hộ mạnh mẽ của lực lượng công, nông, binh. Để hiểu bản chất của Cách mạng Tháng Mười, cần trở lại với nước Nga trước năm 1917. Dưới ách thống trị của chế độ Nga hoàng chuyên chế, hơn 80% dân số là nông dân không có ruộng đất, công nhân bị bóc lột tàn tệ, nhân dân chìm trong đói khổ, áp bức và bất công. Sự phân hóa giai cấp sâu sắc cùng hậu quả nặng nề của Chiến tranh thế giới thứ nhất, đã đẩy đất nước đến bờ vực khủng hoảng toàn diện. Chính quyền Nga hoàng và sau đó là Chính phủ lâm thời tư sản không còn khả năng điều hành đất nước. Trong bối cảnh đó, phong trào cách mạng của quần chúng dâng cao chưa từng có. Hàng trăm Xô viết của công nhân, binh sĩ và nông dân được thành lập. Đảng Bôn-sê-vich dưới sự lãnh đạo của Lênin đã nắm bắt đúng quy luật vận động của lịch sử, đưa ra đường lối cách mạng đúng đắn: chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, lấy khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay Xô viết” làm ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng. Đó là ngọn cờ tập hợp lực lượng, dẫn dắt quần chúng bước vào cuộc đấu tranh quyết định giành chính quyền về tay nhân dân.

Ý THỨC HỆ CỦA VIỆT NAM – NGUỒN GỐC, ĐỘNG LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC

 

Trên trang Thongluan, Trần Khánh Ân đăng bài viết “Từ sự cáo chung của một ý thức hệ đến khúc quanh tất yếu của Việt Nam”; nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phản động nhằm reo rắc sự hoài nghi, mơ hồ, ảo tưởng trong nhân dân, khi cho rằng không có một ý thức hệ nào có thể sống mãi với thời gian, thay vì đem lại niềm tin, nó gieo rắc hoài nghi và tuyệt vọng.  Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần phải phê phán, bác bỏ:

Một là, ý thức hệ của Việt Nam là nền tảng tinh thần vững chắc tạo sự đồng thuận, thống nhất trong xã hội.

Ý thức hệ của Việt Nam hiện nay bao gồm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò định hướng toàn diện cho sự phát triển của đất nước. Nó xác lập hệ mục tiêu chiến lược như độc lập dân tộc, phát triển bền vững, công bằng xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được hoạch định một cách nhất quán, đảm bảo tính liên tục và phù hợp với các quy luật vận động của xã hội. Ý thức hệ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo không chỉ được hình thành từ cơ sở lý luận vững chắc mà còn được kiểm nghiệm, chứng thực qua lịch sử cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước. Ý thức hệ của Việt Nam là hệ thống quan điểm, lý tưởng và mục tiêu phát triển mà dân tộc đã lựa chọn; gắn với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và được khẳng định trong Hiến pháp cũng như thực tiễn. Ý thức hệ ấy xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; phát triển đất nước đi đôi với bảo đảm quyền con người, quyền công dân và độc lập dân tộc. Với vai trò nền tảng tư tưởng, ý thức hệ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của hệ thống chính trị, đồng thời tạo nên sự thống nhất trong nhận thức, hành động của toàn dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam lựa chọn ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Đó là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, thử thách bằng máu xương và trí tuệ của nhiều thế hệ. Ý thức hệ này đã dẫn dắt dân tộc vượt qua chiến tranh, giành độc lập, thống nhất đất nước, đồng thời tiếp tục chứng minh giá trị trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay.Những kết quả như giữ vững ổn định chính trị, nâng cao vị thế quốc tế, phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo bền vững… là minh chứng rõ ràng cho sức sống của ý thức hệ Việt Nam.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Thoibao , blogger Thái Hà đã đăng bài viết: “Đấu tranh chống tham nhũng không đi đến đâu”. Bài viết xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, nhằm hạ uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam, chia rẽ niềm tin giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, do đó cần phải đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhấtcuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam diễn ra quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả rõ rệt và không phải là cuộc chiến giành giật quyền lực.

Nếu “không đi đến đâu” như luận điệu của Thái Hà, thì tại sao trong gần một thập kỉ qua, hàng loạt vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến cán bộ cấp cao lại được điều tra, xử lý nghiêm minh với tinh thần không có “vùng cấm”, “ngoại lệ”? Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, hàng nghìn đảng viên đã bị xử lý kỷ luật, trong đó có không ít cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý, cả đương chức và đã nghỉ hưu. Nhiều vụ án lớn gây thất thoát, thiệt hại hàng chục nghìn tỉ đồng được đưa ra xét xử công khai, nghiêm minh. Những cán bộ từng giữ cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Bí thư, Phó bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch, Phó chủ tịch tỉnh, thành, thậm chí cả tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang… đều bị xử lý nghiêm nếu vi phạm pháp luật. Những kết quả này không chỉ có ý nghĩa răn đe, cảnh tỉnh, phòng ngừa, mà còn thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta theo tinh thần “Nói đi đôi với làm”, không dung túng, bao che cho bất kỳ ai.

CHIÊU TRÒ ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM CỦA LIÊN MINH DÂN CHỦ

 

Hiện nay, các thế lực thù địch ra sức lợi dụng tình hình ở Venezuela nhằm gieo rắc hoài nghi, kích động “bất bạo động”, cổ xúy cho mô hình dân chủ đa đảng và đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bài viết “Venezuela và bài học cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam” đăng trên trang Vietnamthoibao của Liên minh dân chủ là một ví dụ điển hình. Những lập luận như: “Nếu Venezuela còn chao đảo thì Việt Nam cũng không thể vững vàng”; “bài học quý giá là kiên trì phong trào bất bạo động”; “Việt Nam cần mở ra kỷ nguyên dân chủ đa đảng”… đều là những nhận định áp đặt, suy diễn vô căn cứ, sai trái cả về lý luận lẫn thực tiễn. Bởi lẽ:

Một là, Việt Nam và Venezuela: Bản chất chế độ, điều kiện lịch sử – xã hội hoàn toàn khác nhau. Việc đánh đồng Việt Nam với Venezuela là một thủ thuật đánh tráo khái niệm. Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có nền tảng chính trị – xã hội ổn định, được nhân dân tin cậy và gắn bó.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA NGUYỄN QUANG A

 

Trên trang Boxitvn, Nguyễn Quang A viết bài: “Ở Việt Nam, với tình trạng tham nhũng có hệ thống, theo xu hướng phiết-hoá, có thể làm suy đồi, kiệt quệ và dẫn đến diệt vong cả xã hội”. Nội dung bài viết chứa đựng những luận điệu xuyên tạc, phiến diện, thiếu căn cứ, mang mục tiêu chính trị, nhằm đánh lừa dư luận, phủ nhận nỗ lực phòng, chống tham nhũng của Việt Nam. Do đó, cần phải khẳng định và bác bỏ như sau:

1. Cần khẳng định rằng, tham nhũng không những không được dung túng, mà đang bị xử lý mạnh mẽ chưa từng có theo tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.

Trong những năm gần đây, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã đạt nhiều bước tiến mang tính đột phá, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước. Tham nhũng không những không được bao che hay dung túng, mà ngược lại, đang bị xử lý nghiêm minh với quy mô, mức độ và tốc độ chưa từng có. Việc kiên trì thực hiện phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” đã tạo nên một dấu ấn mạnh mẽ, khẳng định bản lĩnh, sự trong sạch và tinh thần tự chỉnh đốn của Đảng.

Hàng loạt vụ việc nghiêm trọng, kéo dài nhiều năm, liên quan đến cả cán bộ cấp cao đương chức và nghỉ hưu đã được đưa ra ánh sáng. Điều đó cho thấy tinh thần thượng tôn pháp luật và quyết tâm “làm trong sạch đội ngũ” không hề dừng lại ở tuyên bố chính trị, mà được thể hiện bằng hành động thực tiễn, kiên quyết, bài bản và hiệu quả. Công tác điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm đúng quy định, không chịu bất kỳ sức ép nào, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC – NHỊP CẦU KẾT NỐI TRI THỨC, VÌ HOÀ BÌNH VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

 

Trên trang Bbc, Đài BBC có bài viết Hội thảo quốc tế Việt Nam học hạn chế học giả phát biểu vì lo ảnh hưởng an ninh chính trị. Nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phản động khi cho rằng hội thảo chẳng khác gì một vở kịch, với những căng thẳng chưa được hoá giải giữa tri thức, chính trị và quyền lực trong đời sống học thuật Việt Nam hiện nay. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái cần phải phê phán, bác bỏ:

Một là, Hội thảo Quốc tế Việt Nam học đã khẳng định vai trò quan trọng trong kết nối tri thức toàn cầu, góp phần thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau, xây dựng hòa bình và định hình các giải pháp phát triển bền vững cho Việt Nam. Qua nhiều kỳ tổ chức, hội thảo đã khẳng định vững chắc vai trò quan trọng của mình là một nhịp cầu kết nối tri thức toàn cầu, nơi tập hợp các học giả, nhà nghiên cứu và chuyên gia quốc tế đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau để cùng chia sẻ hiểu biết về Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở việc trao đổi học thuật, hội thảo còn mở ra cơ hội đối thoại đa chiều, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng.

Thông qua các tham luận và công trình nghiên cứu công phu, hội thảo góp phần soi chiếu những vấn đề của Việt Nam từ nhiều góc độ khác nhau, qua đó giúp nhận diện rõ hơn các thách thức, tiềm năng và hướng phát triển của đất nước. Đồng thời, hội thảo cũng là diễn đàn quan trọng để đề xuất những giải pháp thiết thực cho phát triển bền vững, từ bảo tồn văn hóa, phát triển kinh tế – xã hội đến ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi số. Với sự tham gia ngày càng đông đảo của giới học thuật trong và ngoài nước, Hội thảo Quốc tế Việt Nam học đã trở thành minh chứng sống động cho tinh thần hội nhập chủ động của Việt Nam, góp phần xây dựng môi trường hợp tác hòa bình, cởi mở và sáng tạo, qua đó đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai vì một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC NHÂN SỰ ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG

 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức vào đầu năm 2026 là sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, trọng đại của đất nước. Lợi dụng sự kiện này, trên các trang mạng của các tổ chức phản động, các thế lực thù địch tăng cường tần suất xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng. Mới đây, trên nhiều diễn đàn phản động, chúng đã tán phát bài: “Đại Hội Đảng XIV: Quyết đấu giữa Phan Văn Giang và Tô Lâm” của Minh Hải. Nội dung bài viết chứa đựng các luận điệu sai trái, giả mạo, hòng gây rối, phá hoại công tác nhân sự chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng. Do đó, nhận diện và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu này là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta.

1. Vạch trần mưu đồ chống phá công tác nhân sự chuẩn bị Đại hội XIV của Minh Hải

Với mục tiêu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, Minh Hải đã dùng thủ đoạn bịa đặt, bóp méo công tác nhân sự chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại công tác chuẩn bị đại hội. Y trắng trợn bịa đặt rằng: “Những diễn biến trước Đại Hội Đảng XIV cho thấy đây không chỉ là cuộc đua cá nhân mà là trận chiến giữa các phe phái quyền lực, giữa quân đội và công an, giữa các tập đoàn kinh tế và hành chính…”. Thâm hiểm hơn, Minh Hải còn dùng chiêu bài tung tin giả về công tác chuẩn bị nhân sự bầu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cho rằng: “Trận đấu quyền lực chính trị giữa Phan Văn Giang và Tô Lâm là hình ảnh thu nhỏ của chính sự CSVN ở hiện tại”, làm nhiễu loạn thông tin, gây nghi ngờ, chia rẽ đoàn kết nội bộ trong Đảng và Nhân dân ta, làm giảm niềm tin của Nhân dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự lãnh đạo của Đảng trong công tác nhân sự chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng. Thực chất, đây là luận điệu hết sức phản động và sai trái của các thế lực thù địch, mưu đồ phá hoại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.