Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2025

Thực tiễn Việt Nam bác bỏ luận điệu phản động của Nguyễn Văn Đài về chủ nghĩa xã hội

 

Vừa qua, trên trang Hoianhemdanchu, Nguyễn Văn Đài đã đăng tải bài viết “Chủ nghĩa xã hội, trò lừa bịp của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Nội dụng bài viết là những luận điệu sai trái, xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cho rằng: “Có Đảng Cộng sản Việt Nam thì không bao giờ có chủ nghĩa xã hội”. Song cả thực tiễn và lý luận đã bác bỏ luận điệu xuyên tạc này.

Một là, lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử, là khát vọng của nhân dân ta.

Thắng lợi cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra thời kỳ mới cho lịch sử phát triển thế giới, thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi đó, thúc đẩy cách mạng xã hội chủ nghĩa và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc phát triển. Đồng thời, làm rung chuyển hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa tư bản và trở thành nguồn cảm hứng quan trọng cho con đường phát triển của cách mạng Việt Nam.

Dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và phong kiến nhân dân ta đã chịu đựng sự đè nén, áp bức, bóc lột đến tận xương tuỷ; nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước chống quân xâm lược và bè lũ tay sai diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, quyết liệt nhưng đều bị dìm trong biển máu. Các sĩ phu yêu nước cũng tìm mọi cách để cứu dân, cứu nước nhưng đều thất bại. Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc –  Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước. Sau những năm tháng lao động, học tập vất vả Người đã bắt gặp ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ đó, Người đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu xuyên suốt độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và hy sinh; song với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do” độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân đã giành được, non sông đất nước liền một giải, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Hai là, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống của các tầng lớp nhân dân.

Giá trị, sức sống của chủ nghĩa xã hội được thể hiện ở việc Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện rất tốt chính sách xã hội đối với mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt vùng, miền, dân tộc, tôn giáo. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn hoàn thiện, bổ sung những cơ chế, chính sách có liên quan đến người dân, doanh nghiệp một cách phù hợp và đem lại hiệu quả thiết thực, cụ thể ở từng giai đoạn, thời điểm. Mỗi quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác, phát triển, củng cố quốc phòng, an ninh đều vì dân, vì nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vào những dịp lễ, tết của đất nước các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương tổ chức các hoạt động thăm hỏi, gặp mặt, tặng quà đối với gia đình chính sách, người có công với cách mạng. Chính điều đó thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong toàn xã hội; qua đó, đã góp phần củng cố, giữ vững niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

CẦN NHẬN DIỆN ĐÚNG VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Boxitvn, Trần Gia Ninh đăng bài viết: “Ngành giáo dục trong kỷ nguyên mới!”. Mượn chiêu bài “cải tổ triết lý giáo dục”, Trần Gia Ninh đưa ra yêu sách đòi xóa bỏ nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi Luật giáo dục Việt Nam. Y còn cho rằng “không đổi mới chính trị, mọi cố gắng bứt phá cải cách sẽ trở nên vô nghĩa”. Đây rõ ràng là một thủ đoạn nhằm hướng lái việc cải cách giáo dục sang phủ định nền tảng tư tưởng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần phải được đấu tranh bác bỏ. Bởi lẽ:

1. Lập luận của Trần Gia Ninh là sự đánh tráo khái niệm “triết lý giáo dục”, đánh đồng giữa cải cách về triết lý giáo dục với xóa bỏ nền tảng tư tưởng, để từ đó cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là rào cản của cải cách. Đây thực chất là cách ngụy biện hết sức nguy hiểm. Triết lý giáo dục của bất kỳ quốc gia nào cũng luôn phản ánh bản chất chế độ chính trị và mục tiêu phát triển mà quốc gia đó lựa chọn. Với Việt Nam, mục tiêu ấy là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xây dựng con người vừa có tri thức, kỹ năng, vừa có lý tưởng, đạo đức và trách nhiệm xã hội. Không thể có chuyện một nền giáo dục lại trung tính về chính trị, đứng ngoài hệ tư tưởng và mục tiêu phát triển quốc gia. Nếu loại bỏ nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng phi định hướng, dễ bị cuốn theo trào lưu thực dụng, mất đi căn cốt vốn là điểm tựa để xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện.

THÀNH TỰU NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

Trên rang Doithoaionline, Thái Hạo đăng bài viết: “Cha mẹ im lặng vì sợ con bị trù dập”. Nội dung bài viết quy chụp rằng: “Một trong những lý do khiến môi trường giáo dục Việt Nam ngày càng xuống cấp và hư hỏng là sự im lặng, thậm chí đồng lõa của phụ huynh. Lý do phổ biến nhất được đưa ra là sợ con bị trù dập”. Đây là luận điệu xuyên tạc, sai lệch về bản chất, phủ nhận những thành tựu to lớn trong hệ thống Giáo dục và đào tạo, tạo mâu thuẫn giữa phụ huynh học sinh với nhà trường, gieo rắc tâm lý hoài nghi, mất niềm tin vào môi trường giáo dục ở Việt Nam.

Thứ nhất, giáo dục Việt Nam không hề “xuống cấp, hư hỏng”.

Trên thực tế, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có thành tích giáo dục ấn tượng trong khu vực và thế giới. Theo báo cáo PISA năm 2022 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), 72% học sinh Việt Nam đạt mức năng lực tối thiểu về toán học, cao hơn mức trung bình OECD là 69%. Khoảng 5% học sinh Việt Nam thuộc nhóm có thành tích hàng đầu thế giới, ngang với các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến như Đức hay Pháp. Việt Nam cũng nằm trong top 10 quốc gia có tỷ lệ hoàn thành bậc tiểu học cao nhất châu Á, đạt trên 98%. Những con số này đã phản bác luận điệu về một nền giáo dục “xuống cấp” của Thái Hạo.

VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG, BẢO VỆ, BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

 

Lợi dụng sự kiện Việt Nam tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc (UNHRC), Đài BBC tung ra luận điệu cho rằng: “Việt Nam không xứng đáng tái cử” vì, Việt Nam “vi phạm nghiêm trọng nhân quyền nhất”. Đây là nhận định thiếu khách quan, dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng, không phản ánh chính xác về tình hình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, cũng như những nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy hợp tác về quyền con người. Bởi lẽ:

1. Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người là chủ thể, mục tiêu và động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước; con người là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội. Việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là bản chất, mục đích của chế độ xã hội chủ nghĩa và là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Các bản Hiến pháp qua các thời kỳ (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) đã liên tục khẳng định và mở rộng quyền con người, quyền công dân. Trong đó, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã dành riêng một chương với 36 điều quy định rõ về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ NỀN TƯ PHÁP VIỆT NAM

 

Trên trang Thongluan-rdp, Đặng Đình Mạnh đã có bài viết “Học gì và làm gì trong một nền tư pháp giả vờ”. Bài viết chứa đựng những luận điệu hồ đồ, thiếu hiểu biết về nền tư pháp Việt Nam, khi cho rằng nền tư pháp Việt Nam là “Một nền tư pháp tàn tạ”, “công lý chỉ còn là một vở diễn vụng về”. Song, cả lý luận và thực tiễn đã bác bỏ luận điệu sai trái này của Đặng Đình Mạnh.

Thứ nhất, tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong ba nhánh quyền lực nhà nước (cùng với lập pháp và hành pháp); có vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Tư pháp Việt Nam không phải là sản phẩm hình thức, mà là thiết chế quyền lực nhà nước độc lập, có vị trí đặc biệt quan trọng trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi bổ sung năm 2025), quyền tư pháp được thực hiện bởi Tòa án nhân dân – cơ quan xét xử cao nhất của Nhà nước, nhân danh công lý để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội. Hệ thống tư pháp Việt Nam hoạt động dựa trên nguyên tắc độc lập xét xử, tuân thủ pháp luật, bảo đảm quyền bào chữa và tranh tụng bình đẳng giữa các bên, xét xử công khai, minh bạch và chịu sự giám sát của Nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2030: “Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.” Đó không chỉ là mục tiêu chính trị mà còn là cam kết hiến định nhằm bảo đảm mọi quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được bảo vệ bằng công lý, bằng pháp luật, chứ không phải bằng cảm tính hay quyền lực. Một trong các đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được thể hiện trong khoản 2, Điều 103, Hiến pháp năm 2025 đó là quyền lực tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”. Điều này khẳng định rõ rằng tư pháp không bị chi phối tùy tiện bởi các lực lượng bên ngoài mà là xét xử theo đúng quy định pháp luật. Ở mỗi thời điểm, cùng với sự phát triển của đất nước, tư pháp Việt Nam có sự điều chỉnh phù hợp với Hiến pháp theo nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, kỷ nguyên số, công tác chuyển đổi số trong tư pháp cũng được điều chỉnh thích ứng kịp thời, thuận lợi cho việc công khai bản án, tiếp nhận hồ sơ trực tuyến, hỗ trợ người dân tra cứu tiến độ vụ việc… Điều đó cho thấy nền tư pháp nước ta luôn luôn phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại, liêm chính, minh bạch, thượng tôn pháp luật, gần dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Qua đó, phản bác luận điệu sai trái về “Một nền tư pháp tàn tạ”, “công lý chỉ còn là vở diễn vụng về” của Đặng Đình Mạnh.

Thứ hai., thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội trong những năm qua đã minh chứng nền tư pháp Việt Nam luôn đề cao thượng tôn pháp luật, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của Nhân dân

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tư pháp Việt Nam luôn giữ vững chuẩn mực, phát triển mạnh mẽ và ngày càng được bổ sung, hoàn thiện hơn. Các bộ luật, luật tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; luật tổ chức tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân; luật luật sư… được sửa đổi, bổ sung phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Sự chính trực không còn là khẩu hiệu, mà đã là phẩm chất được rèn luyện trong từng bản án công tâm, từng vụ việc được giải quyết minh bạch, từng con người dám nói và làm theo lẽ phải; “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” đã được ghi nhận trong hiến pháp và đã đi vào thực tiễn. Hàng nghìn vụ án phức tạp, đặc biệt là các vụ án tham nhũng, kinh tế lớn, đã được xét xử công khai, nghiêm minh là những minh chứng, thể hiện cho tinh thần thượng tôn pháp luật “không có vùng cấm” trong thực thi công lý. Do đó, luận điệu về “sự chính trực không có đất để tồn tại” của Đặng Đình Mạnh là vô căn cứ và sai trái, nhằm xóa mờ niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ.

CHỈ KẺ VONG NÔ MỚI COI CỜ VÀNG BA SỌC LÀ BIỂU TƯỢNG

 

Trong lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, có những biểu tượng trở thành niềm tự hào, kết tinh sức mạnh đoàn kết và khát vọng độc lập, tự do của cả dân tộc; nhưng cũng có những biểu tượng gắn với nỗi nhục mất nước, với sự lệ thuộc ngoại bang và phản bội quyền lợi dân tộc. “Cờ vàng ba sọc” – lá cờ của chính quyền tay sai Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 chính là một trong những biểu tượng như vậy. Nó không chỉ đại diện cho một chế độ phụ thuộc, phản dân hại nước, mà còn là dấu ấn của những nhóm người vẫn nuôi dưỡng tư tưởng cực đoan, chống phá đất nước, quay lưng lại với lịch sử và thực tại phát triển của Việt Nam. Do đó, việc bóc trần bản chất phản động của biểu tượng này là trách nhiệm của mỗi công dân, nhất là trong bối cảnh đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

1. Cờ vàng ba sọc – biểu tượng của một chế độ lệ thuộc, phản dân hại nước

Chế độ Việt Nam Cộng hòa và lá cờ vàng ba sọc của nó không phải sản phẩm của ý chí dân tộc, mà là công cụ được dựng lên bởi các thế lực thực dân, đế quốc nhằm ngăn chặn tiến trình giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Chính quyền này được tổ chức, nuôi dưỡng, tài trợ và điều khiển bởi Mỹ, với mục tiêu biến miền Nam Việt Nam thành một tiền đồn chống lại phong trào độc lập dân tộc.

Lá cờ vàng ba sọc vì vậy không hề mang giá trị văn hoá, chính trị, lịch sử của người Việt, mà là biểu tượng của một bộ máy cai trị tay sai, phản ánh sự lệ thuộc hoàn toàn vào ngoại bang. Nó là biểu tượng cho sự đánh mất độc lập, tự chủ – những giá trị thiêng liêng nhất của dân tộc Việt Nam suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Dưới lá cờ ấy, không biết bao nhiêu tội ác đã được thực hiện như: Các chiến dịch “tố cộng”, “lập ấp chiến lược” gây ra đau thương cho hàng triệu gia đình; những chiến dịch khủng bố, đàn áp phong trào yêu nước ở miền Nam; các nhà tù như Côn Đảo, Phú Quốc – nơi hàng vạn chiến sĩ cách mạng bị tra tấn dã man; các vụ thảm sát thường dân… Vì thế, chỉ kẻ vong nô mơi tô vẽ cờ vàng ba sọc như một “biểu tượng tự do”.

SỨ MỆNH ĐẠI DIỆN TRUNG THÀNH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đang tích cực chuẩn bị hướng tới Đại hội XIV của Đảng, một số cá nhân tự xưng là “nhà yêu nước” hoặc “nhà dân chủ” đã lợi dụng mạng xã hội, blog cá nhân và các phương tiện truyền thông hải ngoại thiếu thiện chí để xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước. Nổi bật trong số đó là Chu Nguyên Hương, cái tên quen thuộc trên các diễn đàn phản động, với bài viết “Đủ rồi! Chúng tôi muốn được tự do” trên Baotiengdan . Với dụng ý chính trị đen tối, Chu Nguyên Hương ngang nhiên quy kết rằng “Đảng ngày nay không còn là của những người công nhân nghèo mà là của người nắm quyền, sở hữu tài sản…”. Luận điệu này thực chất nhằm phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây chia rẽ khối đại đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, đặc biệt là giữa Đảng với giai cấp công nhân.

1. Nhìn lại tiến trình lịch sử cách mạng, có thể khẳng định rằng từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đại diện trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Ngay trong Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng ngày 3-2-1930, Đảng đã chỉ rõ: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”. Đây sự khẳng định nền tảng giai cấp và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã chỉ rõ: “Khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng, chúng ta không tách rời Đảng và giai cấp với các tầng lớp nhân dân lao động khác, với toàn thể dân tộc”. Đây là luận điểm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa tính giai cấp và tính dân tộc trong bản chất của Đảng ta. Đến Đại hội XI, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”.

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU “CHIA PHE” CỦA TRẦN ANH QUÂN

 

Trên trang vietnamthoibao, Trần Anh Quân có bài viết “Phe Hưng Yên đã thua trắng phe Nam Định trong quân đội như thế nào?”. Bài viết đã cố tình bóp méo công tác tổ chức trong quân đội, dựng lên các câu chuyện hư cấu về “đảo chính phe phái”, “cuộc chiến Nam Định – Hưng Yên”, nhằm gieo rắc hoài nghi, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Đảng và Quân đội. Những nội dung này không chỉ sai sự thật mà còn thể hiện mưu đồ nguy hiểm: Chia rẽ khối đoàn kết nội bộ, kích động đối lập, từng bước phá hoại nền tảng chính trị – tư tưởng của Đảng trong lực lượng vũ trang. Việc phản bác những luận điệu này là yêu cầu cấp thiết, bởi nếu không kịp thời nhận diện sẽ tạo ra hệ quả tiêu cực trong dư luận, làm suy giảm niềm tin vào tổ chức Đảng và Quân đội.

Thứ nhất, bác bỏ luận điệu xuyên tạc “đảo chính phe phái trong Quân đội của Trần Anh Quân. Cần khẳng định, luận điệu “đảo chính phe phái”, “phe Nam Định lật đổ phe Hưng Yên” là một sự xuyên tạc thô thiển về bản chất công tác cán bộ của Đảng và công tác tổ chức trong Quân đội của Trần Anh Quân. Bởi lẽ, Quân đội nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; mọi điều động, luân chuyển, bổ nhiệm đều được tiến hành theo quy trình chặt chẽ, khoa học, được tập thể cấp ủy và Quân ủy Trung ương xem xét, cân nhắc trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ và chiến lược xây dựng lực lượng. Việc điều động một cán bộ từ vị trí quân đội sang vị trí địa phương hay việc bổ nhiệm cán bộ vào các cương vị khác nhau, không thể bị bóp méo thành “đấu đá phe phái”. Tất cả đều được tiến hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thẩm định hồ sơ, quy hoạch nhân sự dài hạn, đồng thời tuân thủ nghiêm các tiêu chí về phẩm chất, năng lực và yêu cầu thực tiễn. Việc Trần Anh Quân gắn những thay đổi nhân sự bình thường thành âm mưu “thâu tóm quyền lực” chỉ là sự xuyên tạc có chủ đích nhằm gây nên sự hoài nghi trong đội dư luận xã hội và làm tổn hại uy tín của Quân đội.

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2025

THÁI HẠO CỐ TÌNH XUYÊN TẠC SỰ THẬT

 

Trên trang Vietnamthoibao, Thái Hạo có bài “Bữa ăn của học sinh: cần giám sát độc lập, minh bạch và có chế tài cá nhân”. Y thông qua việc bữa ăn học đường, ở đâu đó vẫn có những sai phạm nhất định để lèo lái, quy chụp hiện tượng thành bản chất. Từ đó xuyên tạc, bóp méo sự thật về công tác bổ nhiệm cán bộ, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo về công tác cán bộ nói chung và trong ngành giáo dục nói riêng. Luận điệu xuyên tạc, sai trái này cần phải được đấu tranh bác bỏ. Bởi lẽ:

1. Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam dù là trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc hay trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Công tác cán bộ được Đảng xác định là khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đảng đã ban hành rất nhiều các chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đã gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ được giao, được thực hiện liên tục, xuyên suốt, nhiều chiều, theo những tiêu chí và bằng các sản phẩm cụ thể. Đặc biệt, công tác kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức chạy quyền đã được nêu rõ trong Quy định 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị “về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Từ Quy định này, các cấp ủy đã cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm tình hình từng địa phương, đơn vị song vẫn đảm bảo quy trình chặt chẽ theo 5 bước, đảm bảo khách quan, công tâm, công khai, minh bạch. Công tác tạo nguồn cán bộ đã được thực hiện từ rất sớm và theo những lộ trình bài bản, khả thi.

2. Đảng ta luôn coi Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu; xác định rõ, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân, mục tiêu của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và củng cố quốc phòng – an ninh. Công tác cán bộ trong ngành giáo dục là một bộ phận rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng. Do vậy, Đảng luôn quan tâm đến đội ngũ cán bộ của ngành giáo dục và luôn lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể về công tác cán bộ ở Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phù hợp với tình hình đặc điểm của ngành, bảo đảm chặt chẽ theo đúng quy định của Đảng, như: Quyết định 2055/QĐ-BGDĐT năm 2021 về Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, kéo dài thời gian giữ chức vụ, thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm, điều động, biệt phái, luân chuyển công chức, viên chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Thông tư 08/2023/TT-BGDĐT ngày 14/4/2023 của Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung quy định bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU “Y ĐỨC ĐÃ CHẾT” ĐỂ PHỦ NHẬN HỆ THỐNG Y TẾ, CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN”

 

Thời gian gần đây, trên không gian mạng xuất hiện nhiều luận điệu sai trái như “y đức đã chết”, “ngành y chỉ vì tiền”, “hệ thống y tế công sụp đổ”… do các thế lực thù địch, phản động tung ra. Lợi dụng một số vụ việc tiêu cực, cá biệt trong ngành y, họ cố tình thổi phồng, bóp méo sự thật để gây hoang mang dư luận, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào đội ngũ thầy thuốc và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước.

Mục tiêu sâu xa của họ là phủ nhận bản chất nhân văn, ưu việt của nền y tế xã hội chủ nghĩa, kích động bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, cổ súy cho mô hình tư bản hóa y tế, hướng lái dư luận chống lại các chính sách chăm sóc sức khỏe của Đảng và Nhà nước ta. Đây là một thủ đoạn chính trị tinh vi, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa cần phải được đấu tranh bác bỏ.

1. Bóc trần bản chất sai trái của luận điệu “y đức đã chết”.

Cần khẳng định, đây là luận điệu sai trái, phản thực tế và vô nhân tính. “Y đức” – đạo đức nghề nghiệp của người thầy thuốc – không chỉ là truyền thống ngàn đời của dân tộc, mà còn được Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là chuẩn mực cao quý: “Lương y như từ mẫu”. Hàng trăm nghìn cán bộ, y bác sĩ trên khắp cả nước vẫn ngày đêm âm thầm cống hiến, hết lòng vì người bệnh, kể cả trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA VŨ ĐỨC KHANH

 

Trên trang chantroimoi, Vũ Đức Khanh đã đăng bài viết xuyên tạc chuyến thăm của Tổng Bí thư Tô Lâm đến Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, khi cho rằng: Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ bị “định vị sai” trong con mắt của thế giới tự do; chuyến thăm nhằm “củng cố liên kết kinh tế hoặc ghi điểm với Trung Quốc”; “Hình ảnh Tô Lâm sánh vai cùng Kim Jong Un giữa lễ Kỷ niệm xây dựng thiên đường xã hội chủ nghĩa gợi lại hình ảnh một Việt Nam “ý thức hệ” hơn là một Việt Nam hội nhập”… Những luận điệu sai trái này cần phải được đấu tranh bác bỏ.

1. Vạch trần âm mưu xuyên tạc của Vũ Đức Khanh

Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với bất kỳ quốc gia nào đều dựa trên lợi ích quốc gia – dân tộc, phù hợp Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Việc duy trì quan hệ hữu nghị với Triều Tiên không hề đồng nghĩa với việc “bao che” hay “tán đồng” mọi chính sách nội bộ của nước bạn. Trái lại, Việt Nam luôn thể hiện vai trò là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tích cực tham gia các nỗ lực vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Những luận điệu xuyên tạc về đó chỉ nhằm phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa mà Đảng ta kiên định thực hiện trong suốt nhiều thập kỷ qua.

VIỆT NAM – CUBA: NGHĨA TÌNH VÀ TRÁCH NHIỆM QUỐC TẾ

 

Trên trang mạng doithoaionline, bút danh Hải Nguyên có bài viết: “CSVN thể hiện trách nhiệm quốc tế, hay là khôn nhà đại chợ?”. Nội dung bài viết đã xuyên tạc Việt Nam “lấy tiền của dân đi biếu người khác”, “làm màu trên trường quốc tế”, khi đề cập đến việc Nhân dân ta quyên góp ủng hộ nhân dân Cuba đang gặp khó khăn. Những luận điệu ấy không mới, nhưng vẫn thể hiện rõ âm mưu thâm độc, chia rẽ tình đoàn kết quốc tế, phủ nhận truyền thống nhân ái và nghĩa tình của dân tộc Việt Nam, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bức xúc trong nhân dân.

1. Nghĩa cử quốc tế là biểu hiện của lòng nhân ái và bản lĩnh Việt Nam.

Từ bao đời nay, dân tộc Việt Nam vốn giàu lòng nhân ái, thủy chung, “thương người như thể thương thân”. Truyền thống ấy không chỉ thể hiện trong tình làng nghĩa xóm, mà còn lan tỏa ra cộng đồng quốc tế. Khi Cuba – một đất nước từng hết lòng giúp Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, việc Nhân dân ta chung tay ủng hộ bạn bè quốc tế chính là hành động đáp nghĩa, sẻ chia, thể hiện tình người và trách nhiệm quốc tế cao cả. Đó không phải là “biếu xén” như cách nói đầy ác ý của kẻ xuyên tạc, mà là một biểu hiện của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, của văn hóa ứng xử cao đẹp đã làm nên cốt cách Việt Nam.

Những ai cố tình coi việc đó là “lấy tiền dân đi cho nước khác” rõ ràng đã đánh tráo khái niệm giữa nhân đạo và vụ lợi, giữa hành động tự nguyện của Nhân dân với luận điệu mang màu sắc chính trị phản động hòng phá hoại đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, phá hoại mối quan hệ đoàn kết truyền thống tốt đẹp, lâu dài Việt Nam – Cuba. Bởi lẽ, Việt Nam là một quốc gia có trách nhiệm không thể chỉ biết “đóng cửa lo cho mình”, mà còn cần thể hiện tinh thần tương trợ, nhân ái trong cộng đồng quốc tế. Chính tinh thần đó đã giúp Việt Nam trở thành thành viên tích cực, có uy tín, trách nhiệm, đáng tin cậy của Liên hợp quốc, ASEAN và nhiều tổ chức quốc tế khác.

NHÂN DÂN LUÔN TIN TƯỞNG TUYỆT ĐỐI VÀO SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 

Trên trang chantroimoimedia, Trần Hùng có bài viết “Thấy gì tự Hội nghị Trung ương 13 khóa XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Nội dung bài viết xuyên tạc phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 13 của Tổng Bí thư Tô Lâm, nhằm hạ thấp uy tín của đồng chí Tổng Bí thư, gây mất đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Luận điệu này cần được đấu tranh bác bỏ.  

Thứ nhất, niềm tin của Nhân dân với Đảng được hình thành, củng cố ngày càng vững chắc gắn liền với quá trình xây dựng Đảng, phát triển đất nước.

Trong suốt chặng đường 95 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, được nhân dân tin tưởng, suy tôn là lực lượng chính trị duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ điều kiện, khả năng, uy tín để tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, trang bị cho quần chúng Nhân dân hệ tư tưởng cách mạng, khoa học là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để họ tự giác rèn luyện, đấu tranh vì mục tiêu cao cả là giải phóng con người, giải phóng giai cấp, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và đấu tranh có hiệu quả chống lại mọi mưu đồ lợi dụng quyền tự do, dân chủ đi ngược lại lợi ích của Nhân dân. Đồng thời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân luôn tích cực, chủ động tham gia xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; đồng hành cùng với Đảng thực hiện có hiệu quả cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tôc.

THÀNH TỰU NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

Trên rang Doithoaionline, Thái Hạo đăng bài viết: “Cha mẹ im lặng vì sợ con bị trù dập”. Nội dung bài viết quy chụp rằng: “Một trong những lý do khiến môi trường giáo dục Việt Nam ngày càng xuống cấp và hư hỏng là sự im lặng, thậm chí đồng lõa của phụ huynh. Lý do phổ biến nhất được đưa ra là sợ con bị trù dập”. Đây là luận điệu xuyên tạc, sai lệch về bản chất, phủ nhận những thành tựu to lớn trong hệ thống Giáo dục và đào tạo, tạo mâu thuẫn giữa phụ huynh học sinh với nhà trường, gieo rắc tâm lý hoài nghi, mất niềm tin vào môi trường giáo dục ở Việt Nam.

Thứ nhất, giáo dục Việt Nam không hề “xuống cấp, hư hỏng”.

Trên thực tế, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có thành tích giáo dục ấn tượng trong khu vực và thế giới. Theo báo cáo PISA năm 2022 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), 72% học sinh Việt Nam đạt mức năng lực tối thiểu về toán học, cao hơn mức trung bình OECD là 69%. Khoảng 5% học sinh Việt Nam thuộc nhóm có thành tích hàng đầu thế giới, ngang với các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến như Đức hay Pháp. Việt Nam cũng nằm trong top 10 quốc gia có tỷ lệ hoàn thành bậc tiểu học cao nhất châu Á, đạt trên 98%. Những con số này đã phản bác luận điệu về một nền giáo dục “xuống cấp” của Thái Hạo.

Bên cạnh đó, hàng nghìn giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục ngày đêm tận tụy đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng trường học hạnh phúc. Nhiều mô hình tiêu biểu như “Trường học hạnh phúc”, “Giáo dục trải nghiệm sáng tạo”, “Chuyển đổi số trong dạy học” được nhân rộng toàn quốc. Đây là những tín hiệu tích cực không thể phủ nhận. Do đó, khi Thái Hạo nhận định “môi trường giáo dục Việt Nam ngày càng hư hỏng” là xuyên tạc, nhằm gây mất niềm tin của xã hội.

Thứ hai, phụ huynh học sinh Việt Nam không im lặng hay đồng lõa mà đang đồng hành với nhà trưởng trong giáo dục, rèn luyện học sinh.

Thực tiễn cho thấy, phụ huynh học sinh Việt Nam là lực lượng năng động và có ảnh hưởng mạnh mẽ trong hệ thống giáo dục. Trong Thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT quy định, Ban đại diện cha mẹ học sinh có nhiệm vụ giám sát hoạt động của nhà trường, phản ánh nguyện vọng của phụ huynh và đề xuất các biện pháp cải thiện chất lượng giáo dục. Mỗi năm học, hàng triệu cuộc họp phụ huynh được tổ chức, hàng chục ngàn ý kiến phản hồi được ghi nhận, góp phần định hình chính sách trường lớp ở cơ sở.

TỪ SỰ THẬT LỊCH SỬ ĐẾN GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

 

Cách đây 108 năm, Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và dành thắng lợi đã làm “rung chuyển thế giới”. Trải qua hơn một thế kỷ với nhiều biến động, thăng trầm của lịch sử, giá trị vĩ đại và sức sống trường tồn của Cách mạng Tháng Mười vẫn tiếp tục được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, mỗi dịp Kỷ niệm thắng lợi vĩ đại ấy, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị lại ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử. Điển hình như Thụy My, một kẻ phản bội lý tưởng cách mạng đã trắng trợn viết trên trang RFI.FR rằng “Cách mạng Tháng Mười chỉ là cuộc đảo chính Bôn-sê-vích”. Đây chỉ là luận điệu sai trái, phản động nhằm phủ nhận bản chất cách mạng, tính chính nghĩa và ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga.

1.Sự thật lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga

 Với luận điệu cho rằng “Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là cuộc đảo chính”, các thế lực thù địch và những cây bút cơ hội như Thụy My đã cố tình đánh tráo khái niệm, xuyên tạc bản chất lịch sử, lộ rõ dụng ý chính trị phản động. Bởi lẽ, không thể có cuộc “đảo chính” nào lại được chuẩn bị và diễn ra công khai với sự tham gia của hàng triệu người lao động trên khắp đất nước, với sự ủng hộ mạnh mẽ của lực lượng công, nông, binh. Để hiểu bản chất của Cách mạng Tháng Mười, cần trở lại với nước Nga trước năm 1917. Dưới ách thống trị của chế độ Nga hoàng chuyên chế, hơn 80% dân số là nông dân không có ruộng đất, công nhân bị bóc lột tàn tệ, nhân dân chìm trong đói khổ, áp bức và bất công. Sự phân hóa giai cấp sâu sắc cùng hậu quả nặng nề của Chiến tranh thế giới thứ nhất, đã đẩy đất nước đến bờ vực khủng hoảng toàn diện. Chính quyền Nga hoàng và sau đó là Chính phủ lâm thời tư sản không còn khả năng điều hành đất nước. Trong bối cảnh đó, phong trào cách mạng của quần chúng dâng cao chưa từng có. Hàng trăm Xô viết của công nhân, binh sĩ và nông dân được thành lập. Đảng Bôn-sê-vich dưới sự lãnh đạo của Lênin đã nắm bắt đúng quy luật vận động của lịch sử, đưa ra đường lối cách mạng đúng đắn: chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, lấy khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay Xô viết” làm ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng. Đó là ngọn cờ tập hợp lực lượng, dẫn dắt quần chúng bước vào cuộc đấu tranh quyết định giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị lực lượng lâu dài, là kết tinh của khát vọng độc lập, tự do và công bằng xã hội của hàng chục triệu người dân Nga. Nó đã xóa bỏ tận gốc chế độ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản, khắc phục tính nửa vời, hạn chế của các cuộc cách mạng trước đó, khai sinh một kiểu nhà nước mới – Nhà nước Xô viết của công nông đầu tiên trên thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, giai cấp công nhân với đội tiên phong là Đảng Bôn-sê-vích đã trở thành giai cấp cầm quyền, mở ra kỷ nguyên mới trong tiến trình phát triển nhân loại. Đây được coi là một cuộc cách mạng triệt để nhất trong lịch sử. Do vậy, không thể coi đó là sản phẩm của một cuộc “đảo chính, lật đổ” chính quyền vì quyền lợi cá nhân, mà là cuộc cách mạng của chính nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Không chỉ vậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga cùng với sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới được xem là sự kiện lịch sử vĩ đại nhất của thế kỷ 20; trở thành biểu tượng của niềm tin và sự cổ vũ mãnh liệt đối với phong trào cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới”. Rõ ràng, một cuộc “đảo chính” không thể có sức lan tỏa, tầm ảnh hưởng sâu sắc đến như vậy; chỉ có một cuộc cách mạng thực sự của nhân dân, vì nhân dân mới đủ sức làm thay đổi vận mệnh của cả thế giới.