
Trên trang Bauxitevn, Nguyễn Quang A đăng tải bài viết “Việt Nam nên tránh nguy cơ đảng – nhà nước mafia”. Dựa vào mô hình “nhà nước mafia” trong công trình Giải phẫu các chế độ hậu cộng sản, y viện dẫn thực tiễn Hungary, Nga, Kazakhstan để suy diễn rằng, Việt Nam đang xuất hiện những dấu hiệu có thể dẫn đến mô hình “đảng – nhà nước mafia”. Đây là luận điệu xuyên tạc của kẻ phản động, cần được nhận diện, phản bác.
Thứ nhất, việc áp đặt mô hình “nhà nước mafia” để quy chụp bản chất chế độ chính trị Việt Nam là luận điệu xuyên tạc, phản động.
Sai lệch căn bản trong lập luận của Nguyễn Quang A là sử dụng một mô hình phân tích chính trị hình thành từ những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội cụ thể để suy diễn về chế độ chính trị Việt Nam. Y cho rằng, sự tập trung quyền lực, vai trò lãnh đạo của một đảng chính trị và những biểu hiện lợi ích nhóm có thể là dấu hiệu hình thành “đảng – nhà nước mafia”. Đây là sự đánh đồng giữa nguyên tắc tổ chức quyền lực với hành vi lạm dụng quyền lực; giữa bản chất thể chế với những sai phạm nảy sinh trong quá trình vận hành.
Về phương pháp luận, không thể chỉ dựa vào những biểu hiện tương đồng bên ngoài để kết luận các quốc gia có cùng bản chất chính trị. Một mô hình khoa học muốn có giá trị giải thích phải được kiểm chứng bằng hệ thống tiêu chí, dữ liệu khách quan và điều kiện lịch sử cụ thể. Chính y cũng thừa nhận còn thiếu những nghiên cứu thực chứng về quan hệ bảo trợ ở Việt Nam nhưng vẫn đưa ra dự báo về xu hướng phát triển của chế độ. Như vậy, những giả định chưa được kiểm chứng đã bị biến thành cơ sở cho các kết luận mang tính quy chụp.
Thực tiễn Việt Nam có những đặc điểm lịch sử, chính trị không thể phủ nhận. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ yêu cầu khách quan của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; lãnh đạo Nhân dân giành độc lập, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Tuy nhiên, muốn đánh giá bản chất một chế độ phải xem xét toàn diện mục tiêu, nền tảng hiến định, cơ chế vận hành và kết quả thực tiễn, chứ không thể lấy sai phạm của một bộ phận cán bộ để đồng nhất với toàn bộ hệ thống chính trị. Việc Nguyễn Quang A viện dẫn trường hợp Hungary rồi suy diễn về tương lai Việt Nam càng thiếu sức thuyết phục, bởi mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, thể chế và con đường phát triển khác nhau.
Thứ hai, không thể lợi dụng tham nhũng, lợi ích nhóm và những hạn chế trong kiểm soát quyền lực để phủ nhận nỗ lực xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Trong bài viết, Nguyễn Quang A viện dẫn một số vụ án tham nhũng, quan hệ giữa cán bộ với doanh nghiệp và những bất cập trong quản lý kinh tế để đặt nghi vấn về sự hình thành tầng lớp đặc quyền, đặc lợi. Cần khẳng định, tham nhũng, tiêu cực, lạm dụng quyền lực là những nguy cơ hiện hữu, phải được nhận diện và đấu tranh kiên quyết. Tuy nhiên, từ sự tồn tại của những hiện tượng ấy đến kết luận cả hệ thống chính trị đang chuyển thành tổ chức phục vụ lợi ích riêng là bước suy diễn xuyên tạc.
Thực tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam không né tránh những hạn chế, khuyết điểm trong tổ chức và thực thi quyền lực. Nhiều vụ án nghiêm trọng như Việt Á, AIC, Vạn Thịnh Phát cùng những sai phạm trong lĩnh vực đất đai, tài chính, đầu tư công đã được điều tra, truy tố, xét xử theo pháp luật. Việc xử lý cả những cán bộ giữ cương vị lãnh đạo cấp cao thể hiện quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Những kết quả ấy không có nghĩa tham nhũng đã bị đẩy lùi triệt để, nhưng là căn cứ quan trọng để đánh giá nỗ lực tự chỉnh đốn và kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị. Các chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm nêu gương, nhất là đối với người đứng đầu. Đây là những yêu cầu cần được đánh giá thông qua cả quá trình tổ chức thực hiện và kết quả thực tiễn. Vấn đề đặt ra hiện nay là tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, công khai, minh bạch hoạt động công quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát tài sản, thu nhập; xử lý nghiêm hành vi tham nhũng, tiêu cực và phát huy vai trò giám sát của Nhân dân. Đó mới là cách tiếp cận thực chất, khoa học để ngăn ngừa nguy cơ tha hóa quyền lực.
Tóm lại, phản ánh những hạn chế, bất cập nhằm thúc đẩy cải cách là cần thiết. Nhưng phóng đại khuyết điểm, bỏ qua những nỗ lực khắc phục, từ đó quy chụp bản chất chế độ lại là cách tiếp cận sai lệch, thiếu khách quan. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, kiểm soát quyền lực, phục vụ Nhân dân là cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin, tạo động lực đưa đất nước phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét