Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026

TÍNH CHÍNH DANH CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM: THỐNG NHẤT GIỮA NỀN TẢNG LỊCH SỬ, HIẾN ĐỊNH VÀ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ

 

Trên trang Tiếng Dân, GS Stephen Young, Đinh Hoàng Thắng đăng bài viết “Suy nghĩ lại về tính chính danh chính trị ở Việt Nam đương đại”, cho rằng tính chính danh ở Việt Nam đang vận động từ “chính danh cách mạng, ý thức hệ” sang “chính danh hiệu năng”, ngày càng nhấn mạnh “niềm tin công” và “bản sắc công dân – quốc gia”. Dù được trình bày như một “giả thuyết nghiên cứu”, cách lập luận này đã đặt các yếu tố chính danh trong thế đối lập, dễ dẫn đến cách hiểu rằng nền tảng tư tưởng, lịch sử và hiến định đang suy giảm vai trò, còn hiệu năng và niềm tin xã hội mới là cơ sở quyết định. Đây là luận điệu xuyên tạc, cần được nhận diện và bác bỏ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.

Thứ nhất, không thể đồng nhất việc đề cao hiệu năng, niềm tin xã hội với sự thay thế nền tảng chính danh chính trị ở Việt Nam.

Tính chính danh chính trị không được hình thành từ một nguồn duy nhất mà là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như lịch sử, giá trị chính trị, tính hợp pháp, năng lực quản trị và sự đồng thuận xã hội. Vì vậy, một hệ thống chính trị chú trọng hơn đến hiệu quả quản trị, chất lượng phát triển và niềm tin của Nhân dân không đồng nghĩa với việc những nền tảng đã hình thành và định hướng cho hệ thống đó bị thay thế. Các yếu tố này có quan hệ bổ sung, tác động qua lại và cùng góp phần tạo nên sự ổn định, đồng thuận chính trị.

Ở Việt Nam, quá trình Đổi mới cho thấy rõ điều đó. Cùng với phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực quản trị, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định nền tảng tư tưởng, mục tiêu, đường lối và vai trò lãnh đạo đã được xác lập trong tiến trình cách mạng. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Điều 4 Hiến pháp đồng thời xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.

Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng, quyền làm chủ của Nhân dân, Nhà nước pháp quyền, trách nhiệm trước Nhân dân và yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị không phải những yếu tố loại trừ nhau. Trái lại, chúng nằm trong cùng một chỉnh thể chính trị – pháp lý. Những thành tựu của công cuộc Đổi mới về kinh tế, xã hội, đối ngoại và đời sống Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia của Nhân dân là cơ sở thực tiễn quan trọng củng cố niềm tin, đồng thuận xã hội, đồng thời phản bác luận điệu sai trái của GS Stephen Young, Đinh Hoàng Thắng.

Thứ hai, ở Việt Nam không có “niềm tin công” và “bản sắc công dân – quốc gia” là những tầng chính danh đối lập hoặc cao hơn nền tảng chủ quyền Nhân dân, Hiến pháp và lợi ích quốc gia – dân tộc.

Niềm tin xã hội và chất lượng quản trị có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của bất kỳ quốc gia nào. Một nhà nước muốn hoạt động hiệu quả phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nâng cao chất lượng phục vụ, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và tạo điều kiện để Nhân dân tham gia vào đời sống chính trị – xã hội. Tuy nhiên, từ đó suy ra “niềm tin công” là một tầng chính danh mới, tách biệt hoặc cao hơn nền tảng chính trị – tư tưởng của Việt Nam là cách lập luận chủ quan, thiên kiến, sai lệch của GS Stephen Young, Đinh Hoàng Thắng.

Ngay trong Hiến pháp, Nhân dân đã được xác định là chủ thể của quyền lực nhà nước; Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, những vấn đề như niềm tin, trách nhiệm công, lợi ích chung và sự tham gia của công dân không phải những giá trị mới xuất hiện bên ngoài cấu trúc chính trị Việt Nam, mà đã được thể hiện trong nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước.

Thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, mở rộng dân chủ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân chính là quá trình củng cố niềm tin xã hội trong khuôn khổ đổi mới và hoàn thiện hệ thống. Bởi vậy, không có cái gọi là “niềm tin công” đối lập với nền tảng chính trị hiện hữu, càng không thể lấy “niềm tin công” để lý giải yêu cầu nâng cao sự đồng thuận và trách nhiệm của Nhà nước trước Nhân dân.Còn với “bản sắc công dân – quốc gia”, không tách rời lịch sử, thể chế và lợi ích của cộng đồng dân tộc. Bản sắc Việt Nam được hình thành qua lịch sử dựng nước và giữ nước, đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng, phát triển đất nước. Vì thế, nếu tuyệt đối hóa một khái niệm về “bản sắc” rồi đặt nó ở vị trí cao hơn các nền tảng lịch sử, chính trị và pháp lý, thì dẫn đến cách nhìn sai lệch, tách một hiện tượng văn hóa – xã hội khỏi điều kiện lịch sử cụ thể.

Tóm lại, bài viết của GS Stephen Young, Đinh Hoàng Thắng đã đặt ra những vấn đề đáng chú ý về hiệu năng quản trị, niềm tin xã hội và sự vận động của các giá trị cộng đồng. Tuy nhiên, từ đó suy diễn về sự thay đổi hoặc suy giảm vai trò của các nền tảng chính trị, lịch sử và hiến định ở Việt Nam là sai lệch, xuyên tạc. Bởi, nhìn nhận đúng tính chính danh chính trị ở Việt Nam đương đại phải đặt các yếu tố trong một chỉnh thể lịch sử, chính trị, pháp lý và thực tiễn, không thể tùy tiện tách rời hoặc đặt chúng vào quan hệ đối lập, thay thế nhau./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét