Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026

ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC: KHÔNG PHẢI “MÓN ĂN HÀM THỤ”

 

Mỗi dịp đầu năm, khi xã hội cần sự bình tâm để nhìn lại và hướng tới tương lai, tại trang Baotiengdan lại xuất hiện bài viết mượn danh “suy nghĩ về đất nước” để phủ nhận những giá trị nền tảng đã làm nên Việt Nam hiện đại. Bài “Đầu năm suy nghĩ về đất nước” của Trần Trung Đạo là một trường hợp như vậy. Từ phủ nhận ý nghĩa của “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, bôi nhọ vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho tới cổ vũ tuổi trẻ noi theo các phong trào bất ổn ở nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý trong bài viết có lập luận cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam giữ nguyên tên gọi “Cộng sản” để “cảnh báo nhân dân rằng nhà tù, súng đạn và trừng phạt vẫn còn đó”. Đây không chỉ là một suy diễn ác ý, mà còn là sự bóp méo thô bạo lịch sử, phủ nhận lựa chọn chính trị của dân tộc Việt Nam. 

Trước hết, cần khẳng định, tên gọi của một chính đảng là sự xác nhận công khai về cội nguồn lịch sử, nền tảng tư tưởng và mục tiêu chính trị mà đảng đó theo đuổi. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh dân tộc mất nước, tồn tại và phát triển gắn liền với những bước ngoặt có ý nghĩa sống còn của lịch sử: giành độc lập năm 1945, lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Việc Đảng từng mang tên Đảng Lao động Việt Nam trong một giai đoạn nhất định là sự lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không phải là hành vi “đổi tên cho dễ nghe” hay “che giấu bản chất” như cách Trần Trung Đạo cố tình xuyên tạc.

Tên gọi “Đảng Cộng sản Việt Nam” vì thế không phải là để hù dọa bất kỳ ai, mà là sự tiếp nối nhất quán về tư tưởng, mục tiêu và trách nhiệm lịch sử. Trong đời sống chính trị hiện đại, không có chính đảng nào tồn tại lâu dài chỉ nhờ vào tên gọi, càng không thể duy trì vai trò cầm quyền nếu tách rời lợi ích dân tộc và sự thừa nhận của xã hội. Việc quy kết rằng giữ tên “Cộng sản” là để “cảnh báo nhân dân” phản ánh một cách nhìn đầy định kiến, đánh tráo bản chất giữa quyền lực chính trị của Đảng và quyền lực nhà nước với những tưởng tượng mang màu sắc tuyên truyền.

Luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại nhờ “lý luận, tuyên truyền, khủng bố và chia chác” tiếp tục cho thấy cách tiếp cận cực đoan và phiến diện của tác giả. Một chính quyền nếu chỉ dựa vào trấn áp không thể duy trì ổn định xã hội trong nhiều thập kỷ, càng không thể tiến hành những cải cách sâu rộng về kinh tế – xã hội, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và ngày càng phát triển, mở rộng quan hệ đối ngoại và cải thiện đời sống nhân dân như thực tiễn Việt Nam đã chứng minh. Quyền lực nhà nước ở Việt Nam là quyền lực của nhân dân, được hiến định trong Hiến pháp, pháp luật và hệ thống thiết chế quản lý, chứ không vận hành bằng “nỗi sợ” gắn với tên gọi của một đảng chính trị như cách Trần Trung Đạo áp đặt.

SỰ THẬT VỀ ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG VÀ CON ĐƯỜNG PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

 

Trên trang Baotiengdan, bút danh Tư Tiếu Nguyễn Hữu Quang đã đăng bài viết “Từ cưỡng bức ngôn ngữ đến toàn trị công an: Đại hội 14 – Kim tiền và toàn trị thay cho pháp quyền”. Nội dung bài viết có nhiều tình tiết suy diễn ác ý, bóp méo sự thật, gán ghép rằng Đại hội XIV không phải là nơi định hình tương lai phát triển của đất nước, xuyên tạc mối quan hệ giữa công an, pháp quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xúc phạm thô bạo đối với xã hội và nhân dân. Đây là luận điệu xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng, kích động hoài nghi, bất mãn trong xã hội, cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, bút danh Tư Tiếu Nguyễn Hữu Quang cố tình suy diễn ác ý, bóp méo sự thật, gán ghép cho Đại hội XIV là “con đường kim tiền thoát xác”.

 Trước hết, cần khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ và không bao giờ, xác lập mục tiêu phát triển dựa trên chủ nghĩa kim tiền hay lợi ích nhóm. Đường lối xuyên suốt của Đảng là phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; tăng trưởng đi đôi với ổn định chính trị và bảo đảm an sinh cho nhân dân. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước đã kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. Hàng loạt cán bộ cao cấp, kể cả ủy viên Bộ Chính trị, uỷ viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, tướng lĩnh, đã bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Nếu thật sự tồn tại cái gọi là “kim tiền thoát xác” như sự xuyên tạc, thì không thể có một cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng quyết liệt, không có “vùng cấm”, “không có ngoại lệ” như đã và đang diễn ra ở Việt Nam. Dù thủ pháp của bút danh Tư Tiếu Nguyễn Hữu Quang không mới nhưng lại cực kỳ nguy hiểm, bởi y gieo vào xã hội cảm giác mọi nỗ lực cải cách chỉ là “bình mới rượu cũ”, từ đó phủ định sạch trơn, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng.

Thứ hai, bút danh Tư Tiếu Nguyễn Hữu Quang xuyên tạc mối quan hệ giữa công an, pháp quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Cụm từ “dùng công an trị thay cho pháp quyền” là một sự đánh tráo khái niệm đầy dụng ý thâm độc. Thực tế cho thấy, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, lực lượng công an là một bộ phận của bộ máy thực thi pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự giám sát của nhân dân. Không có cái gọi là “công an đứng trên pháp luật” hay “công an thay thế pháp quyền”. Trái lại, chính việc tăng cường kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội mới là điều kiện tiên quyết để pháp quyền được thực thi. Ở bất kỳ quốc gia nào, nếu không có lực lượng bảo vệ pháp luật đủ mạnh, pháp quyền chỉ tồn tại trên giấy. Việc một số đối tượng vi phạm pháp luật bị xử lý nghiêm minh đã bị các thế lực chống đối bóp méo thành “đàn áp”, “trị bằng công an”, trong khi họ cố tình làm ngơ trước thực tế rằng quyền và lợi ích hợp pháp của đại đa số người dân được bảo vệ tốt hơn chính nhờ sự nghiêm minh ấy.

BÓC TRẦN LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN ĐẠI HỘI XIV DƯỚI VỎ BỌC “PHẢN BIỆN XÃ HỘI”

 

Trên trang Saigonnhonew đăng bài viết của bút danh Ông Tư Sài Gòn với luận điệu cho rằng: “Đại hội 14 sẽ kết thúc bằng thông báo “thành công tốt đẹp,” nhưng nó là một trò hề với nụ cười gượng trước ống kính, lời hứa tương lai huy hoàng kiểu “năm sau sẽ đẹp hơn năm nay…” nhưng chỉ đẹp mặt giới cầm quyền còn số phận người dân thì ê chề”. Bài viết này, thoạt nghe có vẻ chặt chẽ, thuyết phục nhưng thực tiễn Việt Nam cho thấy đó là luận điệu sai trái, thù địch, cố ý xuyên tạc, phá hoại Đại hội XIV của Đảng, vì thế chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

1. Cụm từ “Thành công tốt đẹp” thường là kết luận và thông báo mang tính hành chính quen thuộc của các kỳ đại hội Đảng nhưng không phải là sự khẳng định rằng mọi vấn đề đặt ra trong Nghị quyết đã được thực hiện. Ở Việt Nam, giá trị của một kỳ đại hội không chỉ nằm ở kết luận và thông báo khi kết thúc, mà ở những thay đổi có thể kiểm chứng trong đời sống kinh tế xã hội sau đó.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, “số phận người dân” không hề “ê chề” sau mỗi kỳ đại hội của Đảng. Từ đầu thập niên 1990 đến nay, GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng từ dưới 200 USD lên khoảng 5.026 USD theo GDP danh nghĩa. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ hơn 50% xuống dưới 5%, một mức cải thiện mà nhiều quốc gia đang phát triển khác không đạt được trong cùng khoảng thời gian. Tuổi thọ trung bình tăng từ khoảng 67 lên hơn 73 tuổi; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế vượt 90 phần trăm dân số; điện, internet và dịch vụ số đã phổ cập tới hầu hết vùng nông thôn. Những con số này không phải là trang sức để trang trí, tuyên truyền, mà  phản ánh sự đổi thay thực sự trong đời sống xã hội, gắn liền với lợi ích của người dân, không phải lợi ích trừu tượng của “giới cầm quyền”.

ĐẠI HỘI XIV VÀ SỰ NHẤT QUÁN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Baotiengdan, Nguyễn Hữu Quang đăng bài viết “Đại hội 14: ve sầu thoát xác” nhằm phủ nhận, xuyên tạc mục tiêu, nội dung về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cho rằng chủ nghĩa xã hội ngày nay ở Việt Nam mà Đại hội XIV đưa ra tồn tại như một lớp vỏ ngôn ngữ, chuyển sang mô hình khác. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái cần phải phê phán, bác bỏ.

Một là, Đại hội XIV khẳng định nhất quán bản chất xã hội chủ nghĩa của con đường phát triển Việt Nam.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định rõ ràng, nhất quán và có hệ thống mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – con đường phát triển duy nhất đúng đắn mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn. Chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam xây dựng không phải là mô hình giáo điều, sao chép từ bên ngoài, mà là chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Việt Nam, phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển của đất nước. Đó là xã hội do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được phát triển toàn diện; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với cộng đồng quốc tế. Những nội dung này phản ánh rõ bản chất ưu việt và giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, không thể coi là “vỏ ngôn ngữ”; càng không phải là sự “chuyển mô hình”, mà là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện Việt Nam và bối cảnh toàn cầu hóa. Như vậy, có thể khẳng định rằng Đại hội XIV không chỉ tiếp tục kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà còn làm sâu sắc hơn nội hàm, phương thức và điều kiện hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh mới. Điều đó cho thấy chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải là sự bảo lưu hình thức, càng không phải là “vỏ ngôn ngữ”, mà là một quá trình phát triển hiện thực, sống động, được thể hiện bằng đường lối, chính sách cụ thể và những thành tựu rõ nét trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước.

ĐẠI HỘI XIV VÀ SỰ NHẤT QUÁN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Baotiengdan, Nguyễn Hữu Quang đăng bài viết “Đại hội 14: ve sầu thoát xác” nhằm phủ nhận, xuyên tạc mục tiêu, nội dung về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cho rằng chủ nghĩa xã hội ngày nay ở Việt Nam mà Đại hội XIV đưa ra tồn tại như một lớp vỏ ngôn ngữ, chuyển sang mô hình khác. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái cần phải phê phán, bác bỏ.

Một là, Đại hội XIV khẳng định nhất quán bản chất xã hội chủ nghĩa của con đường phát triển Việt Nam.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định rõ ràng, nhất quán và có hệ thống mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – con đường phát triển duy nhất đúng đắn mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn. Chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam xây dựng không phải là mô hình giáo điều, sao chép từ bên ngoài, mà là chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Việt Nam, phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển của đất nước. Đó là xã hội do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được phát triển toàn diện; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với cộng đồng quốc tế. Những nội dung này phản ánh rõ bản chất ưu việt và giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, không thể coi là “vỏ ngôn ngữ”; càng không phải là sự “chuyển mô hình”, mà là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện Việt Nam và bối cảnh toàn cầu hóa. Như vậy, có thể khẳng định rằng Đại hội XIV không chỉ tiếp tục kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà còn làm sâu sắc hơn nội hàm, phương thức và điều kiện hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh mới. Điều đó cho thấy chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải là sự bảo lưu hình thức, càng không phải là “vỏ ngôn ngữ”, mà là một quá trình phát triển hiện thực, sống động, được thể hiện bằng đường lối, chính sách cụ thể và những thành tựu rõ nét trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước.

Hai là, thực tiễn đổi mới là minh chứng sinh động bác bỏ quan điểm xuyên tạc.

Thực tiễn 40 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn và sức sống của con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Việt Nam từ một nước nghèo, kém phát triển đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, nâng cao vị thế quốc tế và đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Việc ưu tiên phát triển kinh tế gắn với xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội thể hiện rõ bản chất nhân văn và định hướng xã hội chủ nghĩa của mô hình phát triển ở Việt Nam; kiên định thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong định hướng phát triển, điều tiết thị trường và bảo đảm lợi ích xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được xây dựng, chỉnh đốn trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Những thành tựu toàn diện đó cho thấy chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải là một khái niệm trừu tượng hay một “vỏ ngôn ngữ” mang tính hình thức, mà là một quá trình phát triển hiện thực, sống động, được thể hiện bằng các chính sách, thiết chế và kết quả cụ thể trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Thực tiễn đổi mới không chỉ bác bỏ những quan điểm xuyên tạc, mà còn khẳng định rằng con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân Việt Nam lựa chọn là phù hợp với quy luật phát triển của đất nước, đáp ứng lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân, đồng thời có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang tìm kiếm mô hình phát triển công bằng, nhân văn và bền vững trong bối cảnh thế giới nhiều biến động hiện nay.

ĐỪNG ĐỂ “CON VIRUS” CHIA RẼ VÙNG MIỀN LÀM VẨN ĐỤC NIỀM TIN SAU ĐẠI HỘI

 

Thành công rực rỡ của Đại hội XIV là niềm tự hào chung của hơn 100 triệu đồng bào. Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, sự đoàn kết giữa các vùng miền luôn là sức mạnh cốt lõi để chiến thắng mọi kẻ thù. Tuy nhiên, thời gian gần đây, trên không gian mạng lại rộ lên những luận điệu xuyên tạc, kích động sự kỳ thị vùng miền. Đây không đơn thuần là những phát ngôn thiếu văn hóa, mà thực chất là một âm mưu chính trị thâm độc nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

1. Mưu đồ “phân hóa vùng miền” – Thứ vũ khí cũ trong bối cảnh mới.

Trong “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn coi việc chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là “mũi khoan” hiểm hóc. Trước, trong, sau Đại hội XIV, thủ đoạn này được chúng đẩy lên mức tinh vi hơn thông qua các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới. Chúng cố tình nhào nặn ra cái gọi là “cuộc chiến vương quyền giữa các phe phái vùng miền”, chia tách cán bộ thành các nhóm “gốc Bắc”, “gốc Nam” hay “miền Trung”.

Những kẻ tung tin về “phe miền Bắc”, “phe miền Nam” thực chất đang cố tình áp đặt tư duy cát cứ, cục bộ thời phong kiến vào chính trị hiện đại. Trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng, chỉ có những đảng viên cộng sản cùng chung lý tưởng phụng sự nhân dân. Sự thống nhất này đã được thử thách qua hai cuộc kháng chiến và 40 năm đổi mới. Nếu Đảng bị chia rẽ bởi tư duy vùng miền, chúng ta đã không thể có được một vị thế, uy tín và sự ổn định chính trị như ngày hôm nay. Mọi sự suy diễn về “phe cánh” đều là những kịch bản rẻ tiền nhằm gây chia rẽ lòng dân. Đại hội XIV, một lần nữa khẳng định: Dù cán bộ đến từ đâu, nói giọng nói nào, thì trái tim họ đều chung một nhịp đập vì sự phồn vinh của nước Việt Nam thống nhất.

2. Trong Đảng không có khái niệm “hộ khẩu”, chỉ có thước đo duy nhất là Đức và Tài!”

Các thế lực thù địch tìm cách muốn chúng ta tin rằng có sự ưu tiên hay áp đặt giữa Nam và Bắc. Chúng ta khẳng định rằng, trong Đảng không có khái niệm “hộ khẩu”, chỉ có thước đo duy nhất là Đức và Tài!”; chiêu bài “chia để trị” này là một thủ đoạn cũ đã bị lịch sử quăng vào sọt rác. Trong suốt chiều dài cách mạng, chưa bao giờ vận mệnh dân tộc lại tách rời giữa Nam và Bắc. Sợi dây gắn kết ấy được dệt bằng máu xương của hàng triệu người con trên khắp mọi miền Tổ quốc, chứ không thể bị cắt đứt bởi những luận điệu xuyên tạc, hằn học trên bàn phím. Việc lợi dụng kỳ đại hội trọng đại để gieo rắc sự kỳ thị vùng miền không chỉ là hành vi chống phá chính trị, mà còn là tội ác đối với truyền thống đoàn kết của cha ông.

“LẤY DÂN LÀM GỐC” KHÔNG PHẢI LÀ VIỄN CẢNH HAY KHẨU HIỆU TRÊN GIẤY

 

Trên trang Vietnamthoibao, các thế lực thù địch đăng bài viết “Một viễn cảnh chính sách lấy dân làm gốc”, đưa ra nhận định rằng, chính sách ở Việt Nam hiện nay chưa thể hiện được quan điểm “lấy dân làm gốc”, đó chỉ là một viễn cảnh xa xôi và an sinh xã hội chỉ nằm “trên giấy”. Đây là những luận điệu vô căn cứ, đổi trắng thay đen, cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng và sự nỗ lực không ngừng chăm lo đời sống Nhân dân của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong những năm qua. Bởi lẽ:

1. “Lấy dân làm gốc” là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam

“Lấy dân làm gốc” không phải là khái niệm mơ hồ, viễn cảnh xa xôi hay khẩu hiệu hình thức mà là tư tưởng cốt lõi trong đường lối lãnh đạo của Đảng, được Hiến định trong Hiến pháp Việt Nam. Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Ngoài lợi ích của Nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc… Gốc có vững cây mới bền”. Hiến pháp năm 2013 khẳng định rõ: “Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân”.  Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển con người toàn diện, lấy con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và động lực của sự phát triển”. Đại hội XIII của Đảng đã nâng tầm lý luận từ “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là sự khẳng định đanh thép nhất về việc lấy con người làm trung tâm của mọi chính sách. Điều đó cho thấy, quan điểm “lấy dân làm gốc” đã được đặt ở vị trí nền tảng pháp lý cao nhất, chứ không chỉ là viễn cảnh xa xôi hay khẩu hiệu “đứng trên giấy” như luận điệu xuyên tạc nêu trên.

BẢN CHẤT PHẢN ĐỘNG TRONG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN VAI TRÒ TRÍ THỨC VÀ LUẬT SƯ VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao đăng tải bài viết “Trách nhiệm của giới trí thức và luật sư trong một xã hội suy vi” của Đặng Đình Mạnh. Bài viết đã tung ra nhiều luận điệu phủ nhận, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vai trò của đội ngũ trí thức và những người luật sư; đánh đồng đội ngũ trí thức, luật sư chân chính với đám “trí thức”, “luật sư” tự xưng. Song, cả lý luận và thực tiễn đã báo bỏ luận điệu xuyên tạc của Đặng Đình Mạnh.

1.Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội được xác định là một cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm tính khoa học, dân chủ và hiệu quả của hoạt động lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách. Đội ngũ trí thức, trong đó có đội ngũ luật sư, được Đảng và Nhà nước coi là lực lượng nòng cốt tham gia phản biện xã hội bằng tri thức khoa học, chuyên môn nghề nghiệp và trách nhiệm công dân.

Tuy nhiên, Đặng Đình Mạnh đã đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng: Luật sư và trí thức ở Việt Nam “không có tiếng nói phản biện”, “bị kiểm soát”, “chỉ làm công cụ tuyên truyền”, “không được tự do học thuật, “không được lên tiếng về chính sách”, “chỉ được nói theo định hướng sẵn có”. Y còn cho rằng: “luật sư là nhóm hiếm hoi có năng lực” nhưng “chỉ làm theo chỉ đạo”, “không dám bảo vệ thân chủ hay lên tiếng phản biện pháp luật”. Đây là sự bóp méo trắng trợn vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức và bản chất hoạt động nghề nghiệp luật sư ở Việt Nam.

Thực chất, phản biện xã hội ở Việt Nam được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và định hướng chính trị rõ ràng, nhằm mục tiêu xây dựng, hoàn thiện chính sách. Trên thực tế, pháp luật Việt Nam đã xác lập rõ nguyên tắc độc lập trong hành nghề luật sư, đồng thời đặt hoạt động đó trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Luật sư tham gia phản biện thông qua nhiều kênh: Góp ý dự thảo luật, phản biện chính sách tư pháp, kiến nghị hoàn thiện thể chế pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước pháp luật. Đội ngũ trí thức thực hiện phản biện chủ yếu diễn ra thông qua các hội thảo khoa học, báo cáo nghiên cứu, phản biện chính sách trong các cơ quan tư vấn, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật, các viện nghiên cứu, trường đại học. Đây là hình thức phản biện nghiêm túc, bài bản và có giá trị thực tiễn cao. Do đó, việc Đặng Đình Mạnh lợi dụng chiêu bài phản biện để cổ xúy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là đi ngược lại lợi ích quốc gia – dân tộc và ý chí, nguyện vọng của Nhân dân Việt Nam.

CHĂM LO, PHÁT TRIỂN THANH NIÊN – CHỦ TRƯƠNG NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao, Camille Nguyễn đăng tải bài viết “Cuối năm 2025: 10% thanh niên không việc làm, không học tập, không đào tạo nghề” nhằm phủ nhận, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thanh niên, cho rằng Đảng, Nhà nước thiếu chính sách đào tạo đúng đắn, hướng nghiệp cho thanh niên, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động hiện nay. Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động cần phê phán, bác bỏ:

Một là, chăm lo, phát triển thanh niên chủ trương nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đặc biệt quan tâm đến công tác thanh niên. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, đồng thời căn dặn: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Tư tưởng đó đã trở thành nền tảng lý luận, kim chỉ nam cho đường lối, chủ trương của Đảng về thanh niên. Qua các kỳ Đại hội, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhấn mạnh nhiệm vụ chăm lo, phát triển thanh niên. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” khẳng định: thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để thanh niên học tập, lao động, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, cống hiến cho đất nước. Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật quan trọng như: Luật Thanh niên, Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam, các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, dạy nghề, giảm nghèo bền vững, hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp… Điều đó cho thấy chăm lo, phát triển thanh niên không phải là chủ trương nhất thời mà là quan điểm xuyên suốt, nhất quán, lâu dài.

CÔNG AN VÀ TUYÊN GIÁO – HAI LỰC LƯỢNG QUAN TRỌNG HÀNG ĐẦU TRONG GIỮ VỮNG VÀ PHÁT HUY DÂN CHỦ

 

Vừa qua, trên Bloger của Thongluan-rdp, Tập hợp dân chủ đa nguyên có bài viết: “Lập trường dân chủ ngày càng đang được nhiều anh em Công an và Tuyên giáo ủng hộ”, cho rằng Công an, Tuyên giáo cũng chán ngán thực tại không có dân chủ ở Việt Nam; kêu gọi những người đấu tranh cho dân chủ tiếp sức cho ngành Công an và ngành Tuyên giáo vùng lên đấu tranh cho dân chủ. Thực tế, Tập hợp dân chủ đa nguyên đang cố tình không hiểu, xuyên tạc tình hình dân chủ và nói xấu ngành Công an, ngành Tuyên giáo ở Việt Nam.

        Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ có nghĩa dân là chủ và người dân làm chủ. Đảng ta khẳng định: Dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là bản chất của chế độ chính trị do Đảng lãnh đạo, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Nội dung cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân, gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở.

ĐỪNG LẤY “LỜI MỘT CÁI MÁY” ĐỂ PHỦ ĐỊNH NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

 

Trên trang vietnamthoibao, An Thư đăng tải bài viết với tựa đề So sánh sự nhân đạo và lý trí của một cái máy (ChatGPT) với trái tim, khối óc của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Dưới chiêu bài “so sánh trung lập”, Y đã cố tình lợi dụng việc hỏi ChatGPT về vụ xét xử vắng mặt hai bị can đang lưu vong tại Đức để xuyên tạc quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xử lý tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia. Từ đó, quy chụp Việt Nam “thiếu dân chủ”, “phi nhân đạo”. Thoạt nhìn, bài viết được khoác lớp áo “khách quan công nghệ”. Nhưng thực chất, đây là một thủ đoạn ngụy biện mới, mượn uy tín của trí tuệ nhân tạo để đánh tráo bản chất của công lý, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Một là, AI chỉ là công cụ kỹ thuật, không phải chủ thể đạo đức – pháp lý; so sánh AI với Đảng, Nhà nước là sự đánh tráo chuẩn mực nguy hiểm

Cần khẳng định rành mạch: AI không phải con người, không phải thiết chế chính trị, không có tư cách pháp nhân, càng không mang trách nhiệm trước Hiến pháp, pháp luật và nhân dân. ChatGPT hay bất kỳ mô hình ngôn ngữ nào chỉ là sản phẩm công nghệ, hoạt động theo thuật toán, tổng hợp dữ liệu và phản hồi theo câu hỏi. Nó không điều tra, không thẩm định chứng cứ, không chịu trách nhiệm về hậu quả xã hội của câu trả lời. Trong khi đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ thể lãnh đạo và quản lý xã hội, chịu trách nhiệm toàn diện trước Tổ quốc và Nhân dân: Bảo vệ độc lập, chủ quyền; giữ vững ổn định chính trị, xã hội; bảo đảm quyền con người trong khuôn khổ lợi ích quốc gia, dân tộc. Mọi quyết định tư pháp đều phải tuân thủ quy trình chặt chẽ: Điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ hợp pháp; tranh tụng công khai; bảo đảm quyền bào chữa; chịu sự giám sát của nhân dân và pháp luật.

Việc An Thư đem “lời của một cái máy” đặt lên bàn cân với “trái tim, khối óc của Đảng” không phải là so sánh khoa học, mà là đánh tráo chuẩn mực. Chuẩn mực của AI là sự trôi chảy ngôn từ, cân bằng cảm xúc theo văn cảnh. Chuẩn mực của công lý là chứng cứ, quy trình tố tụng, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm chính trị, xã hội. Nếu đã nói đến “nhân đạo”, thì nhân đạo không thể đo bằng một đoạn văn trả lời tự động. Nhân đạo phải được kiểm chứng bằng chính sách và thực tiễn pháp lý. Thực tế cho thấy, ngay cả trong trường hợp xét xử vắng mặt, pháp luật Việt Nam vẫn đặt trọng tâm bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo, tòa án kêu gọi ra trình diện, tạo điều kiện tự bào chữa; trường hợp bị cáo không có mặt, luật sư vẫn được chỉ định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Đó là nhân đạo được thể chế hóa, chứ không phải nhân đạo “cảm tính”.

Hai là, dân chủ không đồng nghĩa với vô giới hạn; xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia và xét xử vắng mặt là thông lệ của Nhà nước pháp quyền

Một luận điệu quen thuộc khác trong bài viết là, xuyên tạc, cho rằng việc xử lý tội “tuyên truyền chống Nhà nước” và xét xử vắng mặt chứng tỏ Việt Nam “thiếu dân chủ”. Đây là lập luận phiến diện, cố tình lẫn lộn giữa quyền tự do và hành vi vi phạm pháp luật. Trong mọi xã hội, tự do ngôn luận không bao giờ là quyền tuyệt đối. Khi việc “bày tỏ quan điểm” bị biến thành hoạt động có tổ chức, xuyên tạc sự thật, kích động thù hằn, phá hoại nền tảng chính trị, xã hội, thì đó không còn là tự do, mà là xâm hại an ninh quốc gia. Nhà nước nào cũng phải xử lý. Về mặt tố tụng, xét xử vắng mặt không phải “đặc sản” của Việt Nam, càng không phải biểu hiện “độc đoán”. Đây là cơ chế phổ biến để ngăn chặn việc trốn tránh công lý: Nếu chỉ cần bỏ ra nước ngoài là thoát xét xử, thì pháp luật sẽ bị vô hiệu hóa. Pháp luật Việt Nam quy định rõ các điều kiện xét xử vắng mặt, đồng thời thiết lập cơ chế bảo vệ quyền bào chữa, bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch. Đáng nói là, các phiên tòa liên quan đều được thông tin công khai trên báo chí chính thống; căn cứ pháp lý, tội danh, trình tự tố tụng được nêu rõ. Điều đó cho thấy Nhà nước không hề né tránh dư luận, mà xử lý bằng pháp luật, bằng thiết chế, bằng trách nhiệm trước xã hội.

Điều nguy hiểm trong bài viết của An Thư là tiêu chuẩn kép; khi Y cho rằng một số quốc gia phương Tây xử lý hành vi bị coi là đe dọa an ninh, họ gọi đó là “bảo vệ hiến pháp”. Còn với Việt Nam xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia theo luật định, họ lập tức gắn nhãn “thiếu dân chủ”. Dân chủ, suy cho cùng, không phải là cho phép mọi hành vi nhân danh “tự do”, mà là thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền con người gắn liền với quyền của cộng đồng và lợi ích dân tộc. Một xã hội nhân đạo thật sự là xã hội bảo vệ được sự ổn định, an toàn và niềm tin của đại đa số nhân dân, chứ không chạy theo cảm xúc do những luận điệu kích động trên không gian mạng dẫn dắt.

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

SỰ THẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao đăng bài viết “Cập nhật tình hình Việt Nam” của USCIRF, với luận điệu cho rằng “Việt Nam bên ngoài là hình ảnh tự do tôn giáo, bên trong là mạng lưới kiểm soát len lỏi tới từng nhóm đức tin”. Theo lập luận này, mặc dù Việt Nam có những cải cách nhất định và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao, nhưng thực chất tự do tôn giáo vẫn bị hạn chế nghiêm trọng, thậm chí bị “đàn áp có hệ thống”. Tuy nhiên, khi đặt các nhận định đó dưới góc nhìn pháp lý, thực tiễn xã hội và dữ liệu khách quan, có thể thấy đây là một cách diễn giải phiến diện, không phản ánh đầy đủ thực trạng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cố tình xuyên tạc, phủ nhận và chống phá nhà nước Việt Nam. Do đó, cần phân tích, nhận diện, phản bác, cụ thể là:

Trước hết, cần khẳng định rằng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam không phải là một khẩu hiệu mang tính hình thức mà là quyền được hiến định. Hiến pháp năm 2013, tại Điều 24, quy định rõ: mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định này phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), mà Việt Nam là thành viên từ năm 1982. Trên cơ sở hiến định đó, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã lần đầu tiên thiết lập một khung pháp lý tương đối toàn diện cho hoạt động tôn giáo, từ sinh hoạt cá nhân, hoạt động của tổ chức tôn giáo cho đến quan hệ quốc tế của các tổ chức này. Việc một quốc gia ban hành luật chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo cho thấy nỗ lực thể chế hóa quyền con người, chứ không phải là biểu hiện của việc “kiểm soát ngầm” như một số luận điệu quy kết.

Thứ hai, nếu cho rằng Việt Nam có “hiện trạng tự do tôn giáo tồi tệ”, thì cần đối chiếu với thực tế đời sống tôn giáo đang diễn ra hàng ngày trên toàn quốc. Theo số liệu của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, đến nay, Việt Nam có gần 28 triệu tín đồ, chiếm gần 28% dân số; 16 tôn giáo được công nhận với 43 tổ chức tôn giáo trực thuộc; hơn 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc và hàng chục nghìn cơ sở thờ tự đang hoạt động công khai. Các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo đều hiện diện rộng khắp ở 34 tỉnh, thành phố, với sinh hoạt lễ nghi, đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách và hoạt động từ thiện – xã hội diễn ra thường xuyên. Chỉ riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc với sự tham gia của hàng nghìn đại biểu quốc tế, điều khó có thể xảy ra ở một quốc gia bị cho là “đàn áp tôn giáo”.

Thứ ba, luận điệu cho rằng Nhà nước Việt Nam “ưu tiên hạn chế và trừng phạt” tín đồ các nhóm tôn giáo độc lập thường cố tình đánh đồng giữa quản lý bằng pháp luật và đàn áp tự do tôn giáo. Trên thực tế, mọi quốc gia đều có những quy định pháp lý nhất định đối với hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm trật tự công cộng, an toàn xã hội và quyền của người khác. Ở Việt Nam, việc yêu cầu đăng ký hoạt động tôn giáo hay công nhận tổ chức tôn giáo là thủ tục hành chính nhằm xác lập tư cách pháp lý, chứ không phải là cơ chế loại trừ niềm tin. Nhiều nhóm tôn giáo trước đây chưa được công nhận đã từng bước hoàn thiện hồ sơ và được chấp thuận hoạt động hợp pháp. Việc xử lý một số cá nhân hoặc nhóm người vi phạm pháp luật, trong đó có yếu tố tôn giáo, không đồng nghĩa với việc trấn áp đức tin, mà là áp dụng pháp luật đối với những hành vi của con người cụ thể.

VẠCH TRẦN BẢN CHẤT LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VAI TRÒ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Trên trang ThekymediaVũ Đăng Khánh đăng bài viết “Đảng tai: Một thế kỷ quyền lực và cái giá mà Việt Nam phải trả”. Nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vị trí, vai trò, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, cần phải phê phán, bác bỏ:

Một là, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định trong dòng chảy của lịch sử dân tộc.

Trong dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc từ khi ra đời tới nay là lịch sử dựng nước và giữ nước. Dựng nước luôn luôn gắn chặt với giữ nước, trong đó dựng nước là yếu tố cơ bản. Phải xây dựng được đất nước hùng mạnh về mọi mặt mới có điều kiện, khả năng chiến thắng các thế lực thù địch và phải giữ được nước mới có điều kiện để xây dựng đất nước. Chính nhờ kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tinh hoa của văn hóa phương Đông và phương Tây mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước (1911) và đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin (1920). Con đường cứu nước đúng đắn đã được xác định, đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm đứng ra nhận sứ mệnh lịch sử to lớn mà giai cấp và dân tộc giao phó: Lãnh đạo các tầng lớp nhân dân Việt Nam đấu tranh chống thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, dân chủ cho nhân dân. Từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ là một đảng cách mạng chân chính nhất, có sức hội tụ lớn nhất mọi sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, sớm trở thành đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam là do thời đại, do giai cấp và dân tộc quy định. Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với vai trò của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trước các nhiệm vụ lịch sử, Đảng và Bác Hồ đã kịp thời xác định đúng đắn, sáng tạo đường lối, chiến lược, sách lược đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

GEN Z VIỆT NAM VÀ SỰ THẬT VỀ CHÍNH SÁCH CHĂM LO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên không gian mạng với chiêu bài quen thuộc là “nhân quyền”, “tự do”, “quyền của giới trẻ”. Dưới vỏ bọc “bảo vệ Gen Z”, “đấu tranh cho tương lai thanh niên”, chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ; đồng thời kích động tâm lý bất mãn, kêu gọi tụ tập, biểu tình trái pháp luật nhằm gây mất ổn định chính trị – xã hội.

Đây không phải là hiện tượng tự phát, mà là sự tiếp nối có tính toán của chiến lược “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa thế hệ trẻ”, từng bước làm suy giảm niềm tin của thanh niên vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước. Do đó, cần phải đấu tranh bác bỏ trên cơ sở nhận diện và khẳng định bởi một số thực tiễn sinh động như sau:

1.Thực tiễn phát triển của Việt Nam trong những năm qua đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu cho rằng Đảng, Nhà nước “không quan tâm đến đời sống nhân dân”. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, xung đột, suy thoái cục bộ, Việt Nam vẫn duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.