Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

SỰ THẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao đăng bài viết “Cập nhật tình hình Việt Nam” của USCIRF, với luận điệu cho rằng “Việt Nam bên ngoài là hình ảnh tự do tôn giáo, bên trong là mạng lưới kiểm soát len lỏi tới từng nhóm đức tin”. Theo lập luận này, mặc dù Việt Nam có những cải cách nhất định và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao, nhưng thực chất tự do tôn giáo vẫn bị hạn chế nghiêm trọng, thậm chí bị “đàn áp có hệ thống”. Tuy nhiên, khi đặt các nhận định đó dưới góc nhìn pháp lý, thực tiễn xã hội và dữ liệu khách quan, có thể thấy đây là một cách diễn giải phiến diện, không phản ánh đầy đủ thực trạng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cố tình xuyên tạc, phủ nhận và chống phá nhà nước Việt Nam. Do đó, cần phân tích, nhận diện, phản bác, cụ thể là:

Trước hết, cần khẳng định rằng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam không phải là một khẩu hiệu mang tính hình thức mà là quyền được hiến định. Hiến pháp năm 2013, tại Điều 24, quy định rõ: mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định này phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), mà Việt Nam là thành viên từ năm 1982. Trên cơ sở hiến định đó, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã lần đầu tiên thiết lập một khung pháp lý tương đối toàn diện cho hoạt động tôn giáo, từ sinh hoạt cá nhân, hoạt động của tổ chức tôn giáo cho đến quan hệ quốc tế của các tổ chức này. Việc một quốc gia ban hành luật chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo cho thấy nỗ lực thể chế hóa quyền con người, chứ không phải là biểu hiện của việc “kiểm soát ngầm” như một số luận điệu quy kết.

Thứ hai, nếu cho rằng Việt Nam có “hiện trạng tự do tôn giáo tồi tệ”, thì cần đối chiếu với thực tế đời sống tôn giáo đang diễn ra hàng ngày trên toàn quốc. Theo số liệu của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, đến nay, Việt Nam có gần 28 triệu tín đồ, chiếm gần 28% dân số; 16 tôn giáo được công nhận với 43 tổ chức tôn giáo trực thuộc; hơn 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc và hàng chục nghìn cơ sở thờ tự đang hoạt động công khai. Các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo đều hiện diện rộng khắp ở 34 tỉnh, thành phố, với sinh hoạt lễ nghi, đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách và hoạt động từ thiện – xã hội diễn ra thường xuyên. Chỉ riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc với sự tham gia của hàng nghìn đại biểu quốc tế, điều khó có thể xảy ra ở một quốc gia bị cho là “đàn áp tôn giáo”.

Thứ ba, luận điệu cho rằng Nhà nước Việt Nam “ưu tiên hạn chế và trừng phạt” tín đồ các nhóm tôn giáo độc lập thường cố tình đánh đồng giữa quản lý bằng pháp luật và đàn áp tự do tôn giáo. Trên thực tế, mọi quốc gia đều có những quy định pháp lý nhất định đối với hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm trật tự công cộng, an toàn xã hội và quyền của người khác. Ở Việt Nam, việc yêu cầu đăng ký hoạt động tôn giáo hay công nhận tổ chức tôn giáo là thủ tục hành chính nhằm xác lập tư cách pháp lý, chứ không phải là cơ chế loại trừ niềm tin. Nhiều nhóm tôn giáo trước đây chưa được công nhận đã từng bước hoàn thiện hồ sơ và được chấp thuận hoạt động hợp pháp. Việc xử lý một số cá nhân hoặc nhóm người vi phạm pháp luật, trong đó có yếu tố tôn giáo, không đồng nghĩa với việc trấn áp đức tin, mà là áp dụng pháp luật đối với những hành vi của con người cụ thể.

VẠCH TRẦN BẢN CHẤT LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VAI TRÒ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Trên trang ThekymediaVũ Đăng Khánh đăng bài viết “Đảng tai: Một thế kỷ quyền lực và cái giá mà Việt Nam phải trả”. Nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vị trí, vai trò, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, cần phải phê phán, bác bỏ:

Một là, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định trong dòng chảy của lịch sử dân tộc.

Trong dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc từ khi ra đời tới nay là lịch sử dựng nước và giữ nước. Dựng nước luôn luôn gắn chặt với giữ nước, trong đó dựng nước là yếu tố cơ bản. Phải xây dựng được đất nước hùng mạnh về mọi mặt mới có điều kiện, khả năng chiến thắng các thế lực thù địch và phải giữ được nước mới có điều kiện để xây dựng đất nước. Chính nhờ kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tinh hoa của văn hóa phương Đông và phương Tây mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước (1911) và đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin (1920). Con đường cứu nước đúng đắn đã được xác định, đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm đứng ra nhận sứ mệnh lịch sử to lớn mà giai cấp và dân tộc giao phó: Lãnh đạo các tầng lớp nhân dân Việt Nam đấu tranh chống thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, dân chủ cho nhân dân. Từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ là một đảng cách mạng chân chính nhất, có sức hội tụ lớn nhất mọi sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, sớm trở thành đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam là do thời đại, do giai cấp và dân tộc quy định. Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với vai trò của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trước các nhiệm vụ lịch sử, Đảng và Bác Hồ đã kịp thời xác định đúng đắn, sáng tạo đường lối, chiến lược, sách lược đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

GEN Z VIỆT NAM VÀ SỰ THẬT VỀ CHÍNH SÁCH CHĂM LO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên không gian mạng với chiêu bài quen thuộc là “nhân quyền”, “tự do”, “quyền của giới trẻ”. Dưới vỏ bọc “bảo vệ Gen Z”, “đấu tranh cho tương lai thanh niên”, chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ; đồng thời kích động tâm lý bất mãn, kêu gọi tụ tập, biểu tình trái pháp luật nhằm gây mất ổn định chính trị – xã hội.

Đây không phải là hiện tượng tự phát, mà là sự tiếp nối có tính toán của chiến lược “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa thế hệ trẻ”, từng bước làm suy giảm niềm tin của thanh niên vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước. Do đó, cần phải đấu tranh bác bỏ trên cơ sở nhận diện và khẳng định bởi một số thực tiễn sinh động như sau:

1.Thực tiễn phát triển của Việt Nam trong những năm qua đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu cho rằng Đảng, Nhà nước “không quan tâm đến đời sống nhân dân”. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, xung đột, suy thoái cục bộ, Việt Nam vẫn duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ KHÔNG PHẢI CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

 

Trong bài viết “Con đường Việt Nam thế kỷ XXI: Trở lại ánh sáng bằng tự do, giác ngộ và trách nhiệm”, Vũ Đức Khanh tiếp tục lặp lại một luận điệu quen thuộc của các thế lực chống phá: Phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn; xuyên tạc bản chất của chế độ chính trị ở Việt Nam; cổ xúy cho “xã hội dân sự”, “đa nguyên chính trị, đa nguyên tư tưởng” như một lối thoát duy nhất cho đất nước. Đây không phải là nhận thức học thuật mới mẻ, càng không phải là “giác ngộ”, mà là sự ngụy trang tinh vi của tư tưởng phản động, đi ngược lại lợi ích căn bản của dân tộc Việt Nam cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

1. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là “ánh sáng” mà là con đường dẫn tới bất ổn, lệ thuộc và đánh mất quyền tự quyết của dân tộc

Vũ Đức Khanh cố tình đánh tráo khái niệm khi cho rằng mở rộng “xã hội dân sự”, “đa nguyên chính trị, tư tưởng” sẽ đưa Việt Nam “trở lại ánh sáng”. Thực chất, đây là sự áp đặt mô hình phương Tây lên một quốc gia có lịch sử, văn hóa, thể chế và điều kiện phát triển hoàn toàn khác biệt. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ nhà nước và hệ thống chính trị luôn mang bản chất giai cấp, phản ánh tương quan lực lượng xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Không tồn tại một mô hình chính trị “phi ý thức hệ”, “trung tính” hay “vì tất cả mọi người” như các thế lực phản động thường rêu rao. “Đa nguyên chính trị” trong xã hội tư bản không phải là sự bình đẳng về quyền lực, mà là đa đảng trong khuôn khổ thống trị của tư bản, nơi đồng tiền, tập đoàn tài phiệt và truyền thông thao túng đời sống chính trị. Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản không phải là sự áp đặt chủ quan, mà là kết quả của lịch sử đấu tranh cách mạng, được nhân dân thừa nhận, kiểm nghiệm và trao quyền lãnh đạo thông qua thực tiễn. Đảng không đứng ngoài hay đứng trên dân tộc, mà là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

VŨ ĐỨC KHANH LỢI DỤNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

 

Trên trang “Vietnamthoibao”, Vũ Đức Khanh đã đăng bài viết “Phản biện chính sách và khát vọng một mô hình Việt Nam hiện đại”. Nội dung bài viết không phản ánh thực trạng xã hội, mà là lợi dụng tự do ngôn luận để công kích nền tảng thể chế chính trị của Việt Nam. Luận điệu này không mới, nhưng nguy hiểm vì được ngụy tạo dưới vỏ bọc “phân tích xã hội”, làm cho người dân hiểu sai. Qua đó, gieo rắc tâm lý hoài nghi, làm xói mòn niềm tin của người dân vào hệ thống chính trị, từ đó phục vụ cho âm mưu “diễn biến hòa bình”, lật đổ thể chế bằng hình thức “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong nội bộ. Do đó, cần được nhận diện và đấu tranh phản bác.

Thứ nhất, phản biện xã hội là một phương thức quan trọng, hữu hiệu để hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân ở Việt Nam. Với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước ta luôn thực hiện nhất quán chủ trương khuyến khích, tạo mọi điều kiện để các tổ chức chính trị – xã hội, các tầng lớp nhân dân tham gia phản biện xã hội. Điều đó được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, là cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc để phản biện xã hội đi vào thực tiễn đời sống. Qua đó, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của người dân và các cơ quan Đảng, Nhà nước, thúc đẩy dân chủ hóa xã hội.

“TAM QUYỀN PHÂN LẬP” – LUẬN ĐIỆU CŨ TRONG ÂM MƯU MỚICHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Trên trang Baotiengdan, Lê Chí Thành có bài viết “Tâm thư gửi tân Tổng Bí thư, người đứng đầu đảng và lực lượng quyền lực nhất đất nước”,cho rằng: “Việt Nam nên lựa chọn con đường tam quyền phân lập…”. Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc Hiến pháp, cường điệu hóa học thuyết “tam quyền phân lập” để thực hiện mục tiêu chống phá Việt Nam.

Thứ nhất, cần hiểu đúng Hiến pháp Việt Nam và tại sao Việt Nam không áp dụng “tam quyền phân lập” trong tổ chức bộ máy nhà nước.

Ở Việt Nam, Hiến pháp phản ánh ý chí và nguyện vọng chung của dân tộc và toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam; là cơ sở pháp lý cho xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Hiến pháp Việt Nam do Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành, theo một quy trình thủ tục chặt chẽ. Từ chủ trương xây dựng Hiến pháp đều được biểu thị bằng nghị quyết của Quốc hội; việc xây dựng Hiến pháp được tiến hành bằng một cơ quan do Quốc hội lập ra; dự thảo Hiến pháp được lấy ý kiến rộng rãi của nhiều tầng lớp nhân dân; việc thông qua Hiến pháp được tiến hành tại một kỳ họp của Quốc hội và chỉ được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc sửa đổi Hiến pháp cũng được thực hiện theo một trình tự quy định tại Hiến pháp.

NGUYỄN NGỌC CHU KHÔNG CÓ “QUYỀN” PHÁN XÉT TƯ CÁCH ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

 

Trên trang Boxitvn đăng bài viết của Nguyễn Ngọc Chu: “Chất lượng đại biểu Quốc hội cùng thể thức thượng viện và hạ viện”. Trong đó, đã đưa ra những nhận xét hồ đồ, phiến diện, vô căn cứ. Đây là thủ đoạn thâm độc, lợi dụng những vấn đề cụ thể trong hoạt động của Quốc hội để quy kết về bản chất, từ đó yêu sách “cải cách” theo hướng đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, cần phải chỉ rõ thái độ trịch thượng và sự ảo tưởng về quyền lực cá nhân của Nguyễn Ngọc Chu khi tự cho mình quyền phán xét các đại diện do nhân dân bầu chọn. Bằng cách mượn câu chuyện về phát biểu của đại biểu Quốc hội liên quan đến một tác phẩm văn học, Nguyễn Ngọc Chu đã quy kết một cách vô căn cứ rằng, có những “phát biểu không thể che đỡ về trình độ, không tương xứng với vị thế đại biểu Quốc hội”. Đây không đơn thuần là sự khác biệt về quan điểm học thuật, mà là hành vi xúc phạm trực diện đến uy tín của những người đang mang trọng trách trước Tổ quốc và Nhân dân. Cần phải khẳng định rằng, Nguyễn Ngọc Chu hoàn toàn không có tư cách pháp lý lẫn đạo lý để định danh trình độ hay đánh giá vị thế đại biểu Quốc hội.

Thứ hai, trong bài viết, Nguyễn Ngọc Chu rêu rao rằng, “quyết định của cử tri chỉ là quyết định thứ cấp” và đòi hỏi một cơ chế “tự do ứng cử” chỉ cần thu thập chữ ký cử tri. Đây là một quan điểm hoàn toàn không dựa trên căn cứ pháp lý, hòng phủ nhận nguyên tắc, quy trình đề xuất, ứng cứ và lựa chọn cán bộ ứng cử vào đại biểu Quốc hội. Thực tế cho thấy, quy trình hiệp thương của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không phải là rào cản, mà là “bộ lọc” cần thiết để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhằm chọn ra những người đủ đức, đủ tài, đại diện cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chứ không phải đại diện cho lợi ích phe nhóm. Nếu áp dụng cái gọi là “tăng tính cạnh tranh đối kháng” như Nguyễn Ngọc Chu đề xuất, chúng ta sẽ vô tình mở cửa cho những kẻ mị dân, các thế lực có thế mạnh về tài chính hoặc có sự hậu thuẫn của nước ngoài thâm nhập vào cơ quan quyền lực cao nhất. Bên cạnh đó, luận điểm đòi hỏi ứng cử viên “nhất thiết phải cư trú ở khu vực đó” của Nguyễn Ngọc Chu là một sự thiển cận, vì nó triệt tiêu việc phát huy trí tuệ của các chuyên gia, nhà khoa học ở Trung ương trong giải quyết các vấn đề vĩ mô tại địa phương, từ đó dẫn đến chủ nghĩa cục bộ, cát cứ, làm suy yếu sức mạnh thống nhất của quốc gia.

OSCAR KHÔNG PHẢI LÀ THƯỚC ĐO CHÂN LÝ NGHỆ THUẬT

 

Việc một bộ phim không lọt vào danh sách rút gọn của Oscar vốn dĩ là chuyện bình thường trong đời sống điện ảnh quốc tế, nơi mỗi năm có hàng trăm tác phẩm tranh tài và chỉ vài cái tên được lựa chọn. Thế nhưng, trong bài viết “Mưa đỏ và bài học từ Oscar: Khi nghệ thuật tuyên truyền bị thế giới khước từ” đăng trên Vietnamthoibao của Liên minh vì dân chủ đã cố tình thổi phồng thành một “thất bại ê chề”, rồi bị dẫn dắt sang một câu chuyện hoàn toàn khác: Phủ nhận đời sống văn hóa Việt Nam, bôi nhọ nhà nước, và xa hơn là gieo rắc hoài nghi về hòa giải dân tộc. Đây không phải là phê bình điện ảnh, mà là lợi dụng văn hóa để công kích thể chế.

Trước hết, cần đặt lại vấn đề ở điểm xuất phát. Oscar, kể cả hạng mục Phim truyện Quốc tế, không phải là thước đo tuyệt đối của giá trị nghệ thuật, càng không phải “tòa án lương tri của thế giới tự do” như cách Vietnamthoibao gán ghép. Rất nhiều tác phẩm xuất sắc, mang dấu ấn văn hóa sâu sắc của các quốc gia, chưa từng được đề cử hay đoạt giải Oscar. Ngược lại, không ít phim thắng giải cũng gây tranh cãi gay gắt về chất lượng nghệ thuật. Việc “Mưa đỏ” không vào shortlist không chứng minh bất cứ điều gì ngoài thực tế rằng hội đồng tuyển chọn đã đưa ra một lựa chọn khác trong vô vàn lựa chọn có thể. Gán cho kết quả này ý nghĩa “thế giới tự do khước từ nghệ thuật tuyên truyền” là một sự suy diễn chủ quan, thiếu căn cứ và mang động cơ chính trị rõ rệt.

Từ sự suy diễn đó, Liên minh vì dân chủ tiếp tục dựng nên một kịch bản quen thuộc: Phủ nhận hoàn toàn sự đón nhận của công chúng trong nước đối với bộ phim. Việc đông đảo khán giả đến rạp được mô tả như sản phẩm của “truyền thông quốc doanh”, “mệnh lệnh hành chính” và “con số giả tạo”. Đây là một lối lập luận mang tính áp đặt. Bởi lập luận này không cần chứng cứ, mà được xây dựng trên định kiến sẵn. Cách nhìn đó không chỉ xúc phạm khán giả, mà còn phủ nhận đời sống văn hóa đa dạng, năng động đang diễn ra hàng ngày trong nước.

LUẬN ĐIỆU CŨ KỸ TRONG VỎ BỌC MỚI CỦA CHU TUẤN ANH

 

Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng – sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, định hướng tương lai phát triển đất nước trong giai đoạn mới, thì các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị lại gia tăng hoạt động chống phá với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Điển hình, trên trang mạng Baoquocdan, Chu Tuấn Anh đã đăng bài viết: “Đại hội XIV và điều thực sự nguy ngập cho đất nước” với nội dung quy kết rằng “dù với kết quả nào, người dân Việt Nam có mọi lý do để thất vọng vào chế độ cộng sản Việt Nam”. Đây là luận điệu xuyên tạc trắng trợn, mang tính áp đặt chủ quan, bịa đặt ác ý, cần được nhận diện và kiên quyết bác bỏ.

1.Chu Tuấn Anh cố tình tách rời Đại hội XIV khỏi toàn bộ tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, từ đó quy kết phi lý rằng Đại hội là “nguy ngập cho đất nước”. Thực chất, đây là thủ đoạn quen thuộc nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 95 năm qua.

DÂN CHỦ KHÔNG PHẢI LÀ KHẨU HIỆU NGOẠI NHẬP

 

Trên trang thoibao, Vân Phong đăng bài viết “Vì sao Hội nghị Trung ương 15 bế tắc”, trong đó không chỉ xuyên tạc bản chất, mục tiêu và kết quả của Hội nghị Trung ương 15, mà nguy hiểm hơn, còn cố tình suy diễn, áp đặt rằng: “Người Việt Nam sau hàng chục năm sống trong hệ thống chính trị một đảng đã đánh mất cảm nhận về dân chủ, không coi bầu cử tự do, cạnh tranh chính trị là quyền đương nhiên, quen đứng ngoài đời sống chính trị và không có quyền làm chủ”. Đây là một luận điệu cũ, nhưng được “đóng gói” dưới hình thức học thuật giả hiệu, nhằm phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, gieo rắc hoài nghi trong xã hội và làm suy yếu niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Thứ nhất, đồng nhất dân chủ với đa đảng, cạnh tranh chính trị kiểu phương Tây là một ngụy biện mang tính ý thức hệ.

Sai lầm căn bản trong bài viết của Vân Phong là việc đồng nhất dân chủ với mô hình đa đảng, cạnh tranh chính trị theo khuôn mẫu phương Tây, từ đó suy diễn rằng quốc gia nào không vận hành theo mô hình đó thì mặc nhiên là “thiếu dân chủ”, “người dân không có quyền làm chủ”. Đây không phải là lập luận khoa học, mà là áp đặt ý thức hệ. Dân chủ không phải là một mô hình duy nhất, càng không phải là “sản phẩm độc quyền” của phương Tây. Trong khoa học chính trị hiện đại, dân chủ được hiểu trước hết là quyền lực thuộc về nhân dân, được tổ chức và thực hiện thông qua những thiết chế phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Không có một “khuôn mẫu dân chủ phổ quát” áp dụng máy móc cho mọi dân tộc. Thực tiễn thế giới cho thấy, ngay trong các quốc gia đa đảng, cạnh tranh chính trị gay gắt không đồng nghĩa với dân chủ thực chất. Không ít nơi, bầu cử chỉ là sự lựa chọn giữa các nhóm lợi ích; quyền lực chính trị bị chi phối bởi tài phiệt, truyền thông và vận động hành lang; người dân dù “đi bầu” nhưng không thực sự quyết định được chính sách liên quan trực tiếp đến đời sống của mình. Việc Vân Phong coi “bầu cử tự do, cạnh tranh chính trị” theo kiểu phương Tây là “quyền đương nhiên” duy nhất của dân chủ, thực chất là thần thánh hóa một mô hình đang bộc lộ nhiều khủng hoảng ngay tại chính nơi sản sinh ra nó. Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội không phải do áp đặt, mà là kết quả của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, của sự lựa chọn có ý thức của Nhân dân Việt Nam. Điều đó không loại trừ dân chủ, mà trái lại, là điều kiện để bảo đảm dân chủ gắn với độc lập dân tộc, ổn định chính trị và phát triển bền vững.

CHUẨN BỊ NHÂN SỰ ĐẠI HỘI XIV – BIỂU HIỆN SINH ĐỘNG CỦA NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ

 

Trên trang Thongluan, Chu Tuấn Anh có giật tít: “Những kịch bản chính trị trong và sau Đại hội 14”, với nội dung: Đại hội XIV của Đảng là “Cuộc khủng hoảng nhân sự từ lâu không có lời giải”. Đây là luận điệu hết sức sai trái hòng xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng trước thềm Đại hội XIV. Tuy nhiên cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ luận điệu sai trái của Y, bởi lẽ:

Một là, công tác nhân sự của Đảng qua mỗi kỳ đại hội là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội. Vai trò lãnh đạo đó được thể hiện qua việc định hướng chiến lược, đề ra đường lối, chính sách và kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện. Để bảo đảm cho vai trò này được thực hiện hiệu quả, Đảng phải có một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Do đó, công tác nhân sự của Đảng qua mỗi nhiệm kỳ đại hội không chỉ là công việc nội bộ, mà còn là biểu hiện cụ thể của vai trò lãnh đạo chính trị đối với đất nước. Mỗi thời kỳ cách mạng đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau về đội ngũ lãnh đạo. Thông qua công tác nhân sự, Đảng lựa chọn những người ưu tú, đại diện cho trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để dẫn dắt sự nghiệp cách mạng. Điều này bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng không bị gián đoạn, mà liên tục phát triển và đổi mới phù hợp với thực tiễn đất nước.

CHIÊU BÀI “QUÂN SỰ HÓA” VÀ ÂM MƯU GÂY BẤT ỔN QUAN HỆ VIỆT NAM – ASEAN

 

Lợi dụng tình hình khu vực Biển Đông còn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, một số thế lực thù địch, cơ hội chính trị và các tổ chức, cá nhân chống đối tiếp tục gia tăng hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Một trong những thủ đoạn quen thuộc nhưng ngày càng tinh vi là suy diễn, gán ghép các hoạt động quốc phòng chính đáng của Việt Nam với cái gọi là “quân sự hóa”, từ đó kích động tâm lý nghi ngờ, chia rẽ, gây tổn hại đến mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước ASEAN. Nguy hiểm hơn, chúng còn tìm cách khoét sâu khác biệt, kích động tâm lý đối đầu giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực, làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực.

Thực chất, đây là âm mưu có tính toán, nhằm phá hoại nền tảng chính trị – ngoại giao đã được Việt Nam và các nước ASEAN dày công xây dựng, đồng thời phục vụ lợi ích của các thế lực bên ngoài khu vực không mong muốn một ASEAN đoàn kết, tự chủ, ổn định. Do đó, cần khẳng định và bác bỏ như sau:

1. Suy diễn “quân sự hóa” – thủ đoạn tạo nhận thức sai lệch về chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam.

Việt Nam nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, được thể hiện rõ trong Sách trắng Quốc phòng và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam bao gồm: (1) Không tham gia liên minh quân sự; (2) Không liên kết với nước này để chống nước kia; (3) Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; (4) Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch cố tình cắt xén, bóp méo bản chất của chính sách này, xuyên tạc rằng việc Việt Nam đầu tư hiện đại hóa lực lượng vũ trang, tăng cường năng lực phòng thủ trên biển hay xây dựng các công trình phục vụ đời sống, bảo đảm an ninh, an toàn cho lực lượng chấp pháp là biểu hiện của “quân sự hóa”. Đây là sự đánh tráo khái niệm một cách có chủ ý.

“NIỀM TIN VÀO PHÁP LUẬT”: SỰ THẬT BỊ BÓP MÉO TRONG LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ

 

Trên trang Baotiengdan, Phan Thế Hải có bài viết “Niềm tin vào pháp luật”, xuyên tạc hệ thống pháp luật của Đảng và Nhà nước khi cho rằng: “…dẫu bộ máy quản trị quốc gia to lớn đồ sộ là thế nhưng tính hiệu quả đến đâu lại là chuyện khác… ở Việt Nam; hay luật không đứng cao hơn quyền lực, người có quyền, có quan hệ, dễ né luật…”. Qua đó, gây mất đoàn kết nội bộ, hạ thấp uy tín của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước về hệ thống pháp luật, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất giữa Đảng với Nhân dân.        

1. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc vai trò của thể chế, pháp luật đối với sự phát triển của đất nước. Đồng thời, Đảng đưa ra nhiều chủ trương, chính sách về hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tư duy, nhận thức lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không ngừng được hoàn thiện. Nước ta đã hình thành hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, cơ bản điều chỉnh tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó phải kể tới các bản Hiến pháp, các luật, bộ luật lớn về dân sự, kinh doanh, thương mại, hành chính, hình sự, tố tụng, giải quyết tranh chấp và khoảng 300 luật, bộ luật khác đang còn hiệu lực; tạo nền tảng pháp lý để phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.

Hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng dựa trên nguyên tắc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “vì nhân dân phục vụ”, với mục tiêu tạo hành lang pháp lý vững chắc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Hệ thống này bao gồm Hiến pháp, luật, nghị định, thông tư… do Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan ban hành, liên tục được hoàn thiện để ngày càng hiện đại, dân chủ, công bằng và thực chất hơn, phản ánh ý chí, nguyện vọng của Nhân dân. Hệ thống pháp luật Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng như xây dựng nền tảng pháp lý cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và được kiểm soát chặt chẽ, phân công hợp lý giữa các cơ quan nhà nước, đồng thời có bước tiến đột phá trong thi hành pháp luật, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chuyển đổi số và nâng cao văn hóa thượng tôn pháp luật trong xã hội. 

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN KHOA HỌC SỐNG MÃI VỚI THỜI GIAN

 

Trên trang Thongluan, Tập hợp dân chủ đa nguyên có bài viết “Bốn giai đoạn cáo chung của chế độ Cộng sản”. Bài viết xuyên tạc, phủ nhận giá trị cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, khi cho rằng chế độ Cộng sản Việt Nam đang ở vào giai đoạn cuối cùng của tiến trình cáo chung, nên cận được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Một là, Chủ nghĩa cộng sản khoa học  Học thuyết khoa học và cách mạng, không lỗi thời như sự xuyên tạc.

Chủ nghĩa cộng sản khoa học là một học thuyết khoa học vì được xây dựng trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Khác với các học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng trước đó xuất phát từ lòng nhân đạo thuần túy và những mong muốn chủ quan; chủ nghĩa cộng sản khoa học chỉ ra một cách khách quan những quy luật vận động của xã hội tư bản, đặc biệt là quy luật mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Từ đó, học thuyết khẳng định: Sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của một hình thái kinh tế – xã hội mới tiến bộ hơn là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chính việc dựa trên quy luật khách quan, không phải ý chí chủ quan, đã làm nên tính khoa học và sức sống lâu dài của chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Chủ nghĩa cộng sản khoa học còn là một học thuyết cách mạng triệt để; không dừng lại ở việc giải thích thế giới, mà chỉ ra con đường cải tạo thế giới thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân, nòng cốt là giai cấp công nhân. Chủ nghĩa cộng sản khoa học khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới không còn áp bức, bất công, trong đó con người được phát triển toàn diện. Chủ nghĩa cộng sản khoa học không phải là một hệ thống giáo điều, khép kín, mà là một học thuyết mở, luôn gắn bó chặt chẽ với thực tiễn và không ngừng được bổ sung, phát triển. V.I. Lênin đã vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, mở ra khả năng thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một hoặc một số nước. Trong thời đại ngày nay, việc kiên định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học đồng thời vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia là minh chứng sinh động cho sức sống và tính không lỗi thời của học thuyết này.

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN KHOA HỌC SỐNG MÃI VỚI THỜI GIAN

 

Trên trang Thongluan, Tập hợp dân chủ đa nguyên có bài viết “Bốn giai đoạn cáo chung của chế độ Cộng sản”. Bài viết xuyên tạc, phủ nhận giá trị cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, khi cho rằng chế độ Cộng sản Việt Nam đang ở vào giai đoạn cuối cùng của tiến trình cáo chung, nên cận được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Một là, Chủ nghĩa cộng sản khoa học  Học thuyết khoa học và cách mạng, không lỗi thời như sự xuyên tạc.

Chủ nghĩa cộng sản khoa học là một học thuyết khoa học vì được xây dựng trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Khác với các học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng trước đó xuất phát từ lòng nhân đạo thuần túy và những mong muốn chủ quan; chủ nghĩa cộng sản khoa học chỉ ra một cách khách quan những quy luật vận động của xã hội tư bản, đặc biệt là quy luật mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Từ đó, học thuyết khẳng định: Sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của một hình thái kinh tế – xã hội mới tiến bộ hơn là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chính việc dựa trên quy luật khách quan, không phải ý chí chủ quan, đã làm nên tính khoa học và sức sống lâu dài của chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Chủ nghĩa cộng sản khoa học còn là một học thuyết cách mạng triệt để; không dừng lại ở việc giải thích thế giới, mà chỉ ra con đường cải tạo thế giới thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân, nòng cốt là giai cấp công nhân. Chủ nghĩa cộng sản khoa học khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới không còn áp bức, bất công, trong đó con người được phát triển toàn diện. Chủ nghĩa cộng sản khoa học không phải là một hệ thống giáo điều, khép kín, mà là một học thuyết mở, luôn gắn bó chặt chẽ với thực tiễn và không ngừng được bổ sung, phát triển. V.I. Lênin đã vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, mở ra khả năng thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một hoặc một số nước. Trong thời đại ngày nay, việc kiên định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học đồng thời vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia là minh chứng sinh động cho sức sống và tính không lỗi thời của học thuyết này.

THÁI HƯNG PHÁN BỪA VỀ GIÁO DỤC VÀ NHÂN TÀI VIỆT NAM

 

Trên trang Baoquocdan, Thái Hưng có bài viết: “Chính sách hời hợt. Mời gọi nửa vời. Tự do cào bằng, Tâm thế ăn xổi”, cho rằng: Việt Nam không thiếu người tài giỏi, nhưng hoàn toàn không biết trọng dụng họ, dẫn đến đất nước đang bị mắc kẹt ở 3 khâu: (1) Giáo dục – đào tạo: Mạnh về số lượng, yếu về chất lượng; (2) Thu hút: Chính sách rời rạc, thiếu hệ sinh thái; (3) Giữ chân: Lương thấp, cơ chế cứng, văn hóa “xin cho”. Đây là luận điệu xuyên tạc quan điểm của Đảng về giáo dục – đào tạo và chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài của Nhà nước Việt Nam, cần phải đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, tập trung xây dựng nền giáo dục hiện đại, tiến tiên, ngang tầm khu vực và thế giới, gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức, và tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ mục tiêu Việt Nam hùng cường. Đào tạo con người toàn diện, phát triển kỹ năng, tư duy, trọng dụng nhân tài, đồng thời gắn chặt với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, và hội nhập quốc tế. Thực tiễn chứng minh rằng, giáo dục – đào tạo đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần to lớn trong việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.

Ngày 10/12/2024, theo công bố của Tổ chức xếp hạng QS (Quacquarelli Symonds – Anh) về xếp hạng đại học thế giới “QS World University Rankings: Sustainability 2025” cho 1.751 cơ sở giáo dục đại học trên toàn thế giới, Việt Nam có 10 cơ sở giáo dục đại học góp mặt. Trong đó, Đại học Quốc gia Hà Nội được xếp hạng 325 thế giới, xếp vị trí 51 của khu vực châu Á; 17 cơ sở giáo dục đại học nằm trong Bảng xếp hạng hàng đầu châu Á, 4 cơ sở giáo dục đại học nằm trong top 200; 9 cơ sở giáo dục đại học trong bảng xếp hạng đại học tốt nhất thế giới của Tổ chức Times Higher Education (THE), có 4 cơ sở giáo dục đại học nằm trong top 1000; 13 cơ sở giáo dục đại học trong Bảng xếp hạng tầm ảnh hưởng của THE. Năm 2024, Việt Nam có 7 đoàn học sinh tham dự các kỳ thi Olympic khu vực và quốc tế với 12 Huy chương Vàng, 15 Huy chương Bạc, 10 Huy chương Đồng và 1 Bằng khen; đoàn học sinh Việt Nam tham dự Hội thi khoa học kỹ thuật quốc tế tại Hoa Kỳ cũng đã giành 1 giải Nhì. Cũng trong năm 2024, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã công bố danh sách 64 thành phố đến từ 35 quốc gia được công nhận là thành viên “Mạng lưới thành phố học tập toàn cầu”, trong đó có hai thành phố của Việt Nam là Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Sơn La thuộc tỉnh Sơn La. Cho tới nay, Việt Nam có 5 thành phố được công nhận là thành viên “Mạng lưới các thành phố học tập toàn cầu”. Điều này đã phản bác luận điệu xuyên tạc của Thái Hưng về chất lượng giáo dục – đào tạo của Việt Nam.