Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

 

VẠCH TRẦN CHIÊU BÀI “TỰ DO TÔN GIÁO” ĐỂ XUYÊN TẠC VIỆT NAM

Bài viết “Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khẳng định cam kết khắc phục tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam (2026)” đăng trên Baotiengdan.com thực chất là sự tiếp nối của những luận điệu quen thuộc về cái gọi là “tự do tôn giáo ở Việt Nam”. Núp dưới hình thức trích dẫn phát biểu của bà Tina L. Mufford, tác giả cố tình lựa chọn, sắp xếp và khuếch đại những nhận định một chiều để tạo ra cảm giác Việt Nam đang hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thủ pháp được sử dụng không mới, lấy một số cáo buộc thiếu kiểm chứng để quy kết thành bản chất của chính sách tôn giáo ở Việt Nam; cố tình xóa nhòa ranh giới giữa việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo với trách nhiệm quản lý xã hội bằng pháp luật, qua đó biến những trường hợp vi phạm pháp luật thành “nạn nhân”, còn hoạt động quản lý nhà nước hợp pháp lại bị gán ghép thành “đàn áp”. Đây không phải là cách tiếp cận khách quan nhằm tìm hiểu thực trạng, mà là sự dẫn dắt dư luận theo một kết luận được định sẵn phục vụ mục đích chính trị đen tối.

Thứ nhất, đánh tráo giữa quản lý bằng pháp luật với “đàn áp tôn giáo” và biến người vi phạm pháp luật thành “tù nhân tôn giáo”

Một trong những thủ đoạn xuyên tạc quen thuộc được sử dụng trong bài viết là cố tình đánh đồng hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực tôn giáo với cái gọi là “đàn áp tôn giáo”. Thông qua việc lặp lại những cáo buộc như chính quyền “sách nhiễu”, “đe dọa”, “bắt bớ” người có đạo, tác giả tìm cách tạo ra nhận thức sai lệch rằng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đang bị hạn chế nghiêm trọng.

Tuy nhiên, những luận điệu này hoàn toàn không phản ánh đúng thực tế đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam là quốc gia có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú với hàng chục triệu tín đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau. Nhiều tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và tạo điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật; hàng vạn cơ sở thờ tự được xây dựng, sửa chữa, mở rộng; nhiều lễ hội, hoạt động tôn giáo diễn ra công khai, thu hút đông đảo chức sắc, tín đồ tham gia. Việt Nam cũng đã đăng cai tổ chức thành công nhiều sự kiện tôn giáo quốc tế quan trọng, thể hiện môi trường sinh hoạt tôn giáo cởi mở, ổn định và được pháp luật bảo hộ. Những thực tế đó đã bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam tồn tại chính sách “đàn áp tôn giáo có hệ thống”.

Song song với thủ đoạn trên, tác giả còn cố tình biến những người vi phạm pháp luật thành các “tù nhân tôn giáo” hoặc “nạn nhân của đàn áp tôn giáo”. Một số trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật được mô tả như những người chỉ bị trừng phạt vì niềm tin tôn giáo hoặc vì thực hiện quyền tự do tín ngưỡng. Đây là sự đánh tráo khái niệm có chủ đích.

Thực tế cho thấy, pháp luật Việt Nam không xử lý bất kỳ cá nhân nào chỉ vì họ theo một tôn giáo hay thực hành tín ngưỡng hợp pháp. Điều bị xử lý là những hành vi vi phạm pháp luật, kể cả khi các hành vi đó được che đậy dưới danh nghĩa tôn giáo. Việc cố tình xóa nhòa ranh giới giữa hoạt động tôn giáo hợp pháp với hành vi vi phạm pháp luật, rồi gắn cho những người vi phạm các nhãn mác như “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”, không nhằm bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng mà thực chất là tạo cớ gây sức ép chính trị, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ hai, tự do tôn giáo không thể là cái cớ để phủ nhận chủ quyền pháp lý của Việt Nam

Một trong những nội dung đáng chú ý nhất là việc bài viết phản đối quy định quản lý các hoạt động tôn giáo trên không gian mạng, cho rằng yêu cầu đăng ký, ghi danh là “trái với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế” và thậm chí là “sao chép chiến dịch đàn áp tôn giáo trên mạng”.

Đây là cách suy diễn hết sức chủ quan. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc đưa các hoạt động xã hội, trong đó có hoạt động tôn giáo, vào khuôn khổ quản lý pháp luật là yêu cầu khách quan ở mọi quốc gia. Không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy việc quản lý này đồng nghĩa với việc tước bỏ quyền tự do tín ngưỡng. Ngược lại, điều đáng quan tâm hơn là việc một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài đang tìm cách lợi dụng không gian mạng để xây dựng các mạng lưới tôn giáo không chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, từ đó biến các hoạt động tôn giáo thành công cụ tập hợp lực lượng, tác động vào đời sống chính trị – xã hội trong nước. Khi những hoạt động đó bị quản lý theo quy định pháp luật, họ lại lập tức hô hào về “đàn áp tôn giáo”. Thực chất, đây là sự áp đặt một thứ “tự do vô giới hạn”, trong đó quyền tự do của cá nhân được đặt cao hơn chủ quyền quốc gia và pháp luật của một đất nước. Không một quốc gia nào có thể vận hành theo cách như vậy.

Không dừng lại ở việc xuyên tạc, bài viết còn cổ súy cho việc quốc tế hóa vấn đề, kêu gọi thu thập thông tin, vận động các tổ chức và chính phủ nước ngoài gia tăng sức ép đối với Việt Nam. Như vậy, mục tiêu của bài viết không đơn thuần là trao đổi về quyền tự do tôn giáo, mà hướng tới việc sử dụng vấn đề tôn giáo như một công cụ tác động vào đời sống chính trị – xã hội của Việt Nam.

Tóm lại, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản của con người và được bảo đảm bằng pháp luật Việt Nam. Việc Baotiengdan khai thác bài phát biểu của bà Tina L. Mufford không nhằm phản ánh khách quan thực trạng tôn giáo ở Việt Nam, mà nhằm lặp lại những cáo buộc thiếu căn cứ, đánh tráo khái niệm và nuôi dưỡng một luận điệu cũ, lấy chiêu bài “tự do tôn giáo” để can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. Mỗi người dân cần được nhận diện đúng và kịp thời đấu tranh phản bác./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét