Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

VÌ SAO PHẢI THÙ HẬN?


Tôi là người lính từng tham gia chiến tranh, tự nguyện và hết lòng. Nhiệm vụ của người lính; trách nhiệm với đồng đội, đơn vị, Tổ quốc; danh dự cá nhân,gia đình đã buộc tôi gắn kết với chiến tranh 12 năm. Tôi có sự căm thù không? Không! Chúng tôi biết gì người Mỹ mà căm thù họ! Nhưng người Mỹ đã tới. Khởi đầu của cuộc chiến, Mỹ ném bom miền Bắc và tuyên bố: "Đánh cho Việt Nam quay lại thời đại đồ đá". Hãy hình dung, khi một con người bị sỉ nhục như thế, nhất là con người ấy yêu quê hương, yêu từng viên đá, gốc cây Hà Nội, sẽ hành xử ra sao nhất là khi anh ta trực tiếp nhìn rõ bom của người Mỹ ném xuống mảnh đất thân yêu, giết chết bao con người chưa một lần gây hấn với họ. Họ, người Mỹ đã ném chiến tranh xuống quê hương của tôi, của em, của ta và của chúng ta, khi Hà Nội là trái tim của cả nước.
Và khi ấy, hỏi ai lại cam tâm ngồi yên. Và chúng tôi đã ra trận chiến đấu với chỉ lòng dũng cảm vô song, bởi nếu không có lòng dũng cảm, sẽ không ai dám chống lại người Mỹ, khi thực sự nhìn chúng bay, rải thảm cái chết…
Chúng tôi phải đánh nhau với súng ống cổ lỗ, từ súng máy 12, 7 ly tới pháo 57, 100 ly, đều là loại súng ống của đại chiến II. Kể cả tận khi trang bị tên lửa thì Sam II cũng là loại tên lửa cổ lỗ. Trong khi đó, người Mỹ dùng tất cả sức mạnh của hải quân của không quân từ B52 tới F, A các loại siêu thanh, đều là phương tiện hiện đại nhất.
Thế hệ chúng tôi đã kế tục truyền thống chống Nguyên Mông của tiền nhân, thay vì thích trên cánh tay, chúng tôi thích hai từ Sát Thát vào tận trái tim từng người ra trận. Lứa Hà Nội khi ấy đều đa số có học, ý thức rất rõ việc chúng tôi đang làm, đang chiến đấu, theo đuổi. Chúng tôi đã đánh hàng trăm trận, bất kể khi người Mỹ với sức mạnh quân sự tưởng như ăn sống nuốt tươi đối thủ trên không và trên biển, trên bộ. Nhưng sự áp đảo của cả đạo quân gồm không quân hải quân, xe tăng và bộ binh trang bị tận răng, no đủ như ở nhà, vẫn không làm chúng tôi run sợ. Mãi tới năm 1971 họ mới nhận ra, khi anh làm nhục một dân tộc, tức là các anh đã khơi dậy một cơn giận dữ bất tận của một dân tộc.
Khi những hòa ước được ký kết, người Mỹ hạn chế và chấm dứt ném bom miền Bắc chúng tôi lại vào Nam chiến đấu. Hỏi tôi có hận thù gì với anh em binh sĩ Việt Nam Cộng hòa không? Không! Tôi không có hận thù gì với anh em binh sĩ miền Nam, nhưng tôi không muốn người Mỹ và tất cả binh lính nước ngoài chà đạp lên Tổ quốc tôi. Khi người Mỹ sát cánh với họ chà đạp 60 vạn gót giầy trên quê hương miền Nam, tôi đã một lần nữa vào Nam chiến đấu.
Tôi không có ân oán gì về cá nhân với anh em binh sĩ Việt Nam Cộng hòa cả, nhưng chúng tôi, những con người tường các quy luật của chiến tranh, cả sử nước nhà và lịch sử thế giới, ý thức rất rõ và cụ thể từng trận chiến rằng: Chiến tranh chỉ chấm dứt khi có một bên thắng bên thua, vì đất nước Việt Nam không thể chia cắt. Do vậy, tôi và bao người đã chiến đấu cho cánh quân bên chúng tôi – bộ đội miền Bắc, tới giọt máu, tới sức lực cuối cùng, nhằm chiến thắng để chấm dứt chiến tranh chứ không phải giải quyết thù hận. Ngày 30/4/1975, trước khi tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, hàng vạn vạn binh sĩ chúng tôi đều muốn sống, cầu nguyện được là kẻ sống sót cuối cùng sau cuộc chiến; song không ai bảo đảm rằng, họ có thể chắc chắn sẽ còn lại trong trận chiến cuối ấy.
Cho tới hôm nay khi ngồi viết những dòng này tôi nhận ra, cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam đã gây ra một vết thương rất sâu và rất dài cho dân tộc Việt Nam. Hàng triệu người dân đã bỏ mình. Hàng triệu gia đình đã mất cha, mất chồng và mất con trên trận mạc. Cũng do chiến tranh để lại, hàng triệu người đã bỏ nước ra đi, ly tán và mất mát đau khổ trên biển xanh, trong rừng rậm, để lại một vết "hận" không nhỏ trong một bộ phận không nhỏ những gia đình phía chiến tuyến bên kia.
Sự mất mát của thế hệ chúng tôi cả hai bên, sự mất mát của cả dân tộc tới ngày 30/4 khi đất nước yên súng, giang sơn thu về một mối là sự đòi hỏi tất yếu của lịch sử, của dân tộc nhưng đó cũng đã phải trả với giá quá đắt. Và một câu hỏi luôn luôn làm tôi đau nhức là tại sao cứ phải căm thù khi tất cả đều là nòi giống Việt, khi mà xu hướng chung của nhân loại tiến bộ là hòa bình cho tất cả các dân tộc, cởi bỏ tất cả nỗi niềm và xóa đi đau đớn giận hờn với chính nỗ lực của từng con người chúng ta.
Rồi đây thế hệ chúng tôi cả hai phía sẽ theo quy luật sinh bệnh lão tử, rồi đây đất nước này dành cho và chỉ là cho các thế hệ sau chúng tôi; chúng không liên quan gì tới những hận thù trận mạc bấy nay và cười diễu cha anh nếu còn cố chấp. Vậy lý do gì để con người Việt Nam vẫn chia tách và hận thù về những điều đã qua mà không thực sự chung tay hàn gắn, nếu thực sự yêu thương đất nước và dân tộc này?
NGUYỄN VĂN THỌ


"KHÔNG CẦN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM" ĐÓ LÀ TƯ TƯỞNG NÔ LỆ VÀ RẤT NHAM HIỂM

          Một vài người muốn đánh đổ công lao của cha ông với biết bao xương máu, đã nói rằng, chẳng cần giải phóng miền Nam làm gì, rồi cuối cùng Nam Bắc cũng phải thống nhất. Họ lấy sự kiện Đông Tây Đức để dẫn chứng.
Tội nghiệp!. Hoặc là họ ngây thơ, hoặc là họ cực kỳ hiểm độc.
Khi Pháp đem quân xâm lược nước ta, từng bước xóa bỏ văn hóa dân tộc ta, khéo léo diệt chủng dân ta, thì đâu có đơn giản mà Pháp trả lại chủ quyền cho ta. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, Pháp đã trở lại xâm lược Việt Nam. Những người lớn tuổi sống trong giai đoạn đó đều chứng kiến lính Pháp âm thầm đi vào vùng sâu không có ai biết để giết hại dân lành. Ai trốn được thì sống, ai chạy không kịp thì bị bắn chết hết. Còn ngoài phố thị thì có vẻ Pháp văn minh hơn, nên ai cũng lầm tưởng là Pháp cư xử theo luật pháp.
Các chùa chiền, đền, miếu bị Pháp phá, lấy đất xây nhà thờ. Giả sử vì một sức ép nào mà Pháp phải trả lại chủ quyền cho Việt Nam thì cũng là một kịch bản được dàn dựng theo các nước lớn. Chính quyền phải là tay sai của Pháp, phục vụ quyền lợi cho nước Pháp. Đó là nô lệ ở hình thức mới mà thôi.
Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không khôn ngoan, kiên quyết, mưu trí, anh hùng, thì ta đã không có độc lập thống nhất như ngày hôm nay. Mà nếu có thống nhất thì cũng không thực sự có độc lập. Còn Đảng ta đã lãnh đạo hai cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn để cho đất nước ta vừa có thống nhất, vừa có chủ quyền độc lập thực sự. Bây giờ nước nào đến quan hệ ngoại giao với ta đều phải biết điều, không được có thái độ kẻ cả bề trên, vì ta chẳng lệ thuộc ai cả. Cái danh dự thiêng liêng này là sự kết hợp giữa các bộ óc thiên tài trong Đảng, với máu xương mồ hôi của biết bao nhiêu con người qua nhiều thế hệ.
Không bao giờ có chuyện ngồi chơi mà có độc lập, thống nhất thực sự. Hiện nay nhiều nước có vẻ độc lập, nhưng bên trong vẫn là nô lệ bí mật, vì chính quyền là các tay sai được ngoại bang dựng lên. Còn Việt Nam ta tự có quyền để lo liệu công việc của mình.
Hãy lặng lẽ nhìn mọi người đang sống yên vui, phấn đấu, học tập, làm việc, trong không khí thanh bình mà hiểu rằng ta đang bước đi trên xương thịt của cha ông. Đừng ngây thơ, hoặc đừng ác độc mà nói bậy.
Nguồn: Facebook: Trần Như Khánh

Quan hệ giữa tham nhũng với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” - hệ lụy và giải pháp


Tham nhũng là tệ nạn nguy hiểm nhất, được ví như “quốc nạn”, “giặc nội xâm”, gây hậu quả xấu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, làm suy yếu bộ máy Đảng và Nhà nước, giảm lòng tin của nhân dân vào chế độ, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Bởi vậy, việc phòng, chống tham nhũng gắn với phòng, chống “tự diến biến”, “tự chuyển hóa” được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy, tham nhũng là hiện tượng xã hội gắn với xuất hiện chế độ tư hữu, hình thành giai cấp, sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước và các quyền lực công cộng khác; tồn tại ở mọi chế độ với mức độ khác nhau, gây nhiều hệ lụy phức tạp trong đời sống xã hội. Đó là căn bệnh “tứ chứng nan y” của mọi nhà nước, nếu không có chế tài ngăn chặn hiệu quả, sẽ tạo kẽ hở cho tham nhũng nảy sinh, phát triển. Ở Việt Nam, tham nhũng thường xảy ra đối với những người có chức, có quyền trong hệ thống chính trị, nhưng họ đã phai nhạt lý tưởng cách mạng, không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng và các quy định của Hiến pháp, pháp luật; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, ham quyền lực; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra đó là những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ diễn ra trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng mà còn diễn ra cả trong lĩnh vực đạo đức, lối sống, làm hư hỏng cán bộ, ảnh hưởng đến vị thế, uy tín của Đảng trong đời sống xã hội.
Do mang nặng chủ nghĩa cá nhân, chạy theo lối sống thực dụng, hưởng thụ, tha hóa, biến chất dẫn đến một số cán bộ, đảng viên “nhúng chàm”, dính vào tham nhũng, tiêu cực. Tham nhũng diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều cấp, ngành, lĩnh vực, với biểu hiện vừa tinh vi, vừa lộ liễu và mang tính phổ biến. Trước đây, tham nhũng chủ yếu ở lĩnh vực kinh tế, đầu tư, bắt tay nhau để bòn rút tài sản của nhà nước và nhân dân, nhưng ngày nay, nó lan sang cả những lĩnh vực mang giá trị đạo đức, truyền thống dân tộc, như: giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, nhân đạo, từ thiện, phòng, chống dịch bệnh, v.v. Việc các cơ quan chức năng phát hiện gian lận thi cử ở một số địa phương thời gian qua, như: Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình; trường hợp bác sĩ vòi vĩnh tiền của người nhà bệnh nhân, làm sai lệch hồ sơ bệnh án để phục vụ cho mục đích không trong sáng,… là một minh chứng về điều đó. Đáng quan ngại là, tham nhũng còn xảy ra ngay trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, người đại diện cho công lý và công bằng xã hội; tình trạng tham nhũng “vặt”, tham nhũng “nhỏ, lẻ”, “nhũng nhiễu”, “chi phí không chính thức” trong giao dịch công việc, tuy thiệt hại về vật chất không lớn, nhưng diễn ra khá phổ biến, gây khó khăn, bức xúc cho người dân, v.v.
Những hệ lụy từ tham nhũng đã tác động xấu đối với nhiều lĩnh vực của đời sống đất nước, cả về chính trị, kinh tế, xã hội, kỷ cương, kỷ luật, song nguy hiểm hơn là dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tham nhũng là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, nếu không sớm loại trừ sẽ gây nguy hại về nhiều mặt, như: làm hư hỏng đội ngũ cán bộ; làm cho bộ máy nhà nước ngày càng trở nên quan liêu, xa dân, xuống cấp và hoạt động kém hiệu lực. Ở một phương diện khác, tham nhũng có thể dẫn đến khủng hoảng chính trị, trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của chế độ; làm tha hóa nhân cách con người, xói mòn các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Tình trạng chạy theo lợi ích vật chất, vì đồng tiền sẵn sàng chà đạp lên luân thường, đạo lý, đe dọa sự phát triển của đất nước, hủy hoại các dịch vụ công, gây bức xúc trong đời sống xã hội; đồng thời, làm méo mó, lệch chuẩn các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, tê liệt hệ thống hành pháp, mất đoàn kết nội bộ, tạo cơ hội cho kẻ thù lợi dụng chống phá.
Tham nhũng là quá trình diễn ra từ bên trong kết hợp với chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch tác động từ bên ngoài gây rối loạn xã hội, làm cho Đảng suy yếu dần, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đánh mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Và như vậy, chúng ta sẽ rơi vào cái “bẫy” “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; tạo điều kiện cho chúng thực hiện mưu đồ “không đánh mà thắng”. Tham nhũng và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời và tác động lẫn nhau. Tham nhũng là một trong những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, song nó lại thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngày càng trầm trọng; đến lượt “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nó tác động tích cực trở lại, là mảnh đất màu mỡ, môi trường thuận lợi để tham nhũng hoành hành và phát triển.
Thấy được sự nguy hại của mối quan hệ giữa tham nhũng với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp tích cực để phòng, chống, với tinh thần không để tham nhũng có điều kiện phát triển, góp phần hạn chế những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nhận thức rõ điều đó, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc với tinh thần quyết liệt, khẩn trương, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, dù đương chức hay nghỉ hưu, làm rõ đến đâu, xử lý đến đó, không cầu toàn, chờ đợi. Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ trình bày trước Quốc hội, năm 2018, công tác thanh tra đã phát hiện 78 vụ, 106 đối tượng tham nhũng và liên quan đến tham nhũng, tăng 14,7% số vụ; giải quyết khiếu nại, tố cáo phát hiện 40 vụ, 87 đối tượng có hành vi liên quan đến tham nhũng, tăng 66,7% số vụ. Cơ quan điều tra của lực lượng Công an thụ lý điều tra 427 vụ án, 889 bị can phạm tội tham nhũng; kết luận điều tra đề nghị truy tố 212 vụ, 488 bị can. Viện kiểm sát các cấp thụ lý giải quyết 278 vụ, 678 bị can, trong đó có 243 vụ án mới, 599 bị can, tăng 23 vụ, 107 bị can; giải quyết 250 vụ, 595 bị can, đạt tỷ lệ 90%, tăng 3,4%. Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 340 vụ, 827 bị cáo, giảm 1,5% số vụ, tăng 9,1% số đối tượng; xét xử sơ thẩm 200 vụ, 472 bị cáo về các tội danh tham nhũng, trong đó tỷ lệ tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng chiếm 41,5%, giảm 8,2%; tuyên phạt 09 án tử hình, tù chung thân, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2017, v.v.
Mặc dù có sự vào cuộc quyết liệt và đạt được kết quả quan trọng trong phòng, chống tham nhũng, song tệ nạn này vẫn diễn biến phức tạp, gây nhức nhối trong xã hội. Để ngăn chặn nạn tham nhũng, góp phần khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, cần có sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, tập trung vào một số giải pháp sau:
Thứ nhấtlàm tốt công tác giáo dục, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết với những người nắm giữ chức vụ cao, lãnh đạo, quản lý trong bộ máy nhà nước, ở lĩnh vực nhạy cảm dễ xuất hiện hành vi tham nhũng. Thực chất đây là biện pháp phòng ngừa tham nhũng từ xa; gắn “xây với chống”, “lấy xây để chống”, lấy phòng là chính và làm tốt phòng ngừa sẽ ít phải chống và chống sẽ hiệu quả. Để biến quyết tâm của Đảng thành hiện thực trong phòng, chống tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trước hết phải tăng cường giáo dục, định hướng tư tưởng, nhất là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, tạo sự đồng thuận xã hội, sự thống nhất trong Đảng. Sức nặng, sự thành công của giáo dục, quản lý nằm ở khả năng, phẩm chất, nhân cách, đạo đức, uy tín của người đứng đầu. Nếu họ không có đủ phẩm chất, năng lực, không thực sự là tấm gương cho người khác học tập, noi theo thì dù cố gắng đến mấy, thuyết giảng hay đến đâu hiệu quả vẫn không cao. Bởi vậy, việc giáo dục nâng cao ý thức tự giác, trách nhiệm là vấn đề đặt lên hàng đầu; từ đó, điều chỉnh nhận thức, hành vi trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, nhất là người đứng đầu. Đi đôi với giáo dục, tăng cường công tác quản lý hành chính, rèn luyện đạo đức, tác phong, lối sống trong sạch, liêm khiết của cán bộ, đảng viên; hướng cho họ vào môi trường làm việc thân thiện, tinh thần “dĩ công vi thượng”. Đồng thời, phát huy vai trò của tổ chức đảng, giám sát của nhân dân, hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng trong tuyên truyền, phát hiện, cảnh báo, răn đe nạn tham nhũng.
Thứ haităng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự điều hành của chính quyền các cấp đối với nạn tham nhũng. Các cấp coi đây là một trong những trọng tâm lãnh đạo của cấp ủy, nội dung sinh hoạt hằng tháng của chi bộ, cơ quan, tổ chức; gắn phòng, chống tham nhũng với chống lãng phí và những biểu hiện tiêu cực trong nội bộ. Đồng thời, lấy kết quả chống tham nhũng làm cơ sở để đánh giá năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, hiệu lực điều hành, quản lý của chính quyền, phẩm chất, năng lực, trách nhiệm của người đứng đầu. Trong lãnh đạo, chỉ đạo phải kiên trì, kiên quyết, liên tục, sâu sát cơ sở; phát hiện, xử lý kịp thời nhận thức và hành động không đúng. Cấp ủy các cấp thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Quy định về những điều đảng viên không được làm; đưa phòng, chống tham nhũng trở thành ý thức thường trực, nhiệm vụ thường xuyên của mỗi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên.
Thứ batiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội, đảm bảo đủ sức răn đe, nghiêm trị các hành vi tham nhũng. Dưới góc độ quản lý nhà nước, hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta đang có sự bổ sung cho phù hợp, nhưng nhìn chung còn thiếu đồng bộ, trên một số lĩnh vực còn sơ hở, chưa đủ sức răn đe. Bởi vậy, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật làm căn cứ pháp lý để giáo dục, răn đe, xử lý các hành vi tham nhũng. Đồng thời, có chế tài đủ mạnh cả về hình sự lẫn kinh tế đối với hành vi tham nhũng và những người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra tham nhũng; kiên quyết loại bỏ khỏi bộ máy nhà nước những cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm giàu bất chính, làm thất thoát tài sản Nhà nước, tổ chức, hoặc để người thân lợi dụng trục lợi dù người đó là ai, cương vị nào. Đẩy mạnh cải cách hành chính, rà soát, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật, nhằm khắc phục sơ hở, thiếu sót, bảo đảm công khai, minh bạch trong quản lý kinh tế - xã hội; thực hiện các khoản chi theo đúng dự toán đã cấp; kiểm soát chặt chẽ chi đầu tư xây dựng cơ bản, v.v. Các cấp, ngành cụ thể hóa quy định về phòng, chống tham nhũng phù hợp đặc điểm, tình hình của cấp mình; quản lý chặt chẽ, tránh buông lỏng, thiếu kiểm tra, giám sát trong quản lý tài sản công.
Thứ tưphát huy vai trò của người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng. Thực tiễn đã chỉ ra, ở đâu người đứng đầu có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, không tham nhũng, sâu sát trong công tác quản lý, kiên quyết với những sai phạm, thì ở đó, việc phòng, chống tham nhũng được thực hiện tốt và ngược lại. Tuy nhiên, chúng ta thấy, hầu hết các vụ tham nhũng được phát hiện đều là những cán bộ có chức, có quyền, trong đó có nhiều người đứng đầu cơ quan, doanh nghiệp, nên việc phòng, chống tham nhũng phải bắt đầu từ người đứng đầu. Có như vậy, mới cảnh tỉnh, răn đe, giáo dục được cấp dưới và ngăn chặn tham nhũng từ nội bộ. Do đó, người đứng đầu phải nắm vững các chỉ thị, nghị quyết, quy định về phòng, chống tham nhũng; tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trên lĩnh vực quản lý. Đồng thời, phải thực sự gương mẫu, đi đầu trong thực hiện các quy định, pháp luật hiện hành; nói đi đôi với làm; chặt chẽ, đúng nguyên tắc trong quản lý kinh tế; trong sạch, giản dị trong cuộc sống. Các cấp ủy cần coi đây là tiêu chuẩn đánh giá năng lực, đạo đức, lối sống của người đứng đầu; phê bình, xử lý nghiêm những người thiếu gương mẫu, vi phạm chế độ quy định và có hành vi tham nhũng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra sai phạm; có cơ chế, chế tài bảo đảm cho việc giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có hiệu lực trên thực tế; bảo vệ những người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, không để tệ nạn nhởn nhơ trước pháp luật.
Thứ nămkết hợp chặt chẽ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống “tự diễn biến”, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cùng với phòng, chống tham nhũng, việc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề cấp thiết hiện nay. Để làm được điều đó, các cấp phải làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc hệ lụy của sự tác động giữa tham nhũng với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và ngược lại. Các cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng quyết tâm thực hiện 4 nhóm giải pháp của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) theo đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương; chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đồng thời, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ, vụ lợi, “lợi ích nhóm”; rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát thực thi quyền lực của người có chức, có quyền; xử lý kiên quyết hành vi vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Đảng; phát huy vai trò giám sát của nhân dân và báo chí, công luận trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập, nhất là sự cám dỗ của đồng tiền, lối sống sa đọa. Cùng với đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện với tự giáo dục, tự rèn luyện; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, vừa “hồng” vừa “chuyên” như Bác Hồ đã dạy.
Nguồn: www.tapchiqptd.vn

Không thể xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng


Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Nghị quyết 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nhằm góp phần làm rõ vấn đề này và khẳng định tính đúng đắn nền tảng tư tưởng của Đảng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân giới thiệu bài viết: “Không thể xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng” của tác giả Nguyễn Phú Hưng.

Vị thế của Việt Nam bác bỏ mọi sự xuyên tạc


Một trong những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận những thành quả của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo. Tuy nhiên, vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phủ nhận.

“Một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc” trong di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Một trong những tư tưởng xuyên suốt trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vấn đề “phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc”. Đó là lý tưởng phụng sự suốt đời của Người và cũng là định hướng chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Phúc trình Nhân quyền và Tôn giáo năm 2019 của Bộ Ngoại giao Mỹ xuyên tạc sự thật, cản trở quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ


Vẫn như mọi năm, năm 2019, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã công bố hai văn bản-được gọi là “phúc trình” về tình hình Nhân quyền (NQ, 14-3-2019) và tự do Tôn giáo (TDTG, 29-4-2019) trên thế giới. Trong hai văn bản nói trên, những người soạn thảo đã thể hiện sự kỳ thị đối với những quốc gia có chế độ xã hội, chính sách, pháp luật khác biệt với Hoa Kỳ, trong đó có Việt Nam.
Có thể nói hai bản phúc trình nói trên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn bám giữ những quan điểm cổ hủ, lỗi thời từ thời kỳ “Chiến tranh lạnh”-kỳ thị với chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ nhân quyền nói chung và tình hình tôn giáo ở Việt Nam nói riêng. Hơn nữa, những thông tin mà hai bản phúc trình đưa ra chỉ là sự cóp nhặt, sao chép cẩu thả những thông tin trên mạng, lại không được kiểm chứng. Chẳng hạn Phúc trình NQ 2019 đã lấy thông tin từ Phúc trình của tổ chức HRW (là một tổ chức bị “cấm cửa” ở Việt Nam và nhiều quốc gia khác). Phúc trình NQ 2019 viết: "Nhiều người hoạt động chính trị, các blogger bị bắt bớ và giam cầm tùy tiện, bị giết tại nơi tạm giam; những phiên tòa ở Việt Nam thì luật sư được khuyến khích chống lại thân chủ và bản án thì đã được định sẵn khi chưa tranh tụng!".
Ngay khi phúc trình được lưu hành, nhiều quốc gia đã bày tỏ bất bình đối với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và rằng phúc trình NQ, TDTG năm 2019 đã can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, tác động xấu đến tình hình chính trị quốc tế và trong mỗi nước.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã thẳng thắn bác bỏ những cáo buộc Việt Nam vi phạm quyền con người (QCN) và quyền tự do tôn giáo (QTDTG); đồng thời tái khẳng định các QCN và QTDTG đã được hiến định và quy định trong các đạo luật, nghị định của Chính phủ, cũng như được bảo đảm trong thực tế.
Vậy quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về QCN và QTDTG như thế nào?
Trước hết, QCN nói chung, QTDTG nói riêng là một mục tiêu nhất quán, xuyên suốt trong đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Ở Việt Nam, QCN được xác định từ Luận cương (Cương lĩnh) chính trị, năm 1930, các cương lĩnh tiếp theo cho đến Cương lĩnh 2011. Ngay sau khi giành được độc lập, xây dựng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam), các Hiến pháp Việt Nam, từ Hiến pháp đầu tiên-1946 đến Hiến pháp 2013 đều nhất quán quy định Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm QCN, quyền công dân.
Hiến pháp 2013, lần đầu tiên đã dành cả một chương (Chương II) quy định về “QCN, quyền và nghĩa vụ công dân”. Chương này không chỉ quy định đầy đủ các QCN, quyền và nghĩa vụ công dân mà còn quy định những nguyên tắc cơ bản về QCN. Những nguyên tắc đó bao gồm: 1) Nguyên tắc về mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân, trong đó Nhà nước có nghĩa vụ, người dân là chủ thể của quyền; 2) Nguyên tắc hạn chế quyền (chẳng hạn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo… (Điều 24); quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình… (Điều 25) có thể bị hạn chế “vì lợi ích an ninh Quốc gia, trật tự xã hội…”. Cần lưu ý rằng, quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền tiếp cận thông tin…” là những quyền bị hạn chế. Đây là điều hai bản phúc trình của Hoa Kỳ 2019 đã cố tình bỏ qua.
Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định những cam kết quốc tế của Nhà nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế về QCN. Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam viết: “Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về QCN mà nước ta ký kết”.
Trước Đại hội XII, Nghị quyết Trung ương 7, khóa IX đã xác định: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.
Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là: Thực hiện nhất quán tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”.
Đồng thời, nghị quyết xác định “nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia”.
Trong những năm qua, QCN, quyền công dân của nhân dân ta được bảo đảm trong thực tế. Trên lĩnh vực quyền kinh tế xã hội và văn hóa năm 2018:  Tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 7,08%, mức cao nhất trong vòng một thập niên trở lại đây. Kinh tế vĩ mô ổn định với việc giữ được mục tiêu CPI, thâm hụt ngân sách giảm, môi trường kinh doanh không ngừng được cải thiện... Năm 2018, lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục “lập kỷ lục mới” khi “phá vỡ kỳ tích” năm 2017. Tính đến hết ngày 15-12-2018, tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt 233,07 tỷ USD.
Giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục đà tăng mạnh trong năm 2018 và thiết lập mức kỷ lục mới trong nhiều năm trở lại đây. Hơn 19 tỷ USD đã được rót vào Việt Nam trong năm 2018 cho thấy niềm tin mạnh mẽ của nhà đầu tư vào môi trường đầu tư cũng như tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới. Việt Nam vươn lên là một trong những nền kinh tế có sức hấp dẫn trong khu vực và trên thế giới. Điều đáng nói, Việt Nam đã yêu cầu các nhà đầu tư đáp ứng ngành công nghiệp 4.0 như công nghệ cao, công nghệ mới, công nghệ thân thiện với môi trường...
Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN 2018 diễn ra vào trung tuần tháng 9-2018 tại Hà Nội đã thu hút hơn 1.000 đại biểu, trong đó có 7 tổng thống và thủ tướng, 2 phó thủ tướng… đã chứng tỏ vị thế chính trị-kinh tế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Trên lĩnh vực xã hội, năm 2018 còn được xem là năm “được mùa-bội thu” của bóng đá Việt Nam với thành công của hai đội bóng-U.23 và Olympic quốc gia. Một trong những thành tích gây ấn tượng quốc tế là đội U.23 Việt Nam đoạt ngôi á quân Vòng chung kết U.23 châu Á ở Thường Châu, Trung Quốc. 
Các quyền dân sự, chính trị đã được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Trên lĩnh vực quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, theo số liệu của cơ quan chức năng, cho đến nay cả nước có 857 cơ quan báo chí, trong đó có 199 cơ quan báo chí in (86 báo Trung ương, 113 báo địa phương), 658 tạp chí (521 tạp chí Trung ương, 137 tạp chí địa phương), 1 hãng thông tấn quốc gia. Có 105 báo, tạp chí điện tử (tăng 7 báo so với năm 2014). Các Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam; Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC đã phủ sóng 99,5% diện tích lãnh thổ, qua vệ tinh tới nhiều nước trên thế giới. Hiện hơn 90% hộ gia đình Việt Nam đã sử dụng sóng truyền hình của Ðài Truyền hình Việt Nam.
Hiện nay quyền tự do trên internet, mạng xã hội đã được bảo đảm thể hiện ở số lượng lớn các báo, trang điện tử và mạng xã hội. Theo thống kê chưa đầy đủ hiện có tới 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội, 1.174 trang thông tin điện tử được cấp phép hoạt động. Giá cả dịch vụ internet ở Việt Nam rẻ nhất khu vực. Ngày nay người dân Việt Nam có thể tiếp cận tin tức của các cơ quan thông tấn, báo chí trên thế giới như AFP, AP, BBC, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times…Với những số liệu như trên, không thể nói QCN, QTDTG ở Việt Nam bị vi phạm nghiêm trọng như hai phúc trình vừa công bố.
Trên một góc độ khác, quyền bình đẳng của tất cả mọi người được bảo đảm. Những ai vi phạm pháp luật đều bị xử lý cho dù đó là cán bộ của Đảng, Nhà nước hay công dân. Năm 2018, không ít cán bộ cấp cao của Nhà nước vi phạm pháp luật đã bị khởi tố bắt tam giam.
Trong điều kiện Cách mạng công nghiệp 4.0, có thể nói Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của internet. Việt Nam đã kết nối internet khá sớm. Từ đây người Việt Nam đã có thể tiếp cận với các nguồn thông tin dựa trên internet, mạng xã hội. Tuy nhiên cũng như nhiều quốc gia khác, những thế lực chống phá Việt Nam trong và ngoài nước đã lợi dụng internet, mạng xã hội phát tán thông tin xấu độc chống Đảng, Nhà nước, phá hoại cuộc sống thanh bình của nhân dân ta. Ứng phó với tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp trấn áp tội phạm mạng, đồng thời xây dựng hành lang pháp lý nói chung, pháp luật về mạng điện tử nói riêng, trong đó có Luật An ninh mạng, 2018.
Nhằm bảo đảm các QCN, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp, đồng thời “cập nhật” những yêu cầu mới do sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng xã hội, Quốc hội Việt Nam đã ban hành nhiều bộ luật, trong đó có luật và nghị định về quyền tiếp cận thông tin (2016); Luật An ninh mạng (2018).
Ngày nay, bảo đảm cuộc sống thanh bình cho xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì không thể không bảo vệ an ninh mạng. Không như những lập luận xuyên tạc của hai bản phúc trình Hoa Kỳ mới công bố, Luật An ninh mạng Việt Nam chỉ quy định các chế tài đối với việc sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi chống Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chẳng hạn như: Tổ chức, hoạt động, chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; xuyên tạc lịch sử; thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người.
Luật An ninh mạng chỉ cho phép cơ quan chức năng điều tra, làm rõ chủ thể nguồn thông tin xấu độc khi cần thiết, đặc biệt là những hành vi vi phạm an ninh quốc gia. Xét về lợi ích của cá nhân, tổ chức, Luật An ninh mạng là một bảo đảm về pháp lý cho người sử dụng internet, mạng xã hội không bị lừa đảo bởi các thông tin sai sự thật (như thông tin lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bán hàng “rởm”; thông tin tác động xấu đến môi trường văn hóa như lạm dụng tình  dục, mại dâm, ma túy và khuyến khích bạo lực…).
Xét về mặt lịch sử, hai văn bản phúc trình thường niên do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ soạn thảo và công bố là sản phẩm của thời kỳ chiến tranh lạnh (1946-1989). Khi đó, thế giới hình thành hai hệ thống (TBCN và XHCN) đối lập nhau về chính trị, hệ tư tưởng. Đồng thời với các cuộc chiến tranh xâm lược, các nước đế quốc còn đẩy mạnh cuộc chiến tranh ý thức hệ, nhằm lật đổ các quốc gia đi theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam. Sau chiến tranh lạnh, quan hệ quốc tế đã có sự thay đổi lớn. Các quốc gia đều cam kết tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó có QCN. Đồng thời các quốc gia còn khẳng định tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và thể chế chính trị của nhau-trong đó có hệ thống pháp luật.
Có thể khẳng định rằng sự khác biệt về mặt pháp lý giữa các quốc gia là điều tất nhiên. Hoa Kỳ và Việt Nam đều là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho lưu hành hai bản phúc trình về QCN và QTDTG xuyên tạc, chỉ trích pháp luật Việt Nam là trái với quan hệ quốc tế trong thời đại ngày nay. Không những thế, việc ban hành hai văn bản này còn tác động xấu đến quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đang trên đà phát triển tốt đẹp.
Nguồn: www.qdnd.vn


Đừng lầm tưởng để tự phá hoại bình yên của chính mình


Trong chiến lược "diễn biến hòa bình", chiêu thức thường được các thế lực thù địch tận dụng tối đa nhằm làm sụp đổ một quốc gia là tìm cách bôi nhọ chế độ xã hội hiện tại, thổi phồng những mặt trái của xã hội đó để gây tâm lý bất mãn rồi kích động sự phản kháng trong xã hội.
 Những vụ việc cụ thể, có tính cá biệt, những sai phạm của cá nhân, thường được nâng lên thành bản chất của chế độ xã hội. Đáng tiếc là vẫn có không ít người nhẹ dạ, thiếu thông tin, thiếu tầm nhìn, không tự phát hiện được sự thật đằng sau những luận điệu kích động đó, họ vô tình tự cướp đi bình yên của chính mình.
Ngộ nhận và bất mãn dễ bị kẻ xấu lợi dụng
Trong xã hội hiện nay, chúng ta không khó để nhận ra có những người rất hay than trách cuộc sống, nghi ngờ mọi thứ xung quanh, cho rằng mọi thứ đều xấu xa, tự cảm thấy mình chịu nhiều bất công, từ đó oán trách chế độ xã hội. Họ nhìn xã hội qua lăng kính màu đen nên mọi thứ xung quanh đều trở nên đen tối. Khi kinh tế phát triển họ nói rằng phát triển không thực chất, phải đánh đổi môi trường, lợi ích vào túi một số ít người. Khi một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số vụ tham nhũng bị phát giác, xử lý nghiêm theo pháp luật, thì họ cho rằng như thế là chưa đủ, mà thậm chí phải "đập chế độ này đi xây lại vì cả hệ thống tham nhũng". Khi một vài trường học xảy ra bạo lực học đường, thì họ kết luận cả nền giáo dục là bỏ đi. Thậm chí khi bóng đá Việt Nam giành được nhiều thành tích, nhiều chiến thắng vinh quanh ở tầm châu lục và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á, họ cũng cho rằng đó là may mắn, rồi chỉ là thành tích của một lứa cầu thủ, một huấn luyện viên, còn cả nền bóng đá vẫn tồi tệ...
Thực tế trong bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những người bi quan và bất mãn. Điều này là kết quả, là ảnh hưởng từ xuất phát điểm của mỗi người; từ quá trình giáo dục, từ những kết quả công việc và cuộc sống cho đến cách tiếp nhận, phân tích thông tin của mỗi người và quan trọng là cách tự xác định tâm thế, vị trí của mỗi người đối với cuộc sống. Chúng ta có thể gặp không ít người có đời sống vật chất đủ đầy, có nhà lầu, xe hơi... nhưng vẫn bất mãn với cuộc sống, vẫn thấy nhiều người hơn mình, vẫn thấy mình thiệt thòi. Từ những bất mãn so bì đó, thay vì nỗ lực để mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn nữa cho bản thân như mong muốn, thì họ lại quay ra oán trách, thậm chí chửi bới, bôi nhọ chế độ xã hội.
Những lúc bình thường thì tâm thế của kiểu người nêu trên gây tiêu cực cho chính bản thân họ và xã hội. Nhưng khi mà cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" diễn ra rất quyết liệt, có nhiều sắc thái mới thì việc tồn tại trong xã hội kiểu người nói trên sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch hướng tới, lôi kéo, nhằm đạt được mục đích là gây bất ổn xã hội, thậm chí gây rối loạn xã hội, tiến tới lật đổ chế độ.
Để nói về điều này, cần phải nhìn lại giai đoạn vừa qua của lịch sử thế giới đã chứng kiến những kết cục đau lòng từ sự ngộ nhận, lầm tưởng của một lớp người trong xã hội. Năm 2011, các cuộc biểu tình có cái tên rất mỹ miều là "Mùa xuân Ả Rập" đồng loạt nổ ra tại một số quốc gia Bắc Phi, Trung Đông, như: Tunisia, Algerie, Ai Cập, Yemen, Libya, Iraq, Syria...  Các cuộc biểu tình này đã dẫn tới bạo động chống chính phủ, lan nhanh như một bệnh dịch khiến chính phủ ở một loạt nước như Ai Cập, Libya, Tunisia, Yemen bị lật đổ, xã hội hỗn loạn... Các nước Syria, Yemen chìm trong nội chiến. Theo ước tính đến năm 2016, "Mùa xuân Ả Rập" và các cuộc nội chiến từ hậu quả của nó đã làm Syria, Lybia, Iraq bị tàn phá, khoảng 500.000 người chết, hàng chục triệu người bị mất nhà cửa, phải chạy tị nạn sang các quốc gia khác.
Nguyên nhân dẫn tới biểu tình và bạo động là những vấn đề xã hội đã tồn tại trong các quốc gia nêu trên chậm được cải thiện, những vấn đề tư tưởng, những ấm ức, bất mãn, tâm lý bị thiệt thòi của một bộ phận người dân không sớm được giải tỏa và tìm biện pháp khắc phục. Cùng với đó là sự can dự, giật dây của các nước phương Tây, tiếp sức bằng tiền và vũ khí cho các nhóm chống đối, kích động, lôi kéo người dân xuống đường biểu tình. Đó là vì các nước phương Tây muốn thay đổi các chế độ trái mắt họ, vì lợi ích của họ. Kết quả của "Mùa xuân Ả Rập" là một thứ mùa xuân chết chóc, hỗn loạn, tan vỡ, ly tán, vợ mất chồng, cha mất con, người dân mất nhà cửa, đất nước tan hoang. Những nhà lãnh đạo bị phương Tây gọi là những “nhà độc tài” đã bị lật đổ, để rồi thay thế vào đó là nhiều nhóm quyền lực mới nổi lên bắn giết nhau, bất chấp mạng sống của người dân để giành quyền lực. Nhiều người dân Ả rập đã hối tiếc, muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền Mùa xuân Ả Rập”.
Nhìn người để nghĩ tới ta. Đất nước Việt Nam hiện được đánh giá nằm ở nhóm quốc gia có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu thế giới. Chúng ta có thể cảm nhận thấy rõ đời sống của người dân đang đi lên theo thời gian. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018, 70% người dân Việt Nam đã được bảo đảm về mặt kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới. Tính từ năm 2014 tới nay, trung bình mỗi năm có 1,5 triệu người Việt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu, cho thấy các hộ gia đình đang tiếp tục leo lên bậc thang kinh tế cao hơn sau khi thoát nghèo. Tất cả vấn đề xã hội, vấn đề về môi trường, phát triển bền vững đều được Đảng, Nhà nước quan tâm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt quan tâm và thực hiện thực chất, quyết liệt. Thế nhưng tất cả những thực tế rõ ràng đó, những con người có con mắt thiếu khách quan vẫn cố tình không thừa nhận.
Liệu có một xã hội hoàn hảo hay không?
Để nhận thấy sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề trong xã hội, có thể nhìn sang quốc gia hùng mạnh nhất thế giới là nước Mỹ. Năm 2004, siêu bão Charley quét từ vịnh Mexico qua Florida đến Đại Tây Dương, tàn phá một số vùng của nước Mỹ, làm 22 người chết và thiệt hại 11 tỷ USD. Điều đáng nói, sau cơn bão này, người dân Mỹ mới nhận ra những điều bất ổn trong xã hội mình. Đó là nhân việc bão quét sạch mọi thứ, nhiều doanh nghiệp đã nâng giá bán với mức cắt cổ để kiếm lợi. Máy phát điện từ 250 USD tăng lên 2.000 USD; nước đá từ 2 USD được nâng lên 10 USD; một gia đình muốn dọn hai cây đổ vào nóc nhà thì phải trả giá là 23.000 USD (khoảng 530 triệu VNĐ). Đỉnh điểm là câu chuyện một cụ bà 70 tuổi chạy bão với người chồng và cô con gái khuyết tật đã phải trả 160 USD (khoảng 3,7 triệu VNĐ) một đêm cho buồng trọ giá bình thường chỉ 40 USD. Tờ USA Today khi đó đã bức xúc chạy dòng tít: “Kền kền sau bão” để phê phán thực trạng lợi dụng thảm họa, lợi dụng sự khổ đau của người khác để ép giá cắt cổ. Thế nhưng, điều đáng nói hơn là một số nhà kinh tế tại Mỹ lại phản đối tờ USA Today và cho rằng việc tăng giá như thế là bình thường, vì trong một nền kinh tế thị trường có quy luật cung cầu, cầu tăng mà nguồn cung giảm thì ắt giá sẽ tăng, chứ không có khái niệm “giá cắt cổ”.
Nhìn vào sự việc trên để thấy sự khác biệt ở Việt Nam. Khi xảy ra những trận thiên tai, bão lũ, thảm họa ở bất kỳ khu vực nào thì cả nước đều quan tâm, theo dõi, lo lắng rồi chung tay, quyên góp cùng địa phương đó kịp thời khắc phục hậu quả, giúp người dân ổn định cuộc sống. Các lực lượng chức năng, trong đó quân đội là lực lượng nòng cốt, được huy động để giúp đỡ người dân khẩn trương thu hoạch mùa màng, dựng lại nhà cửa, dọn dẹp vườn ruộng, đường xá, trường học, bệnh viện sau bão. Các hoạt động ấy vừa là nhiệm vụ được cấp trên giao phó nhưng cũng xuất phát từ trái tim. Bởi dân tộc Việt Nam, xã hội Việt Nam là một xã hội hướng thiện, yêu thương đùm bọc nhau đã là truyền thống từ xưa tới nay: “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”... Khi nền kinh tế phát triển thường sẽ kéo theo những sự phát triển không đồng đều vì đặc điểm địa lý, lợi thế của mỗi vùng miền, rồi khả năng của mỗi con người cũng khác nhau. Nhận thấy nguy cơ này, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm để thiết kế các chế độ, chính sách thúc đẩy sự phát triển của vùng sâu, vùng xa, giúp đỡ người nghèo vươn lên theo phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Ở một xã hội phát triển như Nhật Bản, được coi là hình mẫu của nhiều quốc gia, thế mà trong nhiều tác phẩm của mình, ông Inamori Kazuo, một doanh nhân, một nhà giáo dục nổi tiếng của Nhật Bản vẫn nhiều lần phê phán, tỏ ý thất vọng vì xã hội và con người Nhật Bản hiện nay đang bị thoái hóa về đạo đức, một xã hội dần trở nên bị lũng đoạn bởi nhiều thói xấu như tham nhũng, ích kỷ, thiếu tử tế... Do đó có thể thấy, ở bất cứ một quốc gia nào, một chế độ nào cũng không bao giờ có sự hoàn hảo. Tất cả quốc gia, dân tộc, cơ quan, tổ chức, cá nhân đều mãi mãi chỉ trên con đường để vươn tới sự hoàn hảo. Và muốn vươn tới tiệm cận sự hoàn hảo đó thì chúng ta cần phải có cái nhìn đúng đắn, khách quan về mọi thứ xung quanh mình. Thay vì oán trách tại sao ai đó không làm điều tốt cho mình, tại sao mình không được hưởng những điều tốt đẹp hơn thì nên tự nỗ lực hơn nữa trong công việc và cuộc sống. 
Đất nước Việt Nam đang trên con đường phát triển, do đó còn nhiều vấn đề đặt ra, còn những mặt trái trong xã hội. Vì vậy, muốn đất nước phát triển thì mọi người cần bình tĩnh, tỉnh táo để nhìn nhận đúng mọi vấn đề xung quanh mình, nỗ lực đóng góp sức mình dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đừng vì những mặt trái hiện có trong xã hội mà thất vọng, chán nản, để rồi dễ bị lợi dụng, bị kích động, tự mình phá hoại sự ổn định của đất nước mình, sự bình yên, hạnh phúc của bản thân mình.
Nguồn: www.qdnd.vn


Cảnh giác với chiêu trò lợi dụng quyền tự do hội họp chống phá Việt Nam


 Quyền tự do hội họp là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và được bảo đảm thực hiện trong thực tế. Tuy nhiên, những năm qua, lợi dụng các sự kiện chính trị, xã hội phức tạp, nhạy cảm, các nhà đấu tranh khoác áo “dân chủ, nhân quyền” triệt để lợi dụng quyền này để xuyên tạc, kích động người dân biểu tình, bạo loạn nhằm tập dượt “cách mạng màu” chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Theo "Từ điển tiếng Việt", “hội họp” là “tề tựu đông đảo”, là “tập họp ở một nơi để bàn bạc”. Quyền tự do hội họp là một quyền cơ bản của con người được gặp gỡ, họp mặt để trao đổi, giao lưu, bàn công việc… Việc hội họp có thể mang tính chất gia đình, bạn bè; có thể là sinh hoạt của các tôn giáo, hoạt động của các hội đoàn để thảo luận, giải quyết công việc nội bộ các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội. Đó cũng là quyền của công dân được gặp gỡ để thảo luận, góp ý kiến về các vấn đề chung của Nhà nước và xã hội.
Theo luật pháp quốc tế, quyền tự do hội họp luôn gắn chặt với quyền tự do ngôn luận và được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế. Điều 20, Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình”. Quy định này tiếp tục được khẳng định tại Điều 11, Công ước châu Âu về nhân quyền năm 1950 và Điều 21, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR). Tuy nhiên, ICCPR cũng khẳng định, quyền tự do hội họp được giới hạn khi cần thiết vì lý do an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ quyền và tự do của người khác (Điều 21); không ai được phép lợi dụng quyền tự do hội họp để tuyên truyền cho chiến tranh, hằn thù dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, kích động phân biệt đối xử, tạo thù địch, bạo lực (Điều 20). Trong khuôn khổ pháp luật quốc gia, quyền tự do hội họp cũng được ghi nhận trong hiến pháp, pháp luật nhiều nước như: Luật Biểu tình (Đức), Luật về tuần hành, hội họp, biểu tình, diễu hành và tập trung (Nga), Hiến pháp Hoa Kỳ... Tuy nhiên, luật pháp quốc tế, pháp luật các quốc gia đều khẳng định, tự do hội họp là quyền có thể bị giới hạn trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân.
Qua nghiên cứu pháp luật quốc tế và luật pháp các quốc gia cho thấy, nội dung của quyền biểu tình được ghi nhận với tư cách là nội hàm của hai quyền: Quyền tự do hội họp và quyền tự do ngôn luận.
Trên cơ sở nội luật hóa pháp luật quốc tế về quyền tự do hội họp, ngay từ khi mới thành lập nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã khẳng định tự do hội họp là quyền cơ bản của công dân và bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Ngày 13-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 31 nhấn mạnh, tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ dân chủ cộng hòa; tuy nhiên, những cuộc biểu tình phải khai trình trước 24 giờ với các ủy ban nhân dân sở tại. Xuyên suốt các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam từ trước tới nay, quyền tự do hội họp được khẳng định là một quyền tự do cơ bản của người dân và được Nhà nước ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 đã nhấn mạnh: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình… theo quy định của pháp luật”. Pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm hành vi xâm phạm quyền hội họp của công dân (Điều 163, Bộ luật Hình sự năm 2015).
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng quyền tự do hội họp để tập hợp người dân, nhất là số người có trình độ nhận thức thấp, có bức xúc, mâu thuẫn với chính quyền, bất mãn với chế độ... tham gia đình công, biểu tình nhằm xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT-TTATXH), chống phá Nhà nước, phá hoại sự ổn định của xã hội. Đối tượng cầm đầu lôi kéo, kích động quần chúng biểu tình là những cá nhân, tổ chức phản động, thù địch, số bất mãn, cơ hội chính trị... Lợi dụng các sự kiện chính trị, xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của người dân, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật, các thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc chính sách, pháp luật của Nhà nước; bóp méo, thổi phồng tính chất vụ việc; khống chế, lừa bịp những người nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết và lợi dụng hiệu ứng “tâm lý đám đông” để tập hợp, lôi kéo, kích động người dân tụ tập biểu tình, gây rối. Các cuộc hội họp, biểu tình không chỉ dừng lại ở việc phản đối hoặc gây áp lực với chính quyền mà khi có thời cơ sẽ tìm cách thực hiện “cách mạng màu”. Điển hình là vụ kích động, lôi kéo công nhân và người dân tham gia biểu tình ở Bình Dương năm 2014; và mới đây (năm 2018) lợi dụng việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng và thảo luận Dự thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, các đối tượng thù địch đã lôi kéo hàng nghìn người mang theo băng rôn, khẩu hiệu tụ tập, gây rối trật tự công cộng, đốt phá tài sản, tấn công lực lượng cảnh sát, cản trở hoạt động của các cơ quan chức năng… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ANCT-TTATXH ở nhiều địa phương: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Thuận... Sau khi các cơ quan chức năng triển khai các biện pháp ngăn chặn tình trạng gây rối, giải tán người dân tham gia; bắt giữ, xử lý các đối tượng cầm đầu, chủ mưu, chúng đã “tát nước theo mưa” xuyên tạc rằng, việc xử lý những đối tượng này là đàn áp dã man những người “biểu tình yêu nước”, kêu gọi Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế can thiệp.
Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền của mọi người dân được bày tỏ quan điểm của mình một cách công khai và mạnh mẽ nhất đối với các chủ thể khác mà đặc biệt là đối với Nhà nước. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền tự do hội họp, biểu tình gây mất ổn định ANCT-TTATXH, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước và công dân.
Nhằm phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động lợi dụng quyền tự do hội họp để biểu tình xâm phạm ANCT-TTATXH, các cơ quan chức năng đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp; trong đó, chủ động nắm tình hình các địa bàn trọng điểm, các tỉnh tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất… thường xảy ra biểu tình, tụ tập đông người; nắm hoạt động số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị ở địa phương để chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động móc nối, lôi kéo, kích động người dân tham gia biểu tình. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quyền tự do hội họp để chống phá Nhà nước; vận động bà con tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước tại địa phương, không nghe theo kẻ xấu lôi kéo tham gia biểu tình. Kịp thời giải quyết các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp nảy sinh trong nhân dân trên cơ sở pháp luật, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp; không để kẻ địch lợi dụng, tạo cớ kích động đình công, biểu tình. Chủ động bố trí lực lượng, phương tiện thường trực đấu tranh, phòng, chống gây rối, bạo loạn tại các địa bàn trọng điểm thường xảy ra đình công, biểu tình theo hướng chặt chẽ từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở. Cùng với đó, chủ động vô hiệu hóa ý đồ liên kết trong, ngoài của các tổ chức phản động lưu vong với số chống đối, cực đoan trong nước để tập hợp lực lượng biểu tình, gây bạo loạn.
Trong những năm tới, quyền tự do hội họp vẫn là vấn đề mà các thế lực thù địch tiếp tục triệt để lợi dụng nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam. Để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả hoạt động này, cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, đánh giá và dự báo kịp thời âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quyền tự do hội họp để biểu tình, bạo loạn; nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng, những khó khăn, bức xúc trong nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc… để khắc phục, giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn, “điểm nóng”ngay từ cơ sở, không để kéo dài, lây lan, vượt cấp. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, giải quyết tốt các vụ việc phức tạp liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân, tránh tạo sơ hở để bên ngoài lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá. Tiếp tục tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định ANCT-TTATXH ở các địa phương, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi.
Tiếp tục tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác đẩy mạnh tuyên truyền về chính sách, thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng, đủ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong bảo đảm quyền tự do hội họp ở Việt Nam, góp phần đấu tranh ngăn chặn hoạt động lợi dụng vấn đề này can thiệp nội bộ nước ta, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền tự do hội họp để biểu tình gây rối, bạo loạn, coi đó là trách nhiệm của mọi cấp, các ngành và nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này. Việc giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, đình công phải thực hiện đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động, thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài; xử lý nghiêm theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu kích động, lôi kéo người dân tụ tập biểu tình gây rối...
Nguồn: www.qdnd.vn

Nhận thức đúng về thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự


Cho đến nay, cả nước đã hoàn thành nhiệm vụ tuyển chọn, gọi thanh niên nhập ngũ năm 2019. Số lượng thanh niên nhập ngũ trong cả nước lên đến hàng vạn người. Cũng như nhiều năm trước, trong đợt tuyển quân năm nay đã có nhiều thanh niên tốt nghiệp đại học, có việc làm, thu nhập ổn định nhưng vẫn làm đơn tình nguyện nhập ngũ.
Cá biệt có gia đình hai anh em cùng làm đơn xin được nhập ngũ trong một đợt. Trả lời phỏng vấn báo chí trong dịp lên đường nhập ngũ, nhiều thanh niên đã bày tỏ những suy nghĩ chân thành của mình: “Ngay từ khi còn nhỏ, em đã mong được mặc bộ quân phục màu xanh, làm anh Bộ đội Cụ Hồ”. Có người thì nói: “Em luôn mong muốn có dịp được sống trong quân ngũ để rèn luyện những phẩm chất cao quý của thanh niên… tiếp tục phát huy truyền thống của dân tộc ta”. Có người chia sẻ: “Bảo vệ chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của dân tộc là trách nhiệm, vinh dự của thế hệ trẻ… Chúng em hiểu trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của thế hệ trẻ, nhất là trong tình hình hiện nay”.
Thế nhưng trên internet, mạng xã hội đã có kẻ lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tán phát thông tin xấu độc. Chẳng hạn, có kẻ viết: “Chính sách nghĩa vụ quân sự thực chất là chạy đua vũ trang”; “ Thời bình sao phải tuyển nhiều lính như thời chiến?”; “Sao không tập trung vào phát triển kinh tế, chống tham nhũng?”... Những “phản biện” nói trên công bằng mà nói, có thể do thiếu hiểu biết về đường lối, chính sách quốc phòng, về Luật Nghĩa vụ quân sự của Đảng và Nhà nước ta. Nhưng đã có kẻ xấu lợi dụng dịp này để xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Mục đích của họ là phá hoại mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, đặc biệt là với quân đội.
Đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta có cơ sở lịch sử, chính trị, pháp lý minh bạch. Trước hết, đó là vì dân tộc ta phải thường xuyên chống lại các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta cho thấy, không có một thế kỷ nào nhân dân ta không phải chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược.
Ngay từ thời kỳ phong kiến, các triều đại trong lịch sử Việt Nam đã có chính sách “ngụ binh ư nông”(2). Chính sách này ra đời trong bối cảnh-một đất nước đất không rộng, người không đông, lại thường xuyên bị các thế lực nước ngoài xâm lược. Chính sách “ngụ binh ư nông” là sự kết hợp nhiệm vụ duy trì lực lượng quốc phòng với sản xuất, sẵn sàng chuyển hóa lực lượng quân sự từ sản xuất sang chiến đấu khi cần thiết và ngược lại, chuyển lực lượng chiến đấu về sản xuất trong thời bình.  
Trong bối cảnh quốc tế và khu vực ngày nay đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên, Việt Nam vẫn đứng trước nhiều nguy cơ đe dọa về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ... Ngày nay, những nguy cơ, thách thức cũ vẫn còn đó thì lại có thêm những nguy cơ, thách thức mới. Đó là bảo vệ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và hạnh phúc của nhân dân. Gắn liền với nguy cơ, thách thức đó là phương thức chống phá của các thế lực thù địch-đó là chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Về kỹ thuật, đó là việc các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội làm phương thức chống phá mới.
Ứng phó với tình hình đó, đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta đã có những điểm mới. Văn kiện Đại hội XII của Đảng ta xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền”… Chính sách và chiến lược quốc phòng của Đảng ta là “tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh”; “xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”.
Đảng và Nhà nước ta cũng đã công khai hóa chính sách quốc phòng của Nhà nước ta. Đó là: “Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, thể hiện ở chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình. Việt Nam chủ trương từng bước hiện đại hóa quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng chỉ nhằm duy trì sức mạnh quân sự ở mức cần thiết để tự vệ.
Việt Nam chủ trương không tham gia các tổ chức liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác”.(3)
Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua là sự thể chế hóa Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” (Điều 15); “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” (Điều 16).
Luật Nghĩa vụ quân sự quy định nghĩa vụ quân sự là “Nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân;… Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của luật này” (Điều 4).
Luật Nghĩa vụ quân sự nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc-chế độ trong tình hình mới. Về mặt lý luận cũng như thực tế, thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự không làm tăng quân số tuyệt đối, không nhằm chạy đua vũ trang… mà chỉ nhằm luân chuyển nhân lực từ dân sự sang quân sự và ngược lại (đó là những đợt ra quân theo định kỳ hằng năm).
Ý kiến “phản biện” rằng: “Thời bình sao phải tuyển nhiều lính như thời chiến?”; “Sao không tập trung vào phát triển kinh tế, chống tham nhũng?”, nếu không nói là một luận điệu chính trị xấu độc thì cũng thể hiện sự hiểu biết ấu trĩ về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nói chung, của Quân đội ta nói riêng trong thời bình.
Thực tế cho thấy, ngay trong thời chiến, Quân đội ta vẫn dành một lực lượng nhất định tham gia sản xuất (phục vụ quốc phòng và dân sinh)… Hiện nay, không ít đơn vị quân đội đang làm đồng thời cả hai nhiệm vụ-kinh tế và quốc phòng, như một số đơn vị quân đội làm kinh tế, tự đáp ứng một phần nhu cầu, giảm thiểu gánh nặng ngân sách cho Nhà nước. Hoặc các bệnh viện quân đội vừa là một cơ sở y tế trong hệ thống y tế quốc gia, vừa làm nhiệm vụ sẵn sàng phục vụ cứu chữa trong thời chiến. Trong thời bình, ở những bệnh viện này, không chỉ cán bộ, chiến sĩ quân đội được chữa trị mà còn có cả những bệnh nhân dân sự… nhất là những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.
Trên lĩnh vực phòng, chống thiên tai, quân đội luôn là lực lượng nòng cốt và có không ít cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ cứu hộ-cứu nạn, giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai trên khắp mọi miền Tổ quốc.
Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các thế lực thù địch thường lợi dụng những vấn đề kinh tế-xã hội khó khăn, như ô nhiễm môi trường, những sơ hở trong quản lý kinh tế-dịch vụ công… để kích động người dân chống lại chính quyền. Hành vi “bất tuân dân sự”-là kịch bản trong đó, những phần tử cầm đầu tập hợp lực lượng, tụ tập đông người, biểu tình gây rối… từng bước đi đến bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội, chuyển hóa xã hội hiện hữu sang con đường tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào ngoại bang. Vì vậy, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng ngày càng quyết liệt. Trên mặt trận ấy, các cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam lại là một trong những lực lượng tiên phong...
Mục tiêu của cách mạng Việt Nam ngày nay là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Điều kiện và tiền đề để thực hiện mục tiêu đó là giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và ổn định xã hội. Thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự là góp phần đưa dân tộc ta đi đến mục tiêu đó.
Nguồn: www.qdnd.vn