Thứ Tư, 17 tháng 11, 2021

LẠI THÊM LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ INTERNET Ở VIỆT NAM

Gần đây trên mạng xã hội có bài viết: “Việt Nam vẫn không có tự do Internet” với những nhận định, đánh giá vô căn cứ, không có cơ sở, vu cáo “Tự do Internet ở Việt Nam tiếp tục ở trong tình trạng tồi tệ và gây thất vọng”. Sự thật không phải như vậy: Một là, Internet phát triển đã trở thành một phần cuộc sống của người dân Việt Nam. Ngày 19/11/1997 Internet chính thức được cung cấp cho người dân Việt Nam, kể từ đó độ bao phủ của Internet đã không ngừng mở rộng cả diện lẫn chất lượng, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của người dân Việt Nam. Theo báo cáo hiện nay, Việt Nam là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thế giới với 68,17 triệu người dùng (chiếm 70% dân số). Khoảng 94% người dùng Việt Nam sử dụng Internet thường xuyên với thời gian sử dụng trung bình lên tới 6 tiếng mỗi ngày. Theo báo cáo EGDI của Liên Hợp Quốc, về chỉ số phát triển chính phủ điện tử, Việt Nam có điểm số cao hơn mức trung bình của châu Á và thế giới; tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam hiện xếp thứ 6 về chỉ số phát triển chính phủ điện tử, sau Philippines, Brunei, Thái Lan, Malaysia và Singapore; về chỉ số hạ tầng viễn thông, trong năm qua, Việt Nam đã tăng 31 bậc, đứng thứ 69 thế giới. Nhờ có Internet mà người dân Việt Nam được tiếp cận các dịch vụ rất nhanh chóng và hữu ích; giúp cho việc tra cứu, tìm hiểu, học tập, truyền bá kiến thức, công nghệ thông tin được thuận tiện hơn. Internet phát triển còn góp phần quảng bá, giới thiệu hình ảnh, thiên nhiên đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè thế giới, thu hút được nhiều du khách đến thăm quan, du lịch. Qua đó, giúp cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài hiểu sâu sắc về tình hình đất nước, góp phần xây dựng và phát triển đất nước bền vững; đồng thời đấu tranh, phản bác những thông tin sai sự thật, luận điệu xuyên tạc về Việt Nam. Hai là, Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng, tạo điều kiện cho công dân được tiếp cận Internet theo quy định của pháp luật. Những năm qua Đảng, Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện để Internet phát triển, hướng tới phổ cập Internet toàn dân. Những chính sách hiện hành cũng như định hướng phát triển Internet của Việt Nam đều hướng đến tôn trọng mọi cá nhân được tiếp cận Internet, bày tỏ chính kiến trên không gian mạng, tự do ngôn luận hoàn toàn không bị hạn chế nếu chấp hành các quy định của pháp luật. Đảng, Nhà nước Việt Nam không cấm sự phát triển của mạng Internet, mà chỉ nghiêm cấm việc lợi dụng Internet để xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước, trái với bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, cản trở sự phát triển xã hội. Điều 25 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Khoản 3 Điều 4 Luật An ninh mạng 2018 xác định: “Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng”. Những thông tin tốt, ý tưởng hay được chia sẻ trên Internet được Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam khuyến khích phát triển, biểu dương, khen thưởng và tôn vinh. Ngược lại, những hành vi lợi dụng Internet để chống phá cách mạng, gây hoang mang trong nhân dân sẽ bị nghiêm trị theo đúng quy định của pháp luật. Internet đã và đang giúp người dân Việt Nam đồng hành cùng với Đảng, Nhà nước trên con đường phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trước sự phát triển ngày càng mạnh của Internet hiện nay, mỗi người cần nhận thức đầy đủ mặt tích cực và tiêu cực của Internet để góp phần làm trong sạch môi trường Internet, nhân dân càng thêm quý trọng, tin tưởng vào Đảng. Đó cũng là bằng chứng mạnh mẽ để bác bỏ luận điệu của các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc về Internet ở Việt Nam./. Nguồn: Nhanvanviet.com

“PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI - MỘT THỦ ĐOẠN KHÔNG MỚI, NHƯNG PHẢI LUÔN CẢNH GIÁC

“Phi chính trị hóa” Quân đội là chiến lược nguy hiểm mà các thế lực chống phá thực hiện, nhằm vô hiệu hóa vị trí, vai trò và sức mạnh của quân đội để bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Tuy không mới, nhưng hết sức thâm độc, cần cảnh giác và chủ động có đấu tranh phòng, chống quyết liệt hiệu quả. Sự sụp đổ của một mô hình Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ( đầu những năm 90, thế kỷ XX), là một minh chứng rõ nét nhất, một trong những nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đến sự kiện đó là các thế lực thù địch đã thành công trong việc xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội - tức “phi chính trị hóa” quân đội. Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch xác định “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục. Thực tế cho thấy, từ những năm 90, thế kỷ XX, mưu đồ chống phá Quân đội của chúng đã hiện hữu; mục đích sâu xa là làm cho Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, phân rã về tư tưởng, lỏng lẻo về tổ chức, mơ hồ về đối tượng, đối tác. Cán bộ, chiến sĩ xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, “chán Đảng, khô đoàn, xa rời chính trị”. Chúng đưa ra mô hình quân đội một số nước và viện dẫn “lý luận” để chứng minh quân đội không liên quan đến chính trị. Chúng lập luận rằng: Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; vì thế, Quân đội chỉ cần trung thành, bảo vệ lợi ích của nhân dân, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Các vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng phải được nhân dân bàn bạc công khai và quyết định, thông qua diễn đàn Quốc hội. Lợi dụng chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu lại các doanh nghiệp quân đội, chúng ra sức xuyên tạc, chia rẽ, kích động, quy chụp,... cho đó là biểu hiện tham nhũng, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi của một bộ phận cán bộ trong Quân đội. Đồng thời, lợi dụng những khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội để kích động, gây mâu thuẫn giữa lãnh đạo, chỉ huy với cán bộ, chiến sĩ, phá hoại khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Quân đội. Nguy hiểm hơn, chúng còn sử dụng in-tơ-net để tán phát những bài viết, clip, thổi phồng, xuyên tạc sự thật, khoét sâu mâu thuẫn,... nhằm kích động tư tưởng công thần, địa vị, bè phái, cục bộ địa phương, đòi hưởng thụ đãi ngộ; kêu gọi Quân đội ta từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại, trở thành quân đội “nhà nghề” như quân đội các nước tư bản, v.v. Về bản chất, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của chúng là nhằm chuyển hướng chính trị của Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản. Từ đó, làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các bước tiếp theo giống như kiểu: “Mùa xuân A-rập”, “Cách mạng Hoa hồng”, “Cách mạng Đường phố”, “Cách mạng Cam”,... mà chúng đã thành công ở hàng loạt nước trên thế giới. Bởi vậy, đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh, làm thất bại những thủ đoạn, nhất là những thủ đoạn mới của chúng vẫn là nhiệm vụ mang tính thời sự cấp bách, cần có hệ thống giải pháp phòng, chống đồng bộ, hiệu quả. Thứ nhất, bất luận trong hoàn cảnh nào, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là nguyên tắc bất biến, được rút ra từ thực tiễn lịch sử nhân loại và quá trình tổ chức, xây dựng Quân đội từ khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đến nay. Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, một nhà nước nhất định. “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản”1. Chính trị của Quân đội ta là chính trị của Đảng; mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng; hệ tư tưởng chính trị của Quân đội ta là hệ tư tưởng chính trị của Đảng, với nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bản chất của Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân; trong đó, tính nhân dân, tính dân tộc được biểu hiện hết sức sâu sắc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta đã cùng nhân dân đánh thắng những kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới, lập nên những kỳ tích vĩ đại nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại. Điều đó chứng tỏ: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”2. Trong tình hình mới, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta nói chung, Quân đội nói riêng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, quyết liệt,... đòi hỏi toàn quân phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, giữ vững ổn định chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Trong đó, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội là nhân tố quyết định giữ vững định hướng chính trị, bảo đảm cho Quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; quyết định phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; chủ động xử trí kịp thời, hiệu quả mọi tình huống, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Thứ hai, tăng cường xây dựng vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Đây là nội dung xuyên suốt từ khi ra đời, xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta đến nay. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội ta) tháng 12-1944, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự”3. Trước diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới hiện nay và sự chống phá của các thế lực thù địch, yêu cầu đặt ra đối với xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức là phải luôn nắm vững, vận dụng sáng tạo những nguyên lý xây dựng quân đội kiểu mới của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”4. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân cần đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động công tác đảng, công tác chính trị; thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”; tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc; truyền thống lịch sử của Quân đội, đơn vị; nâng cao ý chí quyết tâm bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân trong tình hình mới. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, phong trào Thi đua Quyết thắng và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Thường xuyên nắm chắc diễn biến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm chất lượng công tác phát triển đảng viên, đoàn viên; xây dựng tổ chức đảng và các tổ chức quần chúng vững mạnh, nhạy bén về chính trị, kịp thời ngăn chặn sự thẩm thấu, xâm nhập của các luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội. Thứ ba, tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam thực sự “tinh, gọn, mạnh, linh hoạt”. Cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã và đang triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp điều chỉnh tổ chức lực lượng Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh, linh hoạt”, phù hợp xu hướng phát triển quân sự trên thế giới và sự tác động của cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư hiện nay. Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, không những giỏi đấu tranh vũ trang, mà còn giỏi trong đấu tranh phi vũ trang và tác chiến trên không gian mạng,... đáp ứng yêu cầu “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; “ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc, quyết liệt quan điểm của Đảng và Quân ủy Trung ương về xây dựng Quân đội trong tình hình mới; bảo đảm quân số hợp lý, chất lượng cao, đồng bộ về tổ chức, biên chế, thành phần lực lượng. Kết hợp giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; quản lý chặt chẽ tình hình nội bộ, nhất là các tiêu chí: phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực,... khi tuyển dụng cán bộ, nhân viên, chiến sĩ vào các cơ quan, đơn vị. Thứ tư, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng môi trường văn hoá quân sự lành mạnh. Thực tiễn cho thấy, nếu điều kiện đời sống vật chất, tinh thần và môi trường văn hóa quân sự đáp ứng tốt nhu cầu chính đáng của cán bộ, chiến sĩ sẽ thường xuyên tác động đến mọi mặt hoạt động, giúp bộ đội yên tâm công tác, lạc quan, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Qua đó, tạo sự “miễn dịch”, tăng sức “đề kháng” phòng ngừa sự tác động, xâm nhập của mặt trái xã hội vào môi trường Quân đội, góp phần phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội. Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan đơn vị cần thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở, tổ chức tốt việc bảo đảm đúng, đủ, kịp thời mọi chế độ, tiêu chuẩn theo quy định về đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Tích cực xây dựng môi trường tập thể quân nhân lành mạnh, đảm bảo mỗi cơ quan, đơn vị thực sự là một điểm sáng văn hoá, nơi giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ thành con người mới, cùng chung lý tưởng cách mạng, mục tiêu phấn đấu và hiệu quả công tác. Mọi hoạt động liên quan đến quyền lợi của cán bộ, chiến sĩ phải được công khai và thực hiện nghiêm túc. Động viên bộ đội tích cực tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, giao lưu, kết nghĩa, làm công tác dân vận, quan tâm đúng mức đến gia đình quân nhân và giải quyết tốt chính sách hậu phương Quân đội. Thường xuyên nêu cao cảnh giác, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội là vấn đề trọng yếu hiện nay, quyết định đến việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của Quân đội ta, bảo đảm cho Quân đội luôn trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó là trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ, trước hết thuộc về cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân./.

LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG CỦA TRẦN TRUNG ĐẠO

Trên trang mạng Baotiengdan, vừa qua có bài viết “Đừng cười trước Chiếc bẫy dân tộc” của Trần Trung Đạo. Lợi dụng những quan điểm về vấn đề dân tộc của các nhà kinh điển, những ý kiến phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trong thời gian qua, Trần Trung Đạo đã tuyên truyền, bịa đặt, xuyên tạc sự thật nhằm chống phá, gây hoang mang, hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Với tâm địa đen tối, Trần Trung Đạo đã đưa ra nhận định hết sức phản động là; “Nhưng đừng quên, có một thời gian dài hai chữ dân tộc thiêng liêng này vắng mặt trong hầu hết các văn kiện đảng hay bút tích của các lãnh tụ CS… dân tộc chỉ là một phương tiện, một chặng đường, một chiếc ghe dẫn đến mục đích CS”. Trần Trung Đạo phải hiểu rằng, những thập niên đầu của thế kỷ XX. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, các phong trào và chính Đảng đại biểu cho các giai cấp và tầng lớp yêu nước khác nhau đã bước lên vũ đài chính trị. Một số người đã từng là vua, quan phong kiến, đến nông dân, tiểu tư sản, tri thức đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc nhưng đều thất bại vì không có đường lối cứu nước đúng đắn, phù hợp. Thực tiễn quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, ngọn cờ yêu nước đã chuyển về tay Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập đã lãnh đạo cả dân tộc làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước CHXHCN Việt Nam. Lịch sử hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã lật mặt lạ của nhiều đảng phái nhân danh yêu nước, nhưng lại đặt lợi ích của bản thân cao hơn lợi ích dân tộc, bám gót ngoại bang, phản bội Tổ quốc, chống lại nhân dân. Chỉ có ĐCSVN đứng mũi chịu sào, chấp nhận mọi hy sinh để lãnh đạo nhân dân anh dũng đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho cả dân tộc. Sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với dân tộc Việt Nam là do thực tiễn cách mạng qui định, những thành quả đạt được là của toàn thể dân tộc, chứ không phải riêng của ĐCSVN. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định “ĐCSVN- Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc ”.Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định. “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Thực tiễn hiện nay, mặc dù còn không ít khó khăn, thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc Việt Nam đều đoàn kết một lòng xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, mở rộng đối ngoại, hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo tiền đề vững chắc để phát triển bền vững trong giai đoạn mới. Điều đó đã khẳng định quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc chứ không phải như luận điệu phản động của Trần Trung Đạo. Tóm lại, những vấn đề nêu ra trong bài viết của Trần Trung Đạo đã bộc lộ dã tâm thâm độc, cố tình xuyên tạc sự thật, tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước ta với mục đích gây hoang mang, dao động về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, vạch trần và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của Y./. Nguồn: https://nhanvanviet.com

Tư tưởng của Cách Mạng Tháng 10 Nga sáng mãi

Chừng nào thế giới vẫn còn đầy rẫy bất công, chừng nào mà những người lao động vẫn còn bị bóc lột và đối xử tàn tệ, khi ấy, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn nguyên giá trị. Một cuộc thăm dò dư luận được tổ chức vào ngày 12-1-2008 của Trung tâm Phân tích Levada đã cho thấy: 57% số người dân Nga được hỏi ý kiến cho rằng: Cách Mạng Tháng Mười Nga đã đem lại lợi ích cho nhân dân Nga. 26% người được hỏi tin tưởng: cách mạng đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga, 31% cho rằng Cách mạng đem đến sự nhảy vọt cho nền kinh tế và xã hội Nga. Trong khi đó, số người cho rằng Cách Mạng Tháng Mười kìm hãm sự phát triển của nhân dân chỉ có 16%. Những người cho Cách Mạng Tháng Mười Nga là một tai họa đối với họ chỉ có 15%. Trung tâm khảo sát Levada cho thấy, nỗi nhớ về Liên Xô đạt đỉnh điểm vào năm 2000, khi 75% dân số cho biết họ rất tiếc vì nó giải thể. Trong một cuộc thăm dò dư luận tiến hành vào tháng 4-2016 do Trung tâm Levada, có đến 56% số người được hỏi cho biết họ muốn Liên Xô vẫn còn tồn tại. Trung tâm Dư luận toàn Nga (VTsIOM) cho thấy 64% người Nga cho biết sẽ bỏ phiếu cho sự bảo tồn của Liên bang Xôviết nếu một cuộc trưng cầu dân ý lại được tiến hành ở thời điểm hiện tại. Kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười Nga, ngày 6-12-2016, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký sắc lệnh chính phủ về việc tổ chức Lễ kỷ niệm 100 năm cuộc Cách mạng Nga, Bộ Văn hóa Nga có trách nhiệm tổ chức các sự kiện kỷ niệm nhân dịp này. Trên trang mạng chính thức của mình, nhân kỷ niệm 100 năm Cách Mạng Tháng Mười Nga, Đảng Cộng sản Liên bang Nga ra tuyên bố: “Các sự kiện trong tháng 10-1917 không chỉ làm rung chuyển thế giới bởi quy mô và độ hùng vĩ tuyệt vời của nó, mà còn đặt nền móng cho sự duy trì, phát triển ổn định và tiến bộ của thế giới, hướng tới chấm dứt nạn bóc lột giữa con người với con người, xây dựng một xã hội công bằng và chủ nghĩa xã hội. Bằng cách đưa ra những giải pháp cho những thách thức đáng gờm của thế kỷ 20 (thông qua hiện thân là Liên bang Xô viết), Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã chứng minh cho thế giới sức sống của chủ nghĩa xã hội (CNXH)…). Cách Mạng Tháng Mười Nga đã lật đổ quyền lực thống trị của giai cấp tư sản; giành chính quyền về tay nhân dân lao động, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ; mang lại cho nhân dân lao động cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nhân dân lao động từ người làm thuê, từ nô lệ trở thành người làm chủ vận mệnh của chính mình. Sự thành công nhanh chóng và triệt để của Cách Mạng Tháng Mười Nga chứng tỏ quy luật khách quan của sự vận động phát triển không ngừng. Đó là thế giới sẽ đi từ hình thái xã hội này sang hình thái xã hội khác tiến bộ hơn. Chứng minh một thực tế là CNXH đã hoàn toàn phủ định về nguyên tắc đối với chủ nghĩa tư bản (CNTB), chứng tỏ chân lý và sức sống vĩ đại của Chủ nghĩa Mác. Đây là lần đầu tiên những người vô sản đã vận dụng thành công lý luận của Chủ nghĩa Mác vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở một quốc gia. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử CNXH hiện thực chính thức ra đời. Lịch sử thế giới trước khi Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra đã từng diễn ra rất nhiều các cuộc cách mạng lớn. Thế nhưng cuối cùng cái mà các cuộc cách mạng ấy đem lại chỉ là cách chuyển từ hình thức bóc lột này sang hình thức bóc lột khác. Cách mạng Tháng Mười Nga khác về bản chất hoàn toàn so với các cuộc cách mạng trước đó bởi nó xóa bỏ và thủ tiêu tất cả mọi hình thức bóc lột. Nhân loại sẽ không bao giờ quên ơn đối với Cách mạng Tháng Mười Nga. Chính Cách mạng Tháng Mười Nga đã làm biến chuyển cục diện thế giới, làm cho chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) phải điều chỉnh và thay đổi. Những ai đã đọc “Túp lều Bác Tôm” hẳn không thể nào cầm nổi nước mắt trước số phận của những người nô lệ dưới CNĐQ. Từ khi CNTB ra đời và phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, nhân loại đã phải gánh chịu vô vàn đau thương, tang tóc mà nó gây ra. Trong bối cảnh ấy, những con người nhưng không được quyền làm người, bị đối xử như súc vật, bị mua đi bán lại, sống một cuộc đời cùng khổ tối tăm trước sự bóc lột tàn bạo, dã man của CNĐQ. CNĐQ cũng chính là kẻ đầu sỏ đã gây ra bao cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa, tranh giành thị trường, gây ra cái chết của hàng trăm triệu người. Đi theo con đường của Lênin vĩ đại, những người Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc; xây dựng đất nước trong hòa bình và đã thu được những thành quả to lớn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. 30 năm đổi mới, Việt Nam đã ra khỏi các nước kém phát triển với thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 2.186 USD. Quy mô kinh tế đứng thứ 48 trên thế giới. Công cuộc xóa đói giảm nghèo thu được thành tựu to lớn từ trên 50% xuống còn gần 5% hiện nay; trình độ dân trí của người dân không ngừng được nâng cao; các mặt xã hội và chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng tiến bộ. Uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Trong tác phẩm xuất bản gần đây với tựa đề Tại sao Mác đúng, T.Eagleton - giáo sư Đại học Tổng hợp Lancaste ở Anh đã chứng minh sự phê phán của Mác đối với CNTB vẫn còn nguyên giá trị, mặc dù CNTB có thay đổi nhất định. Những hiện tượng của CNTB hiện đại như tư bản thương mại, tư bản độc quyền, “toàn cầu hóa”... đã được Mác nhìn thấy trước trong các phê phán của mình. Trong tác phẩm này T.Eagleton cũng đồng thời vạch rõ, CNTB dù có lúc đạt được hiệu quả nhưng nó đã làm được điều đó bằng cái giá kinh hoàng của nhân loại. Đó là sự mất tự do được ngụy tạo bằng tự do, là bất công trong tình cảnh phân biệt giàu nghèo gia tăng, là nạn diệt chủng và phân biệt chủng tộc, là cưỡng bức, tước đoạt, áp đặt, tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá, “là vô trách nhiệm với sự tồn vong của nhân loại. Tức là con đường TBCN đang đi cũng là đang đe dọa phá hủy toàn bộ hành tinh này”. Chừng nào thế giới vẫn còn đầy rẫy bất công, chừng nào mà những người lao động vẫn còn bị bóc lột và đối xử tàn tệ, khi ấy, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn nguyên giá trị. Thế giới sẽ tiếp tục đổi thay, nhưng lý tưởng cao đẹp mà Cách mạng Tháng Mười Nga vạch ra hơn 100 năm trước vẫn là khát vọng, là ước mơ cháy bỏng của loài người, vẫn sống mãi. K5. Nguồn SGGPO

ĐỔI TÊN BAN CHỈ ĐẠO VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG LÀ PHÙ HỢP

Gần đây trên trang Baotiengdan có đăng tải bài viết: “Đổi tên để làm gì” của Nguyễn Đình Cống đã bình luận và đưa ra cái nhìn phiến diện, tiêu cực về việc đổi tên cũng như công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam. Bằng những lời lẽ lươn lẹo y cho rằng đổi tên chỉ là “vẽ rắn thêm chân”, “bảo vệ những thứ đã lỗi thời”, “duy trì chế độ độc quyền toàn trị”… Đây là những lời lẽ thiếu khách quan, phiến diện về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Việt Nam. Bởi vì: 1. Việc thống nhất tên gọi “Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” thay cho tên cũ “Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng” để bao quát được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo Về đối tượng phòng, chống tiêu cực, Ban Chỉ đạo Trung ương xác định là cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, để đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm trong chỉ đạo phòng, chống tiêu cực. Về phạm vi của Ban Chỉ đạo là chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; phòng, chống tiêu cực. Trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong phạm vi cả nước. Ban Chỉ đạo trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; các vụ án, vụ việc và hành vi tiêu cực khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Việc đổi tên Ban Chỉ đạo lần này để mở rộng thêm phạm vi, quyền hạn chính là bước tiến mới mạnh mẽ hơn trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn từ gốc những biểu hiện tiêu cực để ngăn ngừa từ xa các hành vi tham nhũng. Cho nên những lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt của Nguyễn Đình Cống là vô căn cứ và không thể chấp nhận được. 2. Công tác phòng, chống tham nhũng phải gắn liền với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều là những biểu hiện tiêu cực. Tham nhũng nói riêng và tiêu cực nói chung, đều làm mất đi sự trong sạch của bộ máy Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Thực tế, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đã được lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện quyết liệt, có chuyển biến rõ nét. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn diễn biến phức tạp. Những hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân cơ bản là do thiếu tính tập trung; chưa gắn kết chặt chẽ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Do vậy, công tác phòng, chống tham nhũng phải gắn liền, đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là phù hợp với đặc điểm, yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Cần thấy rằng, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, “không ngừng”, “không nghỉ” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực, kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa không để xảy ra, vừa phải luôn cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta như kiểu Nguyễn Đình Cống./. Nguồn: https://nhanvanviet.com

KỶ NIỆM 104 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA (7/11/1917 – 7/11/2021): TẦM VÓC, GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, chúng ta chiêm nghiệm và ý thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tầm vóc, giá trị, ý nghĩa và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga trong thế giới đương đại cũng như trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đúng như V.I.Lênin đã khẳng định: “Cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta, thì ý nghĩa của cuộc cách mạng vô sản ở Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn công tác của chúng ta”, thấy rõ hơn tầm vóc, giá trị và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa bị áp bức trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới: Hòa bình, độc lập, ấm no, tự do, hạnh phúc. Cách mạng Tháng Mười Nga đã đi vào lịch sử nhân loại như là một sự kiện vĩ đại, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu sắc, làm rung chuyển cả thế giới. Kết quả của cuộc cách mạng ấy là hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa được xác lập với giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội (CNXH). Nhấn mạnh điều này, Bác Hồ viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Nó đã chứng minh chân lý: Loài người từ bỏ chủ nghĩa tư bản tiến lên CNXH là một tất yếu khách quan, một thực tế lịch sử không thể đảo ngược. Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài người. Độc lập dân tộc và CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của chúng ta. Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng xã hội duy nhất trong lịch sử thực hiện được mục tiêu: Giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và tiến tới giải phóng toàn nhân loại. Nhờ đó, con người được sống với đúng nghĩa là CON NGƯỜI, phẩm giá, lương tri, danh dự, công bằng và lẽ phải được tôn trọng; hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc đã được tìm thấy giá trị đích thực; tài năng sáng tạo của con người được thừa nhận và phát huy. Vì thế, chỉ trong vòng vài thập kỷ xây dựng CNXH, Liên Xô đã trở thành thành trì vững chắc của phong trào cách mạng thế giới, lực lượng chủ yếu cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa của chủ nghĩa phát xít, tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ vô điều kiện để nhiều nước tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên CNXH. Cách mạng Việt Nam, cách mạng Trung Quốc... là những minh chứng sinh động, đầy sức thuyết phục về sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga. Đồng thời, là xung lực cách mạng mạnh mẽ, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc, cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển. Nhờ đó, giai cấp công nhân vững tin bước lên vũ đài chính trị với tư cách là giai cấp trung tâm của thời đại, “hạt nhân” của phong trào cách mạng thế giới, đưa thời kỳ “bão táp cách mạng” từ châu Âu lan tỏa nhanh và mạnh sang châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latin, làm cho giai cấp thống trị run sợ, buộc phải lùi bước, xuống thang và thay đổi chính sách có lợi cho giai cấp công nhân quốc tế. Sự sụp đổ của hệ thống thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có sự thất bại của thực dân Pháp ở Việt Nam và một số nước khác là hệ quả tất yếu và trực tiếp của Cách mạng Tháng Mười Nga. Tất nhiên, phát triển không phải là đường thẳng mà diễn ra quanh co, phức tạp, theo hình xoáy ốc. Sự ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 đã nói lên điều đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, lịch sử bị ngưng đọng, thụt lùi. Nó vẫn tiếp tục vận động, phát triển theo quy luật khách quan. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”. Tinh thần, sức sống của Cách mạng Tháng Mười Nga là bất diệt! Cách mạng Tháng Mười Nga mãi mãi là một tấm gương sáng ngời tinh thần đấu tranh cách mạng, vì hòa bình và bảo vệ thành quả cách mạng khi người dân biết tự bảo vệ mình. Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Con đường xóa bỏ mọi sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bóc lột người là làm theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Đi theo con đường mà Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga vạch ra, cách mạng Việt Nam do Đảng ta và Bác Hồ lãnh đạo đã liên tiếp giành được nhiều thắng lợi to lớn. Trong đó, có nhiều chiến công chói lọi, mang ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra cho dân tộc Việt Nam một kỷ nguyên mới-kỷ nguyên độc lập dân tộc, dân chủ, CNXH, giải phóng đất nước thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, làm cho hàng triệu người dân Việt Nam được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ ngơi, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Không thể vì sự sụp đổ của CNXH theo mô hình Xô viết ở Liên Xô, Đông Âu mà đã vội quy kết đó là sự phá sản, sự sụp đổ của CNXH khoa học, sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga. Đối với nhân loại, học thuyết Mác-Lênin chỉ có một và Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chỉ có một, song con đường hiện thực hóa lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga vạch ra hoàn toàn không phải chỉ có một. Vì vậy, sự sụp đổ của CNXH theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự không thành công của một mô hình thực thi CNXH khoa học và lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga ở các nước ấy. Không nên do dự và không bao giờ đúng khi cho rằng CNXH ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ là “sự cáo chung” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, là sự phá sản của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga. Điều đó luôn nhắc nhở chúng ta: Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản cũng đều phải tỉnh táo, sáng suốt và thực hiện đúng những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga. Kế thừa và tiếp tục giương cao ngọn cờ của Cách mạng Tháng Mười Nga, của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là trách nhiệm của chúng ta; là hành trang vô cùng quý báu để chúng ta vững tin giành những thành tựu mới trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào thế giới, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Nguồn bản quyền video: VTV1HD, https://www.youtube.com/watch?v=ucX8efF8Vpw&t=30s

Một đánh giá phiến diện về tự do trên mạng của FH về Việt Nam

Ngày 21/9, trong báo cáo hằng năm có tên “Tự do trên mạng 2021: Nỗ lực toàn cầu nhằm kiểm soát các đại công ty công nghệ”, tổ chức Freedom House (FH) đã đưa ra các cáo buộc sai sự thật về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Trong báo cáo này, FH “chấm điểm” Việt Nam ở mức 19/100 điểm, thuộc nhóm các quốc gia “không có tự do Internet”(?). Tỷ lệ người sử dụng internet ở Việt Nam rất cao Tại buổi họp báo thường kỳ tổ chức theo hình thức trực tuyến vào ngày 23/9, liên quan tới câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc ngày 21/9, Tổ chức Freedom House ra báo cáo tiếp tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có tự do trên Internet, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Đây không phải là lần đầu tiên tổ chức này đưa ra những đánh giá thiếu khách quan, định kiến dựa trên những thông tin sai sự thật về Việt Nam. Thực tế, những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ. Do đó, báo cáo của Freedom House là vô giá trị và tôi thấy không cần thiết phải bình luận thêm”. Chúng ta đều biết ngày 19/11/1997, Việt Nam mới chính thức kết nối internet toàn cầu. Như vậy, có nghĩa là Việt Nam kết nối với internet toàn cầu chậm hơn nhiều so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, số người sử dụng internet ở Việt Nam đã không ngừng tăng cao. Nếu ở giai đoạn đầu mới chỉ có khoảng trên 200 nghìn người sử dụng thì năm 2012, số người sử dụng internet lên tới 31 triệu người, năm 2017, con số này là hơn 50 triệu, chiếm 54% dân số, cao hơn mức trung bình 46,64% của thế giới khi ấy. Và nay, con số người sử dụng internet ở Việt Nam đã lên tới 68 triệu người, chiếm khoảng 70% dân số. Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực Châu Á. Nếu thật sự ở Việt Nam “không có tự do internet”, người dân “gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội” như bảng “chấm điểm” kia của FH thì phải giải thích ra sao về con số này? Tự do internet không phải muốn làm gì thì làm Internet là mạng xã hội ảo, song những tác hại mà nó gây ra là thật, vì vậy, các nước đều có những quy định để quản lý internet. Không phải chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đều ban hành các quy định để quản lý mạng xã hội phù hợp hướng tới môi trường internet an toàn lành mạnh, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng. Ủy ban Châu Âu (EC) yêu cầu Facebook, Google, Twitter phải điều chỉnh các điều khoản sử dụng dịch vụ, truy quét thông tin xấu, gồm cả tin xuyên tạc, sai sự thật, nếu không sẽ phải chịu chế tài xử lý nghiêm khắc. Chính phủ Mỹ đã ban hành 3 đạo luật an ninh mạng chính là: Đạo Luật về Quyền riêng tư trong lĩnh vực Y tế (HIPPA) năm 1996, Đạo Luật Gramm-Leach-Bliley trong lĩnh vực Tài chính năm 1999 và Đạo Luật An ninh nội địa năm 2021. Tòa án Tối cao Mỹ đã thông qua sửa đổi Điều 41 Bộ luật Hình sự, cho phép Cục Điều tra Liên bang (FBI) được quyền truy cập vào máy tính của bất kỳ ai, ở bất kỳ đâu và vào bất kỳ lúc nào nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm an toàn thông tin mạng internet. Trung Quốc ban hành nhiều văn bản về quản lý internet, trong đó có: Pháp lệnh Bảo vệ an ninh của các hệ thống thông tin (tháng 2/1994); Chỉ thị số 292 (tháng 9/2000) quy định về giới hạn đối với các nhà cung cấp nội dung trên internet; Chính sách quản lý mạng trực tuyến (tháng 12/2012)… Đối với tổ chức, cá nhân, Luật An ninh mạng năm 2016 của Trung Quốc quy định bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khi đăng tải các thông tin điện tử, cung cấp phần mềm ứng dụng cũng không được phép cài đặt chương trình độc hại hay có chứa các nội dung bị cấm đăng, phát tán theo quy định của pháp luật. Đức đã có quy định về Luật An ninh mạng từ rất sớm. Tháng 7/2015, Quốc hội Đức đã thông qua Luật An ninh mạng nhằm bảo vệ tốt hơn cho công dân và các doanh nghiệp trong kỷ nguyên số. Luật An ninh mạng của Đức yêu cầu các công ty và cơ quan liên bang phải có tiêu chuẩn bảo mật mạng tối thiểu và phải được Văn phòng Bảo mật Thông tin Liên bang (BSI) chứng nhận. Trong luật mới có những điều, khoản cụ thể đối với người sử dụng mạng internet như cấm âm mưu sử dụng bạo lực lật đổ an ninh quốc gia, cấm xúi giục hành vi phạm tội... Luật An ninh mạng của Singapore ban hành năm 2017 cho phép Cơ quan An ninh mạng nước này theo dõi và quản lý an toàn không gian mạng của quốc gia. Cơ quan An ninh mạng được phép thực hiện các biện pháp chủ động để bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng và nhanh chóng ứng phó với các mối đe dọa và sự cố… Thời gian qua ở Việt Nam, rất nhiều người đã sử dụng internet để đưa những thông tin kích động bạo lực, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, vu khống người khác, đưa các thông tin dâm ô, đồi truỵ, cổ suý bạo lực, gây chia rẽ vùng miền, dân tộc… Đó là những hành vi vô cùng nguy hiểm nếu các cơ quan có trách nhiệm không có những biện pháp mạnh để quản lý nhằm lập lại trật tự này. Một điều không thể phủ nhận là internet đã chi phối hầu như rất nhiều hoạt động của con người, của xã hội, vì vậy, một trong những yêu cầu bắt buộc là dù trên không gian mạng, trên môi trường ảo thì tất cả đều phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật. Thực tiễn không thể phủ nhận Trước đây, để phụ họa cho bảng “chấm điểm” một lần nọ của FH, trên trang của BBC có bài viết với tiêu đề: “Dân Việt dùng mạng xã hội nhiều, nhưng Việt Nam đứng chót bảng Tự do Internet”. Theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, các hành vi bị nghiêm cấm trên internet đều là các hành vi vi phạm và gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia, gây bất ổn về mặt xã hội. Chẳng hạn, cấm đưa các thông tin xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc, các thông tin sai sự thật, các thông tin ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, xúi, lôi kéo người khác phạm tội, những thông tin về mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người, dâm ô, đồi trụy, tội ác… Thử hỏi có đất nước nào - dù chưa có quy định - cổ suý cho việc đăng những thông tin dạng này? Cũng cần khẳng định lại rằng, ở Việt Nam không hề có chuyện cấm sử dụng internet, không cấm mạng xã hội: Facebook, Youtube, Google, Zalo... Cũng vậy, không có quy định nào cấm phát ngôn trên mạng, nhưng người phát ngôn phải chịu trách nhiệm về thông tin của mình. Thời gian qua, đã có rất nhiều người có các hành vi vu khống, thoá mạ, bôi nhọ người khác trên internet bị xử phạt. Cùng với đó đã có rất nhiều người bị mất an ninh trên mạng đã được bảo vệ. Nếu “rảo” một vòng trên internet chúng ta sẽ không khó để bắt gặp rất nhiều các trang facebook của những người nổi tiếng viết những bài phản biện, góp ý “nảy lửa”, thế nhưng hầu như họ cũng không bị hạn chế hay gây khó dễ nếu không vi phạm các điều khoản của nhà quản lý mạng. Có lẽ, ngoài việc “không cần thiết phải bình luận thêm” như phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam thì ý kiến ông Yerlan Baizhanov - Ðại sứ Kazakhstan tại Việt Nam là ý kiến xác đáng. Ông Yerlan Baizhanov đã bình luận: “Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như FH…”./. Nguồn: https://hcmcpv.org.vn

Chân lý và giá trị lịch sử của Cách mạng tháng Mười Nga

104 năm trước, nhân dân lao động Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã làm nên cuộc cách mạng rung chuyển thế giới: Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại. Cách mạng tháng Mười Nga đã lật đổ quyền lực thống trị của giai cấp tư sản; giành chính quyền về tay nhân dân lao động; xóa bỏ chế độ người bóc lột người; xây dựng xã hội công bằng, dân chủ; mang lại cho nhân dân lao động cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nhân dân lao động từ người làm thuê, từ nô lệ trở thành người làm chủ vận mệnh của chính mình. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Nhà nước liên bang Xô-viết, cách mạng thế giới đã có chỗ dựa, thành trì vững chắc. Đối với nhân dân Việt Nam, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng tháng Mười Nga, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ở đây “Cẩm nang thần kỳ” là con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam... Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực phản động quốc tế tìm mọi cách “hạ bệ” nhằm xóa bỏ những thành quả vĩ đại mà cách mạng chủ nghĩa xã hội tháng Mười Nga đem lại và gán cho nó rất nhiều “tội lỗi”. Trên quê hương của Cách mạng tháng Mười, ngày kỷ niệm trọng đại này bị đổi thành “Ngày hòa hợp dân tộc”. Thế nhưng, tất cả những mưu đồ đen tối ấy đã không xóa được tình cảm mà những người có lương tri và yêu chuộng hòa bình; của nhân dân lao động trên toàn thế giới dành cho cách mạng tháng Mười Nga. 20 năm sau ngày Liên Xô sụp đổ, giới chính khách và học giả trên thế giới ngày càng có những nhìn nhận, đánh giá trung thực hơn giá trị chân lý và lịch sử của Cách mạng chủ nghĩa xã hội tháng Mười Nga vĩ đại. Ông Putin Tổng thống Nga đã phát biểu: “Những ai muốn phủ nhận hoàn toàn những thành quả của chế độ Xô-viết, người ấy không có trái tim”. Ngày 11-4-2009, Tổng thống Nga Medvedev đã ký đạo luật liên bang khôi phục ngày kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga. Theo đó, kể từ năm 2010, Ngày kỷ niệm Cách mạng chủ nghĩa xã hội tháng Mười trên quê hương của cách mạng tháng Mười sẽ được kỷ niệm như những thập kỷ trước đây. A. Dinoviep, một người từng chống đối Nhà nước Xô-viết và sau đó bị ngồi tù dưới thời Liên Xô, sống lưu vong tại Mỹ cho rằng: “Những thành tựu của chủ nghĩa Cộng sản Xô-viết do Lênin mở đầu đã thấm vào máu thịt của loài người.... Nhờ có cuộc cách mạng vô sản và tất cả những gì gắn liền với cuộc cách mạng đó mà nhân loại đã được cứu thoát khỏi sự thụt lùi đáng sợ nhất, thoát khỏi sự suy tàn, thoái hóa”.Sergei Mironov, khi là Chủ tịch Hội đồng liên bang (Thượng viện) Nga trong một bài viết đã kêu gọi hãy trân trọng lịch sử, trân trọng giá trị vĩnh hằng của Cách mạng tháng Mười Nga bằng những dòng đầy cảm động:“Hãy để chiến hạm Rạng Đông tiếp tục neo đậu trên sông Neva, hãy để những ngôi sao đỏ vẫn sáng trên những ngọn tháp điện Kremli và hãy để biểu tượng búa liềm còn mãi trên lá cờ chiến thắng, đúng như lịch sử.... Tư tưởng xã hội chủ nghĩa không có lỗi. “Hòa bình cho các dân tộc”, “Ruộng đất cho nông dân”, “Bánh mì cho người đói”, “Tự do cho người nô lệ”... có thể nói tự thân những khẩu hiệu phản ảnh nhu cầu của đại đa số quần chúng này lại không đúng hay thiếu đạo lý?”. Lý tưởng mà cách mạng tháng Mười Nga vạch ra về một xã hội không có tình trạng người bóc lột người, quyền tự do của mỗi con người được tôn trọng, đảm bảo công bằng, dân chủ, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân lao động… vẫn mãi mãi là ước mơ cháy bỏng của loài người. Nguồn: http://www.baodongnai.com.vn/

Phản bác xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng

Gần đây, khi Đảng Cộng sản Việt Nam và người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh công cuộc chỉnh đốn Đảng, trong đó có việc xử lý kỷ luật hàng loạt cán bộ, trong đó có những cán bộ giữ chức vụ cao, các thế lực thù địch lại đăng các bài viết, bài nói xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng. Họ cho rằng thực chất công tác cán bộ của Đảng là sai lầm nên mới sinh ra nhiều cán bộ hư hỏng như vậy (!?)… Những luận điệu xuyên tạc Các luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ cho rằng thực chất đội ngũ cán bộ hiện nay sai phạm nhiều là do sai lầm của Đảng trong lựa chọn cán bộ. Họ cho rằng việc lựa chọn cán bộ của Đảng chủ yếu là theo “cánh hẩu”, phe nhóm, con ông cháu cha mà đưa lên chứ không phải vì tài năng hay đạo đức. Các quan điểm sai trái, xuyên tạc ấy cho rằng để khắc phục tình trạng sai lầm này thì Đảng Cộng sản Việt Nam hãy để cho mọi người tranh cử công khai và không cần Đảng phải thực hiện công tác cán bộ… Khi Đảng xử lý hàng loạt các cán bộ sai phạm, các luận điệu xuyên tạc lại rêu rao cho rằng đó chỉ là “phe cánh triệt hạ lẫn nhau”, là “thanh trừng phe phái”, là “loại người của bên thua cuộc” để đưa những người của “bên thắng cuộc” lên... Họ cũng trắng trợn xuyên tạc cho rằng thực chất Đảng dung dưỡng cho cán bộ tham nhũng để chính những người ấy sẽ bảo vệ sự tồn tại cho chế độ. Đặc biệt, trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua, khi một bộ phận người dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh và chịu nhiều mất mát, vất vả, khó khăn, chúng liền vin vào cớ này để xuyên tạc và cho rằng thực chất cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở vô tài, bất đức, chỉ lo cho bản thân mình, phe nhóm mình mà không quan tâm đến người dân, để “sống chết mặc dân”… Trước những bất cập, nhất là yếu kém của một số cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở trong phòng, chống dịch Covid-19, họ tung ra những bài viết, bài nói để khoét sâu vào những bức xúc của người dân để quy chụp, đánh giá phiến diện một chiều khi cho rằng tất cả những yếu kém, hạn chế ấy là do cán bộ và nguyên nhân của các yếu kém đó là do công tác cán bộ của Đảng sai lầm với mục đích cuối cùng là đổ tất cả các hạn chế, bất cập ấy là do… Đảng (?!). Những kết quả không thể phủ nhận Một sự thật là công tác cán bộ của Đảng trong những năm qua đã thu được nhiều kết quả rõ nét, một trong những kết quả rõ nét nhất chính là việc Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, ngày càng trưởng thành, lớn mạnh. Đại dịch Covid-19 lần thứ 4 đã bộc lộ cả những điểm tốt và chưa tốt của đội ngũ cán bộ, trong đó rõ ràng những điểm tốt vẫn là chủ đạo. Chúng ta vẫn thấy báo chí đưa tin về người cán bộ chỗ này hiểu chưa đúng về các quy định phòng chống dịch, chỗ kia hiểu chưa đúng về mặt hàng thiết yếu, cũng có người trục lợi trong dịch bệnh… Thế nhưng, tất cả những câu chuyện buồn ấy chỉ đủ đếm trên bàn tay, cao hơn hết thảy vẫn là tinh thần, trách nhiệm của đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là lực lượng tuyến đầu, các lực lượng cơ sở, dân phòng, quân đội, công an… Công tác cán bộ của Đảng, nhất là từ sau Đại hội XII của Đảng đã có nhiều đổi mới. Đảng đã ban hành rất nhiều các chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đã gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ được giao, được thực hiện liên tục, xuyên suốt, nhiều chiều, theo những tiêu chí và bằng các sản phẩm cụ thể. Đặc biệt, công tác kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức chạy quyền lần đầu tiên đã đưa ra được các tiêu chí cụ thể trong Quy định 205-QĐ/TW. Công tác nhân sự được chỉ đạo chặt chẽ, kỹ lưỡng bài bản. Từ Quy định 105-QĐ/TW của Đảng, các cấp ủy đã cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm tình hình từng địa phương, đơn vị song vẫn đảm bảo quy trình chặt chẽ theo 5 bước, đảm bảo khách quan, công tâm, công khai, minh bạch. Công tác tạo nguồn cán bộ đã được thực hiện từ rất sớm và theo những lộ trình bài bản, khả thi. Ở TP Hồ Chí Minh, ngay từ rất sớm đã có chương trình tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị từ sinh viên các khá giỏi ở các trường đại học, các chương trình đào tạo thạc sĩ ở nước ngoài… Rất nhiều sinh viên giỏi là con em của các gia đình nghèo từ nông thôn vào Thành phố học tập, nhờ học giỏi, phấn đấu tốt đã được lựa chọn, đào tạo và trưởng thành. Từ các chương trình này đã bổ sung một lực lượng lớn cho đội ngũ cán bộ và hiện nay có nhiều người đang đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị ở Thành phố. Đánh giá về những thành tựu trong công tác cán bộ, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới (…) từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền…”. Rõ ràng những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai phạm của một số tập thể, cá nhân chỉ là cá biệt và không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng./. Nguồn: https://hcmcpv.org.vn

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VỀ LỰC LƯỢNG 47

 

Thời gian gần đây, trên các trang mạng xã hội đã đăng tải một số bài viết xuyên tạc, bôi nhọ về “Lực lượng 47” trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Điển hình, trên trang mạng thongluan-rdp, Phạm Trần đã đăng tải bài viết “Đảng cộng sản Việt Nam điên đầu vì không gian mạng”, nội dung cơ bản trong bài viết của y là sự trích dẫn các nội dung trên một số tờ báo, báo cáo, đánh giá của các cơ quan chức năng, các đơn vị quân đội ta về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; hạn chế của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong nhận thức về tình hình nhiệm vụ của đơn vị và đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”…, từ đó Phạm Trần cho rằng: “Thông tin chống đảng trên không gian mạng đang làm điên đầu Lãnh đạo Việt Nam”… đồng thời khẳng đinh: “khối trên 10.000 quân nhân của Lực lượng 47 của Tổng cục Chính trị Quân đội chuyên nghề phản biện, chống lại các quan điểm sai trái trên mạng internet tại Việt Nam đã thất bại”.