
Trên trang Vietnamthoibao, Phạm Tiêu Dao có đăng bài viết với luận điệu cho rằng: “các chính sách của Việt Nam gần như không được xây dựng trên nền tảng phúc lợi xã hội, mà chủ yếu bị chi phối bởi động lực hành chính và nhu cầu phô diễn kết quả hữu hình”. Đó là sự quy kết phiến diện, thiếu cơ sở thực tiễn và cố tình phủ nhận bản chất nhân văn trong đường lối phát triển của Việt Nam; là thủ đoạn xuyên tạc nhằm tách rời mục tiêu tăng trưởng kinh tế khỏi tiến bộ và công bằng xã hội – nguyên tắc nhất quán đã được xác lập xuyên suốt trong chiến lược phát triển của Nhà nước Việt Nam. Luận điệu sai trái này cần được đấu tranh bác bỏ như sau:
Thứ nhất, nếu chính sách chỉ nhằm “thể hiện thành tích”, Việt Nam khó có thể duy trì được hệ thống an sinh xã hội với độ bao phủ ngày càng sâu rộng trong bối cảnh còn là nước đang phát triển, nguồn lực chưa thật dồi dào. Thực tế cho thấy, hàng loạt chính sách trọng điểm của Việt Nam đều hướng trực tiếp đến nâng cao chất lượng sống của người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế. Điển hình là chính sách bảo hiểm y tế toàn dân. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2% dân số – mức cao nhất từ trước tới nay, vượt mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đề ra. Đây không phải là “con số trang trí”, mà phản ánh khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của hàng chục triệu người dân, trong đó nhiều nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ hoặc chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh như hộ nghèo, cận nghèo, người có công, đồng bào vùng khó khăn.
Thứ hai, nếu chỉ chạy theo “kết quả hữu hình”, Việt Nam sẽ không lựa chọn cách tiếp cận giảm nghèo đa chiều – một phương pháp phức tạp, đòi hỏi đầu tư dài hạn vào giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin cơ bản. Theo số liệu thống kê quốc gia, tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước tiếp tục giảm mạnh; cuối năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn khoảng 1,30%, tổng nghèo đa chiều còn 2,95%. Đáng chú ý hơn, các chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản của trẻ em đều cải thiện rõ rệt trong hơn hai thập kỷ qua: Tỷ lệ trẻ em thiếu hụt giáo dục giảm từ 19,4% năm 2002 xuống còn 4,5% năm 2025; thiếu nước hợp vệ sinh giảm từ 26,7% xuống 2,1%. Những kết quả này không thể đạt được bằng các biện pháp hành chính hình thức, mà là sản phẩm của chiến lược phát triển lấy con người làm trung tâm.
Thứ ba, đánh đồng những hạn chế cá biệt trong quản lý với bản chất của cả hệ thống chính sách là cách nhìn phiến diện của Phạm Tiêu Dao. Đúng là trên thực tế vẫn tồn tại bất cập ở một số cơ sở y tế, địa phương hay khâu thực thi. Nhưng trong bất kỳ quốc gia nào, sự tồn tại của hạn chế không đồng nghĩa phủ nhận toàn bộ định hướng chính sách. Điều quan trọng là Nhà nước Việt Nam không né tránh vấn đề, mà liên tục điều chỉnh luật pháp, mở rộng đối tượng thụ hưởng và nâng mức hỗ trợ an sinh. Việc sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế năm 2024 theo hướng tăng quyền lợi cho người dân là minh chứng rõ ràng cho quá trình hoàn thiện chính sách theo hướng công bằng và bao trùm hơn. Bản chất của mô hình phát triển Việt Nam không phải hy sinh công bằng xã hội để đổi lấy tăng trưởng thuần túy. Ngược lại, Việt Nam theo đuổi mô hình phát triển hài hòa, trong đó tăng trưởng kinh tế tạo nguồn lực cho phúc lợi xã hội, còn tiến bộ xã hội trở thành động lực ổn định chính trị và phát triển bền vững. Chính vì vậy, ngay cả trong giai đoạn khó khăn hậu đại dịch hay biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn ưu tiên duy trì ngân sách cho y tế, giáo dục, giảm nghèo và hỗ trợ người lao động.
Tóm lại, những luận điệu phủ nhận nền tảng phúc lợi trong chính sách Việt Nam của Phạm Tiêu Dao và đồng bọn thực chất là sự bóp méo có chủ đích, cố tình bỏ qua những thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Thực tiễn phát triển của Việt Nam cho thấy: Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam không tách rời tiến bộ và công bằng xã hội và luôn hướng tới mục tiêu cao nhất là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét