Thứ Năm, 28 tháng 2, 2019

Thành tựu nhân quyền của Việt Nam là to lớn, vững chắc - không ai có thể phủ nhận được

Ngày 22-1-2019, tại trụ sở Liên hợp Quốc (Geneva, Thụy Sĩ), Đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung dẫn đầu đã tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ Phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp Quốc. Cùng đi và tham dự phiên đối thoại có các cơ quan: Đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an, Ủy ban Dân tộc, Ban Tôn giáo Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao. Tại buổi đối thoại này, có 122 đại diện các quốc gia tham gia. Trước đó, đầu tháng 12 năm 2018, Việt Nam đã chính thức nộp Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III cho Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.
Báo cáo phổ quát là cơ chế rà soát định kỳ (còn được gọi là Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR), do Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc quy định từ năm 2008. Đây là cơ chế rà soát định kỳ, 4-5 năm một lần về tình hình bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại tất cả các nước thành viên Liên hợp Quốc trên tinh thần bình đẳng, đối thoại xây dựng. Việt Nam đã tham gia các chu kỳ UPR và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các khuyến nghị từ các buổi báo cáo trước đó. Báo cáo phổ quát định kỳ lần này của Việt Nam là lần thứ Ba (lần thứ Nhất, 2009; lần thứ Hai, 2014) thể hiện rõ quan điểm về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.
Trong Báo cáo lần thứ Ba, trước hết, Việt Nam làm rõ việc thực hiện các khuyến nghị, từ báo cáo lần thứ Hai. Tính đến tháng 10-2018, Việt Nam đã thực hiện được 175 trong số 182 khuyến nghị (chiếm 96,2%); 7 khuyến nghị còn lại đang được xem xét thực hiện vào thời điểm phù hợp.
Báo cáo UPR của Việt Nam lần này đã trình bày khá đầy đủ về thành tựu của Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền con người. Khác với Báo cáo lần thứ 2, những nội dung của Báo cáo được đặt trong bối cảnh cuộc Cách mạng khoa học Công nghệ lần thứ Tư - Cuộc cách mạng dựa trên internet, mạng điện tử nói chung, mạng xã hội nói riêng; đồng thời, Báo cáo cũng được xây dựng dựa trên quan điểm Đại hội Đảng XII của Đảng cộng sản Việt Nam và Hiến pháp 2013 cùng nhiều bộ luật liên quan đến quyền con người.
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng ta xác định: “Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết…; Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân…”. Kế thừa thành tựu đã đạt được trong nhiều năm qua, thực hiện quan điểm của Đại hội XII, Nhà nước ta đã đạt được những thành quả to lớn về quyền con người.
Trên lĩnh vực bảo đảm quyền dân sự, chính trị, trước hết, đó là những thành tựu về xây dựng pháp luật. Tính đến cuối năm 2018, Quốc hội ta đã sửa đổi và ban hành mới hơn 90 văn bản luật, trong đó có những bộ luật như: Luật Báo chí, 2016 (có hiệu lực từ 01-01-2017); Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, 2016 (có hiệu lực từ 01-01-2018); Luật Tiếp cận thông tin, 2016 (có hiệu lực từ 01-7-2018); Nghị định 72/2013 về “Quản lý sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng” (có hiệu lực từ 01-9-2013); Luật An ninh mạng, 2018 (có hiệu lực từ 01-01-2019), v.v. Tất cả những bộ luật và Nghị định nói trên đều tuân thủ nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, theo đúng Hiến pháp 2013. Trong đó, có 2 nguyên tắc cơ bản sau: (1) “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, … (Điều 3); (2) “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”( Điều 4).
Đáng chú ý, trong nội dung sửa đổi và trong những bộ luật mới đã thể hiện những nhận thức, quan điểm mới của Nhà nước ta trên lĩnh vực quyền con người. Chẳng hạn, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) không chỉ đơn giản hóa các thủ tục cấp phép cho các hoạt động thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo, mà còn bảo đảm quyền cho tất cả người có đạo - cho dù họ là công dân Việt Nam hay người nước ngoài, cho dù họ là người tự do hay đang thi hành án. Mục 5 (Điều 5) quy định: “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, … bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo”. Điều 8, quy định: “ Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, v. v. Hiện nay, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta diễn ra bình thường, nếu không nói là sôi động.
Nghị định của Chính phủ về “Quản lý, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”, xác định chính sách của Đảng và Nhà nước ta là tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho nhân dân ở các vùng khó khăn có thể sử dụng dịch vụ này. Điều 4 quy định: “Thúc đẩy việc sử dụng Internet trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế,…; Phát triển hạ tầng Internet băng rộng đến trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu, thư viện, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, các điểm truy nhập internet công cộng và hộ gia đình. Chú trọng việc phổ cập dịch vụ internet ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”
Trong bối cảnh internet, mạng điện tử phát triển mạnh mẽ, bảo vệ chủ quyền Quốc gia trên không gian mạng là một nhiệm vụ quan trọng, tất yếu. Tuy nhiên, Luật An ninh mạng vẫn xác định nguyên tắc pháp quyền của Nhà nước ta, đồng thời tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Đó là những nguyên tắc sau: “Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; …; Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia với … bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng” (Điều 4).
Đối với các trang mạng đang hoạt động tại Việt Nam, Luật An ninh mạng quy định: “Doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ; Doanh nghiệp ngoài nước quy định tại khoản này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam” (Điều 26). Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng theo Luật An ninh mạng này dựa trên thông lệ quốc tế và không cản trở hoạt động của các doanh nghiệp mạng đang triển khai dịch vụ ở Việt Nam, trong đó có tập đoàn Google, Facebook.
Cho đến nay, Nhà nước ta đã ký kết, gia nhập hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người. Đó là “Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc” (1981); “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” (1981); “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội”, (1982); “Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị” (1982); “Công ước về quyền trẻ em” (1990); “Công ước chống tra tấn (CAT) và “Công ước về quyền của người khuyết tật” (2014), v.v. Những công ước nói trên đều đã được nội luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Việt Nam cũng đã tích cực tham gia đối thoại về quyền con người với nhiều quốc gia, như: Mỹ, Australia, Thụy Sỹ và EU. Những cuộc đối thoại này nhằm trao đổi quan điểm và học hỏi lẫn nhau để nâng cao hơn sự hưởng thụ quyền của người dân ở mỗi quốc gia.
Quyền làm chủ của người dân Việt Nam được thể hiện rõ ở quyền bầu cử và ứng cử. Kết quả cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV (nhiệm kỳ 2016-2021) đã cho thấy điều này. Theo số liệu thống kê được công bố chính thức, cả nước có 67.485.482 cử tri, trong đó số cử tri đã tham gia bỏ phiếu là 67.049.091 người, đạt tỷ lệ 99,35%. Cơ cấu Đại biểu trúng cử thể hiện quyền lựa chọn đại biểu của nhân dân, kết quả cụ thể như sau: Đại biểu là người dân tộc thiểu số: 86 người (đạt 17,30%); Đại biểu nữ: 133 người (đạt 26,80%); Đại biểu là người ngoài Đảng: 21 người (đạt 4,20%); Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi): 71 người (đạt 14,30%). Mặc dù cơ cấu này chưa đạt yêu cầu của Hội đồng bầu cử đề ra, nhưng so với các cuộc bầu cử trước đây đã có những tiến bộ nhất định.
Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân được thể hiện ở tiếng nói của những đại biểu đại diện của mình tại Quốc hội. Những ai theo dõi thông tin trên mạng đều thấy rõ, các kỳ họp Quốc hội trong những nhiệm kỳ gần đây đều được truyền hình trực tiếp để người dân theo dõi; những phiên họp chất vấn được nhân dân đặc biệt quan tâm; những vấn đề nóng như về sách giáo khoa, về các chốt thu phí BOT,... đã được nêu ra và trao đổi thẳng tại hội trường giữa đại biểu với các lãnh đạo bộ liên quan.
Về quyền tự do ngôn luận, báo chí và tự do sử dụng internet, mạng xã hội của người dân đã được bảo đảm không chỉ về tư tưởng, chính trị, mà cả về cơ sở kỹ thuật (do Nhà nước đầu tư). Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của khoa học, công nghệ, đặc biệt là internet, mạng điện tử nói chung, mạng xã hội nói riêng, nên việc kết nối dịch vụ này được tiến hành khá sớm. Năm 1997, Việt Nam kết nối với xa lộ thông tin của thế giới, đặt nền móng cho internet Việt Nam. Từ đây, người Việt Nam đã có thể tiếp cận với các nguồn thông tin dựa trên internet, mạng xã hội.
Theo báo cáo của tổ chức nghiên cứu về internet - WAS (We Are Social - một công ty có trụ sở ở Anh), Việt Nam hiện nay với dân số xấp xỉ 93.6 triệu người, tính đến tháng 01-2017 có tới 50.050 triệu người dùng internet, chiếm 53% dân số, và có đến 46 triệu người dùng mạng xã hội, chiếm 48% dân số. Với tỷ lệ này, Việt Nam là một trong những nước đứng hàng đầu khu vực Đông Nam Á về sử dụng internet, mạng xã hội.
Nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, Nhà nước ta đã thành lập Ủy ban quốc gia, đẩy nhanh tiến độ xây dựng “Chính phủ điện tử”; Cổng thông tin điện tử của các cơ quan Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ công trực tuyến để cán bộ, cơ quan, tổ chức đối thoại trực tiếp với nhân dân, nâng cao hiệu quả tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp.
Trên lĩnh vực bảo đảm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, kết quả nổi bật trong năm 2018 là, tăng trưởng GDP đạt 6,98%, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra (6,7%); bình quân tăng trưởng 3 năm 2016 - 2018 tăng 6,57% (chỉ tiêu kế hoạch  5 năm là 6,5 - 7%); dự trữ ngoại hối nhà nước đạt trên 60 tỷ USD. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 9 tháng (đầu năm 2018) đạt trên 352 tỷ USD, cả năm ước đạt 475 tỷ USD, tăng 11,7%; trong đó, xuất khẩu 238 tỷ USD, tăng 11,2% (mục tiêu 7 - 8%). Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Thực hiện chủ trương giảm phiền hà cho người dân, các cơ quan chức năng đã cắt giảm (ước tính) 50% thủ tục hành chính; trong đó, cắt giảm, đơn giản hóa 61% thủ tục, điều kiện kinh doanh và 60% thủ tục kiểm tra chuyên ngành hàng hóa xuất nhập khẩu. Cả năm có khoảng 130 nghìn doanh nghiệp đăng ký mới.
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, theo Nghị quyết của Quốc hội, Nhà nước đã huy động nguồn lực xã hội vào các hoạt động giảm nghèo, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số gặp điều kiện khó khăn. Theo đó, tốc độ giảm nghèo năm 2018 khá nhanh so với thời kỳ trước; tỷ lệ hộ nghèo tính đến cuối năm 2018 còn 5,2 - 5,7%, giảm 1 - 1,5% (riêng các huyện nghèo giảm trên 4%); tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế cả nước ước đạt 86,9%, vượt chỉ tiêu đề ra (85,2%). Thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng, trong đó thu nhập của hộ nghèo tăng từ 15 đến 20%; tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ 9,88% năm 2015 xuống 7,69% năm 2017. 38% số người dân tộc ít người dịch chuyển lên nhóm có điều kiện kinh tế cao hơn (mức chung cả nước là 28%). Có thể nói hiếm có một quốc gia nào lại có nhiều chính sách xã hội như Nhà nước ta. Chẳng hạn như sự hỗ trợ về tài chính cho người nghèo, hộ nghèo thông qua “Ngân hàng chính sách xã hội”; hoặc chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo ở nông thôn (theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg)… 
Trên lĩnh vực giáo dục, cho đến nay đã có 63 tỉnh, thành phố đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học. Bình đẳng giới là một trong những chỉ số về quyền con người quan trọng. Cho đến nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (2016 – 2021), tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Quốc hội đạt 26,71%, cao hơn mức trung bình thế giới là 22,3%; phụ nữ làm chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở kinh doanh đạt hơn 27,8%. Trên lĩnh vực văn hóa, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định mới về công nhận các danh hiệu văn hóa. Cho đến năm 2018, Việt Nam có thêm 11 di tích và 29 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được xếp hạng.
Trên lĩnh vực quan hệ quốc tế về quyền con người, Nhà nước ta đã thể hiện nhất quán là một thành viên có trách nhiệm đối với cộng đồng Quốc tế, trong đó có Hội đồng nhân quyền. Việt Nam từng được bầu là thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc (Nhiệm kỳ 2014-2016).  
Đáng tiếc trong thời gian qua, trên internet, mạng xã hội đã có những tiếng nói không công bằng và nhận thức sai lầm về quyền con người ở Việt Nam. Chẳng hạn, họ cho rằng những blogger lợi dụng internet, mạng xã hội, tán phát thông tin xuyên tạc, chính sách, pháp luật Việt Nam, hoặc họ cho rằng bị các cơ quan chức năng xử lý, bắt, đưa ra xét xử tại tòa là “vi phạm quyền con người”. Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người là một lĩnh vực pháp luật, trong đó quyền bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ và phải chịu những hạn chế nhất định. Trong tính hiện thực của nó, quyền con người là một quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia; việc bảo đảm quyền con người phải gắn liền với bảo đảm quyền của cộng đồng, của xã hội và của Nhà nước.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) quy định: "Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá…” (Điều 1). Quy định này có nghĩa, các Nhà nước có quyền đưa ra các quy định pháp luật dựa trên truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa hoặc chế độ chính trị, trong đó có các quy định về quyền và nghĩa vụ của cá nhân.
Quyền tự do ngôn luận, báo chí, Công ước trên quy định: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp; Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, …; Việc thực hiện những quyền này … kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, để: “Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội” ( Điều 19).
Như vậy có thể nói, thành tựu nhân quyền Việt Nam là to lớn, vững chắc, dựa trên chế độ xã hội ưu việt, thể chế nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cùng với một hệ thống pháp luật quốc gia hoàn thiện, không có ai, không lực lượng chính trị, trong và ngoài nước có thể phủ nhận được.

Nguồn: www.tapchiqptd.vn

Thanh niên Quân đội với việc phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch

Phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, thanh niên Quân đội vừa là đối tượng chịu tác động, vừa là lực lượng xung kích đi đầu trong hoạt động này.
Nhóm chống phá về tư tưởng chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực thù địch luôn “đầu tư” mạnh cho hoạt động tuyên truyền, cổ súy những nhận thức, quan điểm trái ngược với lập trường, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Chúng đẩy mạnh tuyên truyền quan điểm đối lập với nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc tình hình mọi mặt của đất nước (nhất là vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền) nhằm gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán nản, dẫn đến mất phương hướng chính trị, giảm sút lòng tin vào Đảng, vào chế độ của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo nguy cơ “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Dựa vào sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, chúng triệt để lợi dụng không gian mạng, “tấn công” mạnh hơn, nhanh hơn, sâu hơn tới mọi tầng lớp nhân dân; trong đó, mục tiêu chiến lược của chúng hướng vào chuyển hóa tư tưởng của thế hệ làm chủ đất nước trong tương lai, đó là thanh niên. Hiểu rõ đặc điểm của thanh niên là nhanh nhạy trong tiếp cận công nghệ thông tin và các phương tiện kỹ thuật, luôn thích khám phá cái mới, sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, song kiến thức, trình độ nhận thức và trải nghiệm thực tiễn, vốn sống còn ít, các thế lực thù địch đã triệt để khai thác yếu tố này, đưa nhiều nội dung thật - giả lẫn lộn trên không gian mạng, làm nhiễu loạn thông tin, khiến thanh niên khó phân biệt được đúng sai, phải trái. Điều đó đã tác động không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của thanh niên nói chung, thanh niên Quân đội nói riêng.
Thanh niên Quân đội là lực lượng đông đảo, hoạt động trong lĩnh vực đặc thù và là bộ phận quan trọng trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Thông qua truyền bá quan điểm sai trái, các thế lực thù địch hòng làm giảm sút ý chí quyết tâm, bản lĩnh chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và ý thức tu dưỡng, rèn luyện, đạo đức, lối sống của thanh niên Quân đội. Đó là một trong những cách thức để các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội.
Nhận thức rõ những tác động đó, thời gian qua, quán triệt và thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, sự chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị và tổ chức Đoàn các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, nâng cao sức đề kháng và nhận thức, trách nhiệm của đoàn viên, thanh niên trong tham gia đấu tranh với luận điệu sai trái, thù địch. Cán bộ, sĩ quan trẻ, đoàn viên thanh niên đã phát huy vai trò xung kích, sáng tạo, tích cực, chủ động viết hàng nghìn tin, bài, bình luận, chia sẻ thông tin và sử dụng các hình thức, biện pháp khác để đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, góp phần định hướng dư luận, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Trong giai đoạn tới, việc “tung ra” các luận điệu sai trái, xuyên tạc sẽ vẫn là phương thức chủ yếu được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng nhằm chống phá nước ta với mức độ tinh vi hơn, phức tạp hơn và ngày càng quyết liệt hơn. Vì vậy, nâng cao khả năng tự miễn dịch; đồng thời, phát huy vai trò nòng cốt trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch của thanh niên Quân đội vừa là yêu cầu khách quan, vừa là yếu tố căn cốt để tôi luyện bản lĩnh, phẩm chất, năng lực của thanh niên, xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Để đạt được điều đó, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một làbảo đảm cho thanh niên đủ sức “miễn dịch” và có môi trường thuận lợi để đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch. Đây là yếu tố nền tảng để thanh niên Quân đội có thể đứng vững và phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch. Theo đó, các cơ quan, đơn vị, nhất là các học viện, nhà trường Quân đội cần tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, v.v. Cấp ủy, chỉ huy và tổ chức Đoàn các cấp cần chú trọng kết hợp giữa bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị với trách nhiệm và năng lực, trình độ, kỹ năng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận cho thanh niên, thường xuyên giáo dục, quán triệt để thanh niên nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; phân biệt được những trang thông tin xấu độc trên mạng. Qua đó, củng cố, nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; giá trị truyền thống dân tộc, truyền thống Quân đội, lý tưởng chiến đấu cho thanh niên. Đồng thời, tạo môi trường thuận lợi để thanh niên Quân đội đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tập hợp thanh niên, xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện đấu tranh nghiêm túc, chặt chẽ, theo phương châm: thanh niên ở đâu thì tổ chức Đoàn phải ở đó, luôn đồng hành, tương tác và là chỗ dựa vững chắc cho thanh niên. Các cơ quan, đơn vị cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, đầu tư phương tiện kỹ thuật cho hoạt động đấu tranh; duy trì chặt chẽ, nghiêm túc, hiệu quả các hoạt động thông tin, tuyên truyền (thông báo chính trị - thời sự; đọc báo, nghe đài, xem thời sự, v.v.). Cùng với đó, cần có cơ chế cung cấp, sử dụng thông tin đảm bảo nhanh, nhạy, kịp thời, nhất là trước các vấn đề nhạy cảm, sự kiện nóng để thanh niên hiểu, nhận thức đúng bản chất sự việc, không mơ hồ, dao động, làm cơ sở vững chắc để đấu tranh, phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch.
Hai làphát huy vai trò xung kích, đi đầu của thanh niên Quân đội trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Thanh niên Quân đội là đối tượng “ưu tiên” của các thế lực thù địch nhằm chuyển hóa tư tưởng, nhận thức và hành động. Vì vậy, họ phải là lực lượng xung kích, đi đầu trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa những thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, nhất là sự chống phá trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Để làm được điều này, thanh niên Quân đội cần phát huy sự nhanh nhạy, nhiệt huyết, sức trẻ và khả năng nắm bắt công nghệ, kết nối rộng; tích cực, chủ động nhận diện và thực hiện các biện pháp đấu tranh, tạo thành làn sóng mạnh mẽ, lấn át và nhấn chìm những thông tin xuyên tạc, kích động, không cho chúng lan truyền và tiếp cận tới nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, cần đặc biệt quan tâm đấu tranh, loại bỏ ngay từ đầu những thông tin xuyên tạc các sự kiện lớn của đất nước, các hoạt động tôn giáo,... nhằm lôi kéo, kích động tụ tập đông người, gây mất trật tự, an ninh xã hội và bất ổn về chính trị của các thế lực thù địch.
Để đấu tranh có hiệu quả, cần sử dụng linh hoạt hình thức, biện pháp. Đối với quan điểm thù địch, phải đấu tranh, phê phán mạnh mẽ, kiên quyết, kiên trì, không mơ hồ, không thỏa hiệp. Với cán bộ, đảng viên có ý kiến trái chiều, cần đấu tranh, làm rõ đúng sai, phê phán các quan điểm sai trái; không phê phán, xúc phạm, đả kích cá nhân để họ giác ngộ ra vấn đề, không “đẩy” họ về phía bên kia. Hiện nay, các quan điểm sai trái, thù địch được lan truyền chủ yếu trên mạng xã hội. Vì vậy, thanh niên Quân đội cần tập trung đấu tranh bằng những bài viết, bình luận có tính khoa học, chứng cứ rõ ràng, lập luận sắc bén; qua đó, chỉ rõ đúng - sai, thật - giả; tránh kiểu đấu tranh thiếu văn hóa, không có tính thuyết phục. Đồng thời, tích cực gửi thông tin phản hồi để nhà cung cấp dịch vụ mạng gỡ bỏ, ngăn chặn kịp thời, tránh phát tán rộng rãi những nội dung xuyên tạc trên mạng xã hội.
Ba làtích cực tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. “Cái xấu sẽ hoành hành nếu người tốt không lên tiếng”. Vì vậy, thanh niên Quân đội phải biết “gạn đục, khơi trong”, lên tiếng bảo vệ cho cái tốt, để cái tốt được lan tỏa. Trong lực lượng thanh niên, ở góc độ nào đó, thanh niên Quân đội sẽ có “uy tín” hơn, bởi được giáo dục, rèn luyện trong môi trường quân sự - “trường học lớn”, nên những thông tin mà thanh niên Quân đội chia sẻ sẽ có “sức nặng” hơn. Phát huy lợi thế đó, họ cần chủ động, tích cực tuyên truyền cho gia đình, người thân, bạn bè và cộng đồng về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; những cái tốt, cái thiện, thành tựu của đất nước, truyền thống tốt đẹp của của dân tộc, Quân đội, v.v. Không chỉ đợi đến khi “có tình huống” mới “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, mà việc tuyên truyền cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, làm cho cái đẹp lan tỏa, củng cố niềm tin vững chắc cho nhân dân; để khi cái xấu xuất hiện sẽ bị cái đẹp lấn át, loại bỏ. Đó cũng là cách đấu tranh chủ động, từ sớm, từ xa với những quan điểm sai trái, thù địch. Việc tuyên truyền cần được thực hiện chủ yếu thông qua việc chia sẻ các bài viết, hình ảnh, video trên internet, mạng xã hội. Thực tế cho thấy, với tác động của hiệu ứng “đám đông”, nhiều người dù chưa nắm chắc vấn đề, mới chỉ “thấy trên mạng” đã vội quy kết, chụp mũ,... và mặc dù biết sai, nhưng họ vẫn ngại bày tỏ thái độ, ngại chia sẻ thông tin, ngại tranh luận, vì... “đối phương” quá đông. Do vậy, trong giao tiếp, thanh niên Quân đội cần mạnh dạn bày tỏ thái độ, giải thích, tuyên truyền để mọi người nhận rõ cái đúng.
Bốn làthanh niên Quân đội cần tích cực tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Đây là biện pháp ngăn ngừa từ xa đối với các hoạt động lợi dụng để chống phá Quân đội của các thế lực thù địch. Mỗi thanh niên Quân đội cần nhận thức rõ: mọi hành động sai trái của mình (dù cố tình hay vô ý) đều có thể trở thành “ngòi nổ”, tạo cớ để các đối tượng xấu triệt để lợi dụng nhằm xuyên tạc, bôi nhọ, làm ảnh hưởng tới bản chất, truyền thống của Quân đội, hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, gây chia rẽ và làm giảm lòng tin của nhân dân với Quân đội. Do vậy, thanh niên Quân đội cần không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật, nhất là kỷ luật quan hệ quân dân, kỷ luật phát ngôn, lễ tiết tác phong; luôn nêu cao cảnh giác, có ý thức phòng gian, bảo mật, không để lộ, lọt thông tin khi sử dụng internet; không chia sẻ vị trí, chụp ảnh, đăng các thông tin, hoạt động của cá nhân và đơn vị lên mạng xã hội, v.v. Cùng với đó, phải không ngừng tự học tập để trau dồi kiến thức, kỹ năng, bản lĩnh chính trị; biết nhận diện, đề phòng và tránh xa những cám dỗ vật chất, văn hóa xấu độc; tăng sức đề kháng trước sự tấn công của kẻ thù, từ những mặt trái của quá trình hội nhập, quá trình tham gia mạng xã hội toàn cầu, v.v. Trong mọi trường hợp, thanh niên Quân đội phải luôn giữ vững và nêu cao phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, đó chính là biểu tượng và là sức mạnh to lớn để đập tan mọi âm mưu, hành động xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch là cuộc chiến hết sức khó khăn, phức tạp, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó, thanh niên Quân đội là một trong những lực lượng quan trọng. Phát huy những kết quả đã đạt được, thanh niên Quân đội cần tiếp tục xung kích, đi đầu trên mặt trận này, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích của quốc gia - dân tộc.

Nguồn: tapchiqptd.vn

Những chuyển dịch địa chính trị ở khu vực Đông Á và tác động tới an ninh khu vực

Cục diện địa chính trị trên phạm vi toàn cầu đang trải qua những chuyển dịch chưa từng có và chịu sự chi phối của sự cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Trong đó, Đông Á - khu vực phát triển năng động nhất thế giới hiện nay cũng đồng thời là khu vực có nhiều mâu thuẫn đan xen cùng các nguy cơ xung đột tiềm ẩn - là một trong những tâm điểm cạnh tranh giữa Mỹ, Trung Quốc, Nga, EU, Ấn Độ và Nhật Bản, đã và đang tạo ra những thay đổi lớn đối với an ninh trong khu vực.
Đông Á - tâm điểm cạnh tranh giữa ba trật tự thế giới mới
Đông Á là nơi hiện diện và cạnh tranh quyết liệt của các cường quốc hàng đầu thế giới, gồm: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và khối EU và sẽ định hình chu kỳ thứ tư của sự phát triển kinh tế thế giới. Trong đó, Mỹ, Trung Quốc và Nga chủ trương xây dựng trật tự thế giới theo ba xu hướng khác nhau về bản chất. Tổng thống Đô-nan Trăm chủ trương xây dựng trật tự thế giới mới mà trong đó Hoa Kỳ sẽ từ bỏ vai trò “cảnh sát toàn cầu” để đóng vai trò “quan tòa của thế giới”, định đoạt mọi điều ước quốc tế theo điều kiện của Oa-sinh-tơn. Còn Trung Quốc chủ trương xây dựng trật tự thế giới mới theo “sự đồng thuận Bắc Kinh” thông qua nhiều kế hoạch chiến lược, trong đó then chốt là sáng kiến “Vành đai và Con đường” và kế hoạch “Sản xuất tại Trung Quốc 2025”. Về phía Nga, Tổng thống V. Pu-tin chủ trương xây dựng một trật tự thế giới mới, trong đó tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, giàu hay nghèo, đều cần được tôn trọng và lắng nghe như nhau. Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm từng nhận định rằng, các đời tổng thống Mỹ trước đây đã không sớm nhận ra Trung Quốc hiện đứng đầu thế giới về kinh tế, còn Nga đứng đầu thế giới về quân sự. Vì thế, chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ dưới thời Tổng thống Đô-nan Trăm coi Trung Quốc và Nga là “đối tác cạnh tranh toàn diện”.
Biển Đông: tâm điểm cạnh tranh địa chính trị Mỹ - Trung
Cạnh tranh chiến lược toàn diện giữa Mỹ và Trung Quốc xoay quanh hai trụ cột chính là kế hoạch “Sản xuất tại Trung Quốc 2025” và đề án chiến lược “Vành đai và Con đường”. Hai trụ cột này đóng vai trò then chốt trong việc tạo điều kiện cho Trung Quốc kiểm soát 80% thị trường hàng hóa công nghệ cao toàn cầu trong tương lai không xa. Vì thế, chính giới thuộc hai đảng cầm quyền ở Mỹ là Cộng hòa và Dân chủ đều thống nhất quan điểm cho rằng “Vành đai và Con đường” và “Sản xuất tại Trung Quốc 2025” là hai trụ cột của trật tự thế giới mà Trung Quốc chủ trương xây dựng. Để xây dựng hai trụ cột này, Trung Quốc đã hoạch định chiến lược nhằm đưa Trung Quốc phát triển thành cường quốc biển và đại dương trên cơ sở một định đề của học thuyết địa chính trị ở Anh trong thế kỷ XIX: “Quốc gia nào làm chủ được đại dương thế giới sẽ kiểm soát thương mại toàn cầu. Quốc gia nào kiểm soát được thương mại toàn cầu sẽ kiểm soát kinh tế thế giới và do đó cũng bá chủ thế giới”. Thực hiện chiến lược biển, từ năm 2009, Trung Quốc bắt đầu tiến hành nhiều biện pháp nhằm độc chiếm Biển Đông, trong đó đáng chú ý nhất là từ năm 2013, họ ráo riết cải tạo và xây dựng phi pháp các đảo nhân tạo trên Biển Đông - điểm khởi đầu “con đường tơ lụa trên biển” trong đề án chiến lược “Vành đai và Con đường”. Chỉ sau 5 năm, Trung Quốc đã hoàn thành việc xây dựng các đảo nhân tạo và đang tăng cường củng cố các cơ sở quân sự tại Biển Đông, biến các đảo nhân tạo thành các “tàu sân bay vĩnh cửu” nhằm kiểm soát tuyến đường biển có tầm quan trọng chiến lược đối với dòng thương mại toàn cầu trị giá tới 5,3 nghìn tỷ USD mỗi năm luân chuyển qua đây.
Để ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông, Đạo luật ủy quyền quốc phòng của Mỹ trong năm tài khóa 2018 - 2019 được Tổng thống Đô-nan Trăm phê chuẩn ngày 15-5-2018 xác định nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn hoạt động quân sự hóa phi pháp của Trung Quốc trên vùng biển này. Đồng thời, Mỹ hối thúc các nước đồng minh tăng cường sự hiện diện quân sự trên Biển Đông. Theo đó, một số quốc gia đồng minh của Mỹ, nhất là Anh và Pháp đã có kế hoạch hành động cùng với Mỹ ngăn chặn hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông. Đáng chú ý là, Mỹ cùng với Ấn Độ, Nhật Bản và Ô-xtrây-lia hình thành “tứ giác kim cương” để hiện thực hóa chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương của Oa-sinh-tơn, nhằm khống chế tham vọng của Trung Quốc trong đề án chiến lược “Vành đai và Con đường”.
Để giảm áp lực từ phía Mỹ, Trung Quốc chấp nhận cùng với các nước Đông Nam Á xúc tiến đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) mà Bắc Kinh trước đây luôn tìm cách trì hoãn (cuộc đàm phán đầu tiên về COC sẽ diễn ra tại Mi-an-ma trong quý 1 - 2019). Tuy nhiên, Trung Quốc đưa vào COC nhiều nội dung, như: cấm các quốc gia bên ngoài Biển Đông tập trận quân sự ở vùng biển này; hạn chế các hãng dầu khí nước ngoài hoạt động thăm dò và khai thác ở Biển Đông. Tuy nhiên, các nước ASEAN sẽ không thể chấp nhận điều kiện của Trung Quốc nên các cuộc đàm phán về COC còn là một quá trình bất định.
Cũng cần phải nói thêm rằng, thời gian qua, hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông phần nào làm lu mờ tranh chấp của họ với Nhật Bản đối với nhóm đảo mà Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư, còn Tô-ky-ô gọi là Xen-ca-kư. Tuy nhiên, Nhật Bản không chỉ lo ngại trước tham vọng của Trung Quốc chiếm đoạt Xen-ca-kư, mà hơn thế nữa là hoạt động của Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông, đe dọa trực tiếp an ninh quốc gia, trước hết là an ninh kinh tế của Nhật Bản (do các tuyến đường biển vận chuyển năng lượng và thương mại của Nhật Bản với thế giới chủ yếu đi qua Biển Đông). Vì vậy, năm 2018, Nhật Bản đã gia tăng ngân sách quốc phòng để hiện đại hóa quân đội, trước hết là hải quân, sẵn sàng vô hiệu hóa thách thức an ninh từ Trung Quốc.
Cạnh tranh Nga - Nhật liên quan tới quần đảo Ku-rin
Trong bối cảnh cục diện thế giới và Đông Á đang thay đổi nhanh chóng, Nga và Nhật Bản rất cần giải quyết dứt điểm tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Ku-rin (hiện đang thuộc chủ quyền của Nga). Năm 2016, trong chuyến thăm Nhật Bản của Tổng thống Nga V. Pu-tin, lãnh đạo hai nước nhất trí khởi động các cuộc tham vấn về một cơ chế hoạt động kinh tế chung trên quần đảo Ku-rin và đồng ý đẩy nhanh các cuộc đàm phán dựa trên cơ sở Tuyên bố chung Xô - Nhật năm 1956. Theo đó, sau khi hai bên ký kết Hiệp ước hòa bình, Liên Xô sẽ trao trả cho Nhật Bản đảo Ha-bô-mai và Xi-cô-tan. Vấn đề tranh cãi hiện nay là sẽ ký kết Hiệp ước hòa bình trước và giải quyết vấn đề chủ quyền sau hay là ngược lại.
Theo Tổng thống V. Pu-tin, Nga và Nhật Bản sẽ sớm ký kết Hiệp ước hòa bình mà không kèm theo bất cứ điều kiện tiên quyết nào. Chỉ sau đó, hai bên sẽ đàm phán về yêu cầu của Nhật Bản được Nga trao trả 2 trong số 4 hòn đảo trong quần đảo Ku-rin. Điều Mát-xcơ-va lo ngại nhất là, sau khi trao trả, những hòn đảo đó sẽ biến thành căn cứ quân sự của Mỹ, đe dọa an ninh của Nga ở Viễn Đông. Để xóa bỏ sự hoài nghi này, Thủ tướng Nhật Bản Sin-dô A-be đã từng cam kết việc quân đội Mỹ đồn trú tại Nhật Bản không gây ra bất kỳ mối đe dọa nào đối với Nga. Tuy nhiên, Nga đã có bài học nhãn tiền là Mỹ từng cam kết sẽ không mở rộng NATO nếu Liên Xô đồng ý dỡ bỏ bức tường Bec-lin và thống nhất nước Đức, nhưng sau đó NATO đã không chỉ kết nạp thêm nhiều thành viên mới mà còn đưa căn cứ quân sự tiến sát biên giới Nga.
Chuyển dịch địa chính trị chưa từng có trên bán đảo Triều Tiên
Năm 2018, thế giới còn chứng kiến sự chuyển dịch địa chính trị chưa từng có trên bán đảo Triều Tiên, trong đó hai miền Triều Tiên cũng như Mỹ và Triều Tiên cam kết phi hạt nhân hóa và thiết lập nền hòa bình lâu dài. Cuộc gặp lịch sử giữa nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm đã mở ra một chương hoàn toàn mới trong quan hệ hai nước. Dự kiến trong năm 2019, các cuộc đàm phán giữa Oa-sinh-tơn và Bình Nhưỡng sẽ tiếp tục và có thể tạo thêm bước tiến mới trong tiến trình phi hạt nhân hóa và thiết lập nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên. Trong thông điệp năm mới, Tổng thống Hàn Quốc Mun Giây-in cam kết tiến trình hướng tới hòa bình sẽ không thể đảo ngược trên bán đảo Triều Tiên. Trong diễn văn chào năm mới 2019, nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un cũng tuyên bố sẵn sàng tiến hành cuộc đàm phán thứ 2 với Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm. Hi vọng, trong năm 2019 sẽ có những chuyển biến mới tích cực theo hướng phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên và quan hệ liên Triều sẽ có bước cải thiện mới đáng kể.
Nga, EU và Ấn Độ đều điều chỉnh chiến lược hướng tới Đông Á
Trong bối cảnh châu Á nói chung, Đông Á nói riêng đang nổi lên như một tâm điểm cạnh tranh địa chính trị của thế giới, các cường quốc Nga, Ấn Độ và khối EU đều có chiến lược hướng tới Đông Á. Theo đó, Nga đã tổ chức Diễn đàn kinh tế Phương Đông - nơi được coi là “Diễn đàn Đa-vôt của Nga” để phát triển khu vực Viễn Đông giàu tiềm năng. Năm 2018, Nga nâng cấp quan hệ Nga - ASEAN từ đối tác thành đối tác chiến lược. Nga cũng là quốc gia có mối quan hệ tốt đẹp với cả Triều Tiên và Hàn Quốc. Ấn Độ điều chỉnh Chiến lược hướng Đông thành Hành động hướng Đông, nhằm đẩy mạnh hợp tác kinh tế, chính trị và an ninh với các nước Đông Á. Năm 2018, EU triển khai chiến lược kết nối châu Á như một đối trọng với đề án chiến lược “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc.
Cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đang tạo ra cục diện hoàn toàn mới ở Đông Á, trong đó ẩn chứa nhiều yếu tố bất định và rất khó dự đoán. Lý do bởi, khác với châu Âu - nơi có các thể chế an ninh đa phương đã từng tồn tại nhiều thập kỷ, như: NATO, Tổ chức an ninh hợp tác châu Âu, Tổ chức hợp tác an ninh tập thể,… thì ở châu Á nói chung và Đông Á nói riêng, chưa có khuôn khổ cho một cấu trúc an ninh chung. Hơn nữa, lẽ ra cần tập trung lực lượng các đồng minh truyền thống và các đối tác mới vào mục tiêu đối phó với “kẻ thù số 1 của Mỹ” là Trung Quốc, thì Tổng thống Đô-nan Trăm lại có những quyết định khiến các đồng minh cảm thấy như thể bị Oa-sinh-tơn xa lánh, như: rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tuyên chiến thương mại với cả các đồng minh then chốt là Nhật Bản và Hàn Quốc.
Gần đây, Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm lại bất ngờ tuyên bố rút quân khỏi Xy-ri và bỏ mặc các đồng minh phải đối mặt với cuộc chiến chống khủng bố, cũng khiến các đồng minh ở Đông Á phải đặt dấu hỏi nghi vấn. Trong điều kiện đó, các đồng minh cũng như đối tác của Mỹ đều phải cân nhắc đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Với cục diện chính trị bất ổn và bất định như vậy, ASEAN hiện đang nổi lên như là trung tâm của cấu trúc an ninh và hợp tác chung đang định hình ở Đông Á. Chính vì thế, lãnh đạo nhiều nước trên thế giới nhận thấy Hội nghị thượng đỉnh hằng năm của ASEAN mà bên lề có Diễn đàn Đông Á và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước thành viên ASEAN với các nước đối tác (ADMM+) - một cơ chế hợp tác năng động, đặc thù, góp phần quan trọng vào duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực, cũng như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) là nơi các nước lớn gặp nhau để cùng tìm tiếng nói chung nhằm thu hẹp bất đồng, ngăn chặn xung đột và tìm kiếm cơ hội hợp tác, loại bỏ các yếu tố bất ổn, hóa giải các yếu tố bất định, hướng tới xây dựng khu vực Đông Á hòa bình và phát triển.

Nguồn: www.tapchiqptd.vn

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội hiện nay

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một trong những nguy cơ đe dọa tới sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; là cách thức để các thế lực thù địch thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội. Vì vậy, nhận diện và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề xã hội, có căn nguyên từ những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, quản lý của Nhà nước đối với xã hội; sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt là chiến lược “Diễn biến hòa bình”; từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng, v.v. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Đảng ta nhận diện với những biểu hiện cụ thể; đồng thời xác định: chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Trong Quân đội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tuy chưa có biểu hiện rõ nét, phạm vi không rộng, tính chất chưa nghiêm trọng, song nó đang hiện hữu và ảnh hưởng trực tiếp đến việc giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; coi đó là một nội dung trọng tâm trong tổng thể các nội dung, biện pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.
Trong tình hình mới, để đấu tranh, phòng chống có hiệu quả với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong Quân đội, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính,... phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, lực lượng; của từng cán bộ, đảng viên và quần chúng. Trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một làgiữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, bởi mục tiêu cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” cũng như hệ quả cuối cùng của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, phải thường xuyên giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương đối với Quân đội; bảo đảm cho Quân đội luôn tuyệt đối trung thành và phục tùng sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống. Vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay là phải củng cố, kiện toàn, xây dựng hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, đủ sức lãnh đạo toàn quân thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách quân sự, quốc phòng của Đảng, Nhà nước. Đồng thời, gắn xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; giải quyết tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, giữa tổ chức đảng với các tổ chức trong đơn vị, giữa đảng viên với quần chúng, giữa cán bộ với chiến sĩ. Xây dựng đơn vị thực sự đoàn kết, thống nhất cao, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, chỉ huy và chính ủy, chính trị viên các cấp.
Cùng với đó, phải quan tâm giáo dục, rèn luyện, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác tốt, hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược. Công tác bố trí, sử dụng, đánh giá cán bộ phải bảo đảm dân chủ, công tâm, khách quan, chính xác; quan tâm làm tốt công tác chính sách, giải quyết triệt để, thấu đáo tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, quần chúng, tạo động lực để họ phấn đấu và cống hiến. Đó là yếu tố quan trọng để triệt tiêu mầm mống của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai làthường xuyên chăm lo giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả từ nhiều nguyên nhân, song cốt lõi là do một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; quên trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân; ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm; vi phạm nguyên tắc, điều lệ Đảng, nói không đi đôi với làm, thoái hóa, biến chất về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, cần chú trọng giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chủ nghĩa yêu nước, nền tảng văn hóa Việt Nam, truyền thống Quân đội, đơn vị,... làm cho bản chất giai cấp công nhân thấm sâu và phát triển vững chắc trong tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên; từ đó, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng. Đồng thời, phải thường xuyên giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; có tinh thần tự giác, tích cực học tập, rèn luyện, tu dưỡng; không ngừng nâng cao kiến thức, năng lực công tác, tận tụy, tâm huyết với công việc, gắn bó với cơ quan, đơn vị. Đặc biệt, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải thường xuyên cập nhật tình hình, làm cơ sở để giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch, nhất là các hoạt động chống phá trên không gian mạng. Qua đó, nâng cao khả năng miễn dịch cũng như trình độ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho cán bộ, chiến sĩ.
Cùng với đó, cần quan tâm bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội; xây dựng môi trường văn hóa phong phú, tốt đẹp, lành mạnh để Quân đội trở thành nơi nuôi dưỡng nhân cách, phẩm chất tốt đẹp cho mọi quân nhân. Từ đó, tăng cường sức đề kháng, tạo “màng lọc” ngăn chặn văn hóa ngoại lai, phản động, phản tiến bộ xâm nhập vào Quân đội. Đó là cơ sở để ngăn ngừa tác động từ bên ngoài, làm vô hiệu hóa mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch.
Ba làkiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực trong Quân đội. Các yếu tố đó chính là kẻ thù hết sức nguy hiểm, phá hoại từ trong nội bộ, làm suy yếu sức mạnh của tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” càng trở nên phức tạp. Để thực hiện tốt nội dung này, các cấp ủy đảng trong Quân đội cần quán triệt và thực hiện nghiêm quan điểm, chủ trương, quyết tâm và “khí thế” của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; thực hiện hiệu quả các nhóm giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, không nể nang, né tránh”, từng cơ quan, đơn vị cần thực hiện tốt tự phê bình và phê bình; nhận diện và đánh giá đúng mức độ nguy hại của suy thoái, biến chất đối với cán bộ, đảng viên, quân nhân; chỉ rõ ở cơ quan, đơn vị mình có chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, các tiêu cực khác và có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hay không? Nếu có thì đó là ai, phạm vi, tính chất, mức độ như thế nào? Trên cơ sở đó, xác định biện pháp khắc phục, giáo dục, rèn luyện, xử lý nghiêm minh, triệt để, không bao che, dung túng, không sợ khuyết điểm; tránh tình trạng đánh giá chung chung, né tránh, hình thức; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Đồng thời, thực hiện tốt Quy chế Dân chủ trong các cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên phải thực sự được bàn bạc, tham gia giám sát mọi mặt hoạt động của đơn vị thông qua các tổ chức đảng, chính quyền, quần chúng; khắc phục tình trạng chạy chức, chạy quyền, v.v.
Xây dựng cơ chế tiếp nhận, xử lý thông tin tiêu cực, sai trái, khuất tất trong các cơ quan, đơn vị. Thực hiện tốt vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì theo Quy định 08 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII), không để tình trạng tranh công, đổ lỗi, gây mất đoàn kết nội bộ. Tăng cường kiểm tra, giám sát đảng viên, tổ chức đảng trong chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng; kiên quyết xử lý nghiêm đảng viên, tổ chức đảng vi phạm. Thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong đơn vị.
Bốn làđẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống quan điểm sai trái, thù địch. Đây là mặt trận nóng bỏng, gay go, quyết liệt hiện nay, bởi các thế lực thù địch luôn coi mặt trận này là đòn bẩy nhằm thúc đẩy nhanh hơn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Để đấu tranh có hiệu quả, trước hết, cần chú trọng thực hiện tốt hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận trong Quân đội, bảo đảm lực lượng này có đủ phẩm chất, năng lực, nhạy bén, sắc sảo để có thể theo kịp sự vận động, phát triển và đấu tranh với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù. Bên cạnh đó, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải hướng trọng tâm vào việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ đối với nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch. Thường xuyên quán triệt, giáo dục nâng cao cảnh giác cho bộ bội trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; đặc biệt là các chiêu trò sử dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền, kích động, hòng làm lung lạc nhận thức và ý chí của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị thường xuyên làm tốt công tác định hướng, quản lý tư tưởng trong đơn vị trước những vấn đề nhạy cảm, được dư luận xã hội quan tâm.
Toàn quân cần tổ chức đấu tranh rộng rãi trên mọi phương tiện, với mọi lực lượng, bằng nhiều hình thức, biện pháp; trong đó, quan tâm bồi dưỡng lực lượng nòng cốt, chuyên sâu có tinh thần trách nhiệm cao, năng lực, trình độ lý luận và dũng khí đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù trong mọi tình huống. Đồng thời, bảo đảm tốt cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ; xây dựng cơ chế cung cấp thông tin nhanh, nhạy, kịp thời cho các lực lượng nhằm động viên, khuyến khích đông đảo quân nhân tham gia, hình thành thế trận đấu tranh rộng khắp, nhiều tầng, nhiều lớp, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân làm thất bại âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch.
Đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là yêu cầu, nhiệm vụ và trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ hiện nay, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nguồn: www.tapchiqptd.vn


Một số vấn đề về đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay là vấn đề lớn cần tổng kết, tiếp tục nghiên cứu, và có cách thức phù hợp. Giải quyết hiệu quả mối quan hệ trên, chúng ta mới tăng cường được vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
Nhìn lại 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”(1), đồng thời, Đại hội nghiêm khắc thừa nhận: “...còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục...”(2); Trong các mối quan hệ lớn hiện nay, Đại hội XII chỉ rõ: “Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế”(3).
Rõ ràng, thời kỳ mới cấp bách đòi hỏi chúng ta ngẫm thời cuộc lớn, soát xét lại mình, mở rộng tầm nhìn, chuẩn bị hành trang, tiếp tục chủ động và kiên định đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện, đồng bộ, không thể rụt rè, do dự hay chờ đợi, cầu toàn. Trong toàn bộ công việc hệ trọng đó, việc đổi mới chính trị, càng đòi hỏi chúng ta về tầm nhìn mới, trước sứ mệnh mới, với mục tiêu mới, bằng sự chuẩn bị toàn vẹn thực lực mới và hành động với phương lược hành động mới. Vì, thời cơ, lúc này, chính là lực lượng; vì sự phát triển của quốc gia - dân tộc là yêu cầu tối cao; và vì, thời đại không chờ đợi chúng ta. 
Nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị 
Vấn đề đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế thực chất là vấn đề nhận thức và xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị hay ngược lại, cả về nhận thức, cả về hành động. Vậy, phải nhận thức như thế nào về mối quan hệ, tính đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị?
Ngay trong khái niệm chính trị và đổi mới chính trị, trong nhận thức của chúng ta có một điểm dễ gây nhầm lẫn, đó là đổi mới chính trị hay đổi mới hệ thống chính trị? Khái niệm chính trị rộng hơn khái niệm hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị chỉ là hệ thống thiết chế tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, còn chính trị không chỉ là hệ thống thiết chế bộ máy, nó còn là các quan hệ chính trị, chính sách chính trị, mô hình chính trị. Khi nói đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế, phản xạ tự nhiên trong tư duy của cán bộ lãnh đạo, quản lý và do đó chi phối cả tư duy xã hội là chỉ thường khoanh vùng vào hệ thống chính trị, còn các yếu tố khác, cấu phần khác của chính trị không được nhận thức và chú trọng đầy đủ. Trong đó có công nghệ chính trị giải quyết một điểm nóng, một cuộc xung đột, một tình huống bất ổn xảy ra cần đến một công nghệ chính trị, ta chưa có sự hiểu biết cần thiết về vấn đề này và sự thực hành còn yếu kém. Trong công nghệ chính trị đó, nó không chỉ giải quyết các bất ổn định, cao hơn còn là khủng hoảng. Chẳng hạn, công nghệ bầu cử được các nước phát triển rất chú trọng, còn chúng ta mới thừa nhận là trong bầu cử không rơi vào trạng thái nhất nguyên, tức là bầu cử có số dư, còn vấn đề tranh cử, ứng cử viên tiếp xúc với cử tri, vấn đề tiếp xúc đối thoại, phản biện để tạo ra một môi trường xã hội dân chủ, tạo ra một không gian để cử tri lựa chọn những đại biểu xứng đáng còn rất hạn chế. Do công nghệ chính trị yếu nên ta cũng chậm thực hành văn hóa chính trị, một vấn đề rất quan trọng nhưng ta chưa làm được bao nhiêu. Đến Đại hội XII, Đảng ta mới khẳng định, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải đồng bộ, trước đó, trong các văn kiện của Đảng, vấn đề này chưa rõ. Rõ ràng là phạm trù chính trị tương quan với phạm trù kinh tế. Nếu lấy một bên là phạm trù hệ thống chính trị và một bên là phạm trù kinh tế thì không lô-gíc. Nội hàm và ngoại diên của phạm trù chính trị rộng hơn rất nhiều so với khái niệm hệ thống chính trị. Như vậy, ngay trong nhận thức đã không đồng bộ, vì thế cũng không phù hợp. Do đó, nhận thức về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải đồng bộ là vấn đề rất quan trọng, chi phối nhận thức và xử lý các mối quan hệ khác. 
Thứ nhất, đồng bộ nói ở đây không phải là vấn đề thời gian, hiểu thế là máy móc, cơ học.
Kinh tế cực kỳ quan trọng, kinh tế phải đi trước. Đại hội VI (1986) đánh dấu công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới kinh tế, đặc biệt là đổi mới toàn diện nền kinh tế. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (năm 1989), đưa ra những nguyên tắc của đổi mới mà tinh thần của những nguyên tắc đó là: Đổi mới phải dựa trên tiền đề ổn định, dựa trên tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân, có được lợi ích của đổi mới, nhân dân sẽ ủng hộ.
Đó mới là ổn định tích cực. Ổn định là tiền đề, là điều kiện, đổi mới là phương thức, là con đường và phát triển là mục đích. Đó là quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển. 
Bất kể chế độ chính trị nào đều phải đổi mới nếu muốn tồn tại. Phát triển là mục tiêu, là điểm đến, là đích. Phát triển giờ đây là phát triển bền vững, phát triển gắn với hiện đại hóa, với hội nhập quốc tế với bảo vệ môi trường, tránh thảm họa toàn cầu.
Như vậy, tính đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở đây gắn chặt với vị thế, vị trí ưu tiên của từng lĩnh vực. Tuy là đổi mới đồng bộ, nhưng thực tiễn phát triển đòi hỏi phải đổi mới kinh tế làm tiền đề đổi mới chính trị thận trọng, từng bước một.
Vậy thực chất của đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đồng bộ với nhau là bảo đảm sự hài hòa giữa kinh tế với chính trị làm sao kinh tế đóng vai trò thúc đẩy, tạo ra cơ sở vật chất cho chính trị và chính trị đóng vai trò dẫn đường cho kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển, sự tương tác hài hòa của chúng chính là đồng bộ.
Thứ hai, đồng bộ mang tính toàn diện. 
Toàn diện trước hết là tư duy, cả đổi mới toàn diện tư duy kinh tế lẫn đổi mới toàn diện tư duy chính trị. Tiếp theo là đổi mới về thể chế. Từ năm 2016, chúng ta xác định trọng điểm, điểm nhấn đột phá giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là đổi mới chính trị trong khi vẫn tiếp tục phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế, đổi mới kinh tế để tạo ra tiềm lực vật chất cho xã hội, giai đoạn này lấy trọng điểm là đổi mới chính trị, trong đó có đổi mới thể chế chính trị. Thể chế ở đây là hệ thống luật pháp của Nhà nước và những hệ thống quy định luật lệ trong Đảng. Điều lệ Đảng phải được coi như bộ luật của Đảng. Nó quan trọng như Hiến pháp của Nhà nước, khi đó đảng viên vừa phải tuân theo Hiến pháp với tư cách là công dân, vừa tuân thủ Điều lệ Đảng với tư cách là đảng viên.
Thứ ba, đồng bộ về thiết chế, bộ máy.
Vấn đề này nan giải nhất, đụng đến cấu trúc lại hệ thống bộ máy chính trị. Nếu không được nhận thức và hành động đúng đắn, khoa học và quyết liệt, việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về việc tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức, quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ đơn thuần là sáp nhập về số học, cơ học. Vấn đề là, cấu trúc lại phải đi liền với chức năng mới, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các thiết chế ngang dọc, cấu trúc bên trong của hệ thống chính trị với chức năng được phân định rõ ràng của từng bộ phận cấu thành hệ thống chính trị mới. Qua đó, khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, công chức hóa, bộ máy cồng kềnh hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả.
Thứ tư, tính đồng bộ thể hiện ở chính sách, cơ chế và chế tài. 
Trong chính sách là cả một hệ thống lớn: chính sách kinh tế, chính sách chính trị, chính sách xã hội, chính sách văn hóa; chế tài không chỉ tồn tại ở đường lối chiến lược, chế tài biểu hiện như một chính sách: chính sách chính trị, chính sách công.
Đảng chỉ cần hệ thống những chuyên gia giỏi, không nên biến đảng viên thành công chức, lãnh đạo Đảng trở thành người quản lý hành chính, chỉ thị mệnh lệnh lãnh đạo theo kiểu hành chính. Từ lâu, V.I. Lê-nin đã chỉ ra: ra lệnh là dễ nhất nếu có chức có quyền, nhưng tệ hại nhất. Vì nó phạm vào dân chủ, làm thụ động con người, không trực tiếp kích thích được các nhân tố sáng tạo, trong khi chúng ta cần phát huy mọi năng lực sáng tạo của con người.
Thứ năm, tính đồng bộ bao hàm đồng bộ về điều kiện nhận thức đúng, giải pháp tốt.
Có cơ chế chính sách đúng, nhưng không đủ điều kiện thì khó có thể giải quyết tốt được mối quan hệ đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế. Điều kiện đó bao gồm cả điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, nhất là điều kiện vật chất. Đã là điều kiện vật chất, phải tính đến phương thức phân bổ các nguồn lực tài chính. Từ đó, làm cho các giải pháp khả năng thành giải pháp hiện thực, làm cho tinh thần đổi mới, quyết sách chiến lược đổi mới đến hiện thực đổi mới.
Vấn đề đồng bộ có thể nhìn nhận từ khía cạnh xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại. Với truyền thống, ông cha ta biết bao nhiêu tinh hoa mà ta chưa ý thức hết, chưa khai thác hết. Hiện nay, rất cần làm sống lại những giá trị tinh hoa của truyền thống trong công thức “an dân trị quốc”, trong đó có vấn đề dùng người, tiến cử, lòng tự trọng, tự rút lui, vấn đề đạo làm quan,... Với hiện đại, đòi hỏi phải tiếp thu những cái hay cái tốt về lãnh đạo, cầm quyền, văn hóa chính trị của các nước, các chính đảng cả trong khu vực và trên thế giới để tìm kiếm sự đồng thuận khi hội nhập quốc tế sâu, rộng. Cùng với đó là tự mình làm phong phú, giàu có thêm cho mình bằng tinh hoa của nhân loại như Bác Hồ từng nói: Phương Tây có gì hay cũng học, phương Đông có gì hay cũng học, học cốt để làm phong phú mình chứ không sao chép bắt chước.
Tiếp tục giải quyết thấu đáo, hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Thứ nhất, về kinh tế: Trên cơ sở tiếp tục đổi mới toàn diện về kinh tế để có một cơ sở đúng đắn cho việc hoạch định chính sách, đường lối kinh tế phát triển, cần tập trung mấy điểm sau đây:
- Củng cố vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước 
Muốn vậy, về mặt tư duy kinh tế cần xác định: chủ đạo không có nghĩa là độc quyền, không có nghĩa là ưu đãi tuyệt đối cho kinh tế nhà nước, mà chủ đạo trên cơ sở có thực lực, tự phát triển để có thực lực, để đủ sức cạnh tranh bình đẳng trên thương trường. Chủ đạo bằng thực lực, sức mạnh của chính mình chứ không phải bao cấp, ưu đãi, ỉ lại độc quyền vị thế để chèn ép các thành phần kinh tế khác. Kinh tế nhà nước phải đủ sức cạnh tranh một cách văn hóa, lành mạnh trên thương trường với tất cả các thành phần kinh tế khác, theo hành lang pháp lý.
- Tổ chức, sắp xếp lại kinh tế hợp tác, trong đó vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng kinh tế dịch vụ, hợp tác sản xuất lớn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đẩy mạnh liên kết và hợp tác dựa trên quan hệ lợi ích, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường. Cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo điều kiện phát triển kinh tế hợp tác xã trên cơ sở phát triển và phát huy vai trò của kinh tế hộ.
- Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần.
- Tiếp tục đổi mới tư duy về kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì, kinh tế tư nhân đem lại lợi ích to lớn cho xã hội, trong khi chỉ cần Nhà nước thừa nhận, tạo hành lang pháp lý cho nó hoạt động. Kinh tế tư nhân ở đây không ai khác đó là người dân làm kinh tế - dân doanh. Đến lúc chúng ta cần bỏ tư duy xem tư nhân là phi xã hội chủ nghĩa; khắc phục nhanh và mạnh mẽ mâu thuẫn lô-gíc trong tư duy, đó là, một mặt, đề cao vai trò làm chủ của dân; mặt khác, lại dị ứng với thành phần kinh tế tư nhân. Khắc phục được lỗi lô-gíc này mới có thể thay đổi được thái độ đối với kinh tế tư nhân, từ đó tạo mọi điều kiện trong hành lang luật pháp, chính sách để kinh tế tư nhân phát triển đa dạng, phong phú.
Gắn liền với đó là, thực hiện liên kết kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân để tăng nguồn lực đầu tư tập trung trọng điểm, đồng thời khắc phục tình trạng manh mún, dàn trải, chia cắt, lãng phí. Kinh tế tư nhân liên kết với kinh tế nhà nước sẽ tạo thành thế và lực của nền kinh tế để giải quyết các vấn đề về việc làm, đời sống, an sinh, phúc lợi xã hội,... mở ra điều kiện và tạo động lực để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, về chính trị: đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế cần tập trung vào mấy trọng điểm sau:
Hiện nay, chúng ta đổi mới tương đối rõ nét và toàn diện về kinh tế, nhưng đổi mới chính trị còn chậm, thậm chí có khi còn do dự, lúng túng chưa thực sự thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế. 
- Đổi mới toàn diện chính trị ở nước ta hiện nay, trước hết là “Tiếp tục nghiên cứu và tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ lý luận về Đảng cầm quyền”. Đây là vấn đề quan trọng nhất về chính trị hiện nay ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam - đảng duy nhất cầm quyền. Cầm quyền trong điều kiện thể chế pháp quyền, hệ thống chính trị nhất nguyên đòi hỏi Đảng làm rõ hơn nữa những vấn đề: Tư duy về Đảng cầm quyền; quan niệm về cầm quyền trong mối quan hệ với lãnh đạo, quản lý quản trị xã hội; nội dung cầm quyền; phương thức cầm quyền; thể chế cầm quyền; mô hình cầm quyền; điều kiện để cầm quyền; dự báo những nguy cơ có thể xảy ra đối với Đảng cầm quyền và chủ động tìm kiếm những giải pháp đẩy lùi nguy cơ, tranh thủ và tận dụng thời cơ phát triển đất nước.
- Giám sát và kiểm soát quyền lực cần được bắt đầu từ trong Đảng và đi liền với nó là dân chủ trong Đảng. Hồ Chí Minh coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Dân chủ trong Đảng tốt, xã hội sẽ dân chủ.
- Kiểm soát quyền lực: tạo ra một thói quen, một nhu cầu biết lắng nghe ý kiến của dân từ cơ sở, tiếng nói của người dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ, quan chức, công chức bắt đầu từ cơ sở. Cùng với đó, tìm cách khắc phục bệnh hình thức trong việc tiếp dân. Tỉnh nào cũng có văn phòng đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, có cả bộ máy, kinh phí định kỳ tiếp dân. Nếu làm tốt tất cả những quy trình trên, nền chính trị của chúng ta mới thực sự là chính trị hành động, chính trị có hiệu quả và đổi mới chính trị khi ấy mới đem lại lợi ích cho nhân dân. Vì vậy, chúng ta cần giải quyết tốt các vấn đề về thực hành dân chủ, nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền và kiểm soát quyền lực. Tháo gỡ được những vấn đề này sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển chứ không cản trở, thậm chí không làm tổn hại đến kinh tế và như thế nhân dân được lợi từ đổi mới chính trị.
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đây là quan hệ giữa 3 chủ thể với chức năng nhiệm vụ khác nhau, với thẩm quyền, trách nhiệm khác nhau. Đảng có trọng trách lãnh đạo, dẫn dắt xã hội; Nhà nước có trọng trách về thể chế hóa, biến quan điểm đường lối của Đảng thành luật pháp, chính sách để thực hiện; nhân dân là chủ thể gốc của quyền lực. Nó là quan hệ giữa các chủ thể chính trị pháp lý được thể chế hóa, được hiến định. Vì vậy, trước hết, chúng ta phải nhận thức, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước - Nhân dân.
Một thời gian rất dài, nói về xây dựng Đảng ta chỉ nói 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đến Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng tiếp tục triển khai quyết liệt hơn, cụ thể hơn, rõ ràng hơn trong nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với 27 biểu hiện cụ thể để cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng tự soi chiếu, rèn luyện phấn đấu phòng, chống và khắc phục. Đây là bước tiến rất quan trọng về tính hợp pháp, hợp lý và tính chính đáng của Đảng cầm quyền. Tuy nhiên, đến lúc phải nhấn mạnh xây dựng Đảng về văn hóa chứ không chỉ dừng lại ở đạo đức, mặc dù đạo đức là cái cốt lõi của xã hội, nhưng trong văn hóa còn có khoa học, nghệ thuật. Trong văn kiện Đại hội XII cũng đã tiếp cận đến vấn đề văn hóa khi chỉ ra: “Xây dựng văn hóa vào trong chính trị và kinh tế. Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(4).
Như vậy, một khía cạnh nữa để đồng bộ giữa đổi mới chính trị với đổi mới kinh tế chính là vấn đề xây dựng Đảng về văn hóa. Nhất là văn hóa của người lãnh đạo quản lý, văn hóa của người đứng đầu, văn hóa của cấp ủy các cấp và không có cái văn hóa nào quan trọng hơn là văn hóa ứng xử với dân, văn hóa chịu trách nhiệm trước dân, cả xin lỗi, từ chức và tự xấu hổ.
Vấn đề chính trị và đổi mới chính trị không chỉ là đổi mới tư duy chính trị, xây dựng tầm nhìn chính trị, bản lĩnh chính trị,... còn là sự hành xử chính trị thực tiễn: bao quát thời cuộc, chiêm nghiệm sự vận động toàn cầu của các quốc gia, kiến tạo thể chế chính trị khách quan, khoa học, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, xây dựng thực lực chính trị, chế định những quyết sách chính trị, nâng cao văn hóa chính trị, con người chính trị, xác định và phát huy hệ động lực tổng hợp đổi mới chính trị của đất nước. Tiếp cận theo hướng này, từ nhận thức, tư duy đến hành động sẽ giải quyết tốt được mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, sẽ có một nền chính trị đoàn kết và thanh khiết theo tư tưởng Hồ Chí Minh - một chính trị mở đường, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững./.
--------------------------------------------
(1), (2), (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 65, 68
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 128 

Nguồn: www.tapchicongsan.vn

Việt Nam - “nguồn cảm hứng của hòa bình”

Dư luận Việt Nam đang dành nhiều sự quan tâm tới cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều sẽ diễn ra trong tuần này tại Hà Nội, với niềm vinh dự và tự hào vì Việt Nam là nước chủ nhà một sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng thu hút sự chú ý của toàn thế giới. Thế nhưng, ở chiều ngược lại, không rõ vì sao một số người lại tỏ ra kém vui, thậm chí có các hành động xuyên tạc, bôi nhọ uy tín, vị thế đất nước, kích động chống phá hòng làm méo mó hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè thế giới.

Nhìn lại năm 2018 - không thể xuyên tạc, phủ nhận thành quả nhân quyền Việt Nam

Thời đại ngày nay, xét từ giác độ khoa học-công nghệ (KH&CN) là thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Cuộc cách mạng này hội tụ nhiều công nghệ, như trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối-Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data), tất cả đều dựa trên công nghệ thông tin (CNTT).

QUYỀN LỰC NGẦM SAU MẠNG XÃ HỘI

Có thể nói mạng xã hội (MXH) trên internet là một bước tiến mới của công nghệ thông tin, đã và đang thu hút sự quan tâm của hàng tỷ người trên thế giới, đồng thời góp phần quan trọng trong khi đưa con người đến gần với nhau hơn, đưa "thế giới ảo" đến gần với "thế giới thật".Tuy nhiên, đằng sau MXH luôn có những quyền lực ngầm, và công nghệ do con người tạo ra có thể trở thành một công cụ bị lạm dụng nhằm khống chế con người, nếu như mất cảnh giác. Liệu đã có bao nhiêu người đủ tỉnh táo, đủ khả năng sàng lọc thông tin khi tham gia các MXH, bao nhiêu người biết đến tác động của các MXH, nhất là tác động tiêu cực? 
Hiện nay trên thực tế, MXH thường được hiểu là các trang web, blog kết nối mọi người với nhau, tạo ra môi trường trên mạng để mọi người trao đổi và chia sẻ thông tin, tình cảm. Tuy nhiên, đây là quan niệm hết sức "hiền lành", chưa phản ánh các "quyền lực ngầm" sau mỗi trang kết bạn và giải trí.Quá trình phát triển của MXH cũng chứa đựng nhiều thay đổi so với mục đích ban đầu. Những MXH ra đời đầu tiên vào những năm 1990 chỉ nhằm mục đích kết bạn, tạo diễn đàn trao đổi nội bộ cho các thành viên trong nhóm, không hề hoặc rất ít liên quan chính trị. Tuy nhiên, ảnh hưởng và lực hấp dẫn của các MXH ngày càng lớn và dần dần được các đại gia tài chính, các thế lực chính trị và nhiều đối tượng khác khai thác để kiếm lợi. Twitter là một thí dụ. Khởi điểm là một dịch vụ nhắn tin di động, đến nay, mỗi ngày MXH Twitter có khoảng 600 triệu lượt người truy cập. Ðể duy trì hoạt động, MXH này đã chấp nhận các khoản đầu tư của các công ty như Digital Sky Technologies có trụ sở tại LB Nga và thực hiện các điều khoản cam kết với công ty này.
Từ một trang web kết nối bạn bè do Mark Zuckerberg lập nên, Facebook đã trở thành MXH đa năng với số thành viên còn đông hơn cả dân số Mỹ, LB Nga. Song ai đang thật sự sở hữu và điều hành MXH khổng lồ này? Một số nguồn tin cho biết, MXH nổi tiếng nhất thế giới này được sở hữu và quản lý bởi các ngân hàng và nhà đầu tư tài chính khổng lồ Rothschilds and Goldman Sachs. Mối quan hệ giữa CIA và Facebook được nói rõ trên trang americasnewsnow.com với những thông tin khiến người đọc giật mình. Trang này cho biết, chính các cựu điệp viên CIA là người gây quỹ cho Facebook, và những người này đã được sử dụng thông tin từ Facebook. Các điều khoản dịch vụ Facebook cũng nói rõ rằng, công ty sở hữu trang web này được sở hữu và có quyền sử dụng bất kỳ thông tin nào đăng tải trên trang này theo bất kỳ cách thức nào từ giờ (thời điểm đăng ký) đến vô tận. Khi trả lời câu hỏi "Có đúng là Facebook thật sự được điều hành bởi CIA?", trang hỏi đáp có tiếng của yahoo có tên miền là answers.yahoo.com đưa ra câu trả lời rằng, các cơ quan tình báo Mỹ như CIA, FBI hay NSA chỉ việc thu thập thông tin cá nhân có sẵn trên Facebook dùng để chống lại chính những người cung cấp thông tin đó, nếu họ muốn. Có lẽ, những người đăng tải thông tin thật của mình trên Facebook sẽ phải giật mình sợ hãi khi biết điều này. Bởi vì bên cạnh những người cố tình khai báo thông tin không chính xác, thì không ít người vô tư cung cấp thông tin cá nhân khá trung thực. Âu đó cũng là bài học sơ đẳng nhất trong bảo mật thông tin cá nhân.Bất cứ ai muốn tham gia vào một MXH như Facebook hay Twoo.com, đều phải đăng ký theo yêu cầu của người điều hành trang web. Thông thường, người tham gia phải đăng nhập một tài khoản email, khai họ tên, giới tính, địa chỉ, nghề nghiệp, thậm chí cả điều kiện kinh tế, quan hệ hôn nhân, sở thích cùng nhiều thứ khác. Các thành viên được yêu cầu tải lên hình ảnh của chính mình, càng nhiều ảnh thì càng có cơ hội biết nhiều thông tin của người khác. Từ nguồn thông tin thu thập được và từ email của thành viên, người điều hành trang web sẽ nhanh chóng lần ra mối quan hệ của các thành viên đó trên in-tơ-nét, kêu gọi các thành viên hãy mời bạn bè, người thân tham gia MXH với những điều kiện ưu đãi tài chính và thông tin hấp dẫn. Càng thuyết phục được nhiều người tham gia, bạn càng có cơ hội được nhiều người biết đến, được xếp vào khách VIP, người nổi tiếng. Cứ thế, như một trò cờ bạc, càng dấn sâu vào các mối quan hệ thân tình trên mạng thì thành viên của MXH càng khó dứt ra, càng khai báo nhiều hơn. Dần dần, các thành viên MXH vô tình cung cấp cho người điều hành mạng một bản lý lịch chi tiết mà chính họ cũng không ngờ tới, bao gồm những mối quan hệ cá nhân đáng lẽ phải giấu kín. Khi họ trò chuyện hoặc gửi thư, ảnh và tài liệu cho bạn bè trên MXH, tất cả những thông tin đó được lưu giữ, và đương nhiên người điều hành MXH biết hết những thông tin này. Sẽ nguy hiểm thế nào nếu như người điều hành MXH sử dụng thông tin cá nhân của các thành viên vào mục đích xấu, hoặc để khống chế, hoặc để theo dõi mọi người. Phần lớn những người tham gia MXH không quan tâm xem ai đứng đằng sau các mạng này, không đọc kỹ các điều khoản tham gia. Khi một người bỏ qua các điều khoản, mặc nhiên người đó đã ký vào một hợp đồng cho phép người điều hành MXH tự do sử dụng thông tin cá nhân của mình. Cũng rất ít người hoài nghi về mục đích giao lưu vui vẻ của các MXH, hoặc cho rằng MXH được lập ra nhằm mục đích kinh doanh thuần túy, mà không xem xét đến các mục đích khác. Sự vô tư này có thể phải trả giá khi tham gia một số MXH có dụng ý xấu.
Xu hướng báo chí và MXH bắt tay nhau để thuyết phục người đọc đang diễn ra. Ngày càng nhiều công ty và tổ chức của chính phủ, cũng như tổ chức phi chính phủ, tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các MXH đang lên do thấy lợi ích từ việc này. Tùy theo mức đầu tư và điều khoản hợp đồng, họ có thể trở thành thế lực ngầm khống chế các MXH có ảnh hưởng. Ðến nay, ở Việt Nam có khoảng 30 MXH đang hoạt động. Ngoài một số MXH có mục đích giải trí đơn thuần, không ít MXH đang bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm thu thập thông tin, phổ biến thông tin bịa đặt, vu cáo, kích động, kêu gọi lật đổ chế độ, chống lại Ðảng và Nhà nước như là một công cụ hiệu quả để thực hiện "diễn biến hòa bình". Một số blog (có địa chỉ, tên tuổi hẳn hoi) thường xuyên cập nhật thông tin như một tờ báo điện tử, đưa nhiều thông tin xuyên tạc, độc hại nhưng chẳng thấy bị xử lý. Hơn lúc nào hết, bất cứ ai tham gia các MXH cần tìm hiểu kỹ về điều khoản tham gia cũng như mục đích thật sự của MXH, để bảo đảm an ninh cho cá nhân, đề phòng thông tin của mình bị các đối tượng xấu lợi dụng; cũng như cảnh giác với các quyền lực ngầm đứng sau thao túng các MXH... Và bất cứ ai khi đọc thông tin trên các MXH cũng cần cảnh giác với những thông tin giả, xuyên tạc, độc hại./.
- Sự thật -