Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018

Kích động trí thức chống Đảng – Âm mưu nham hiểm của các thế lực thù địch


Đảng ta luôn coi trí thức là một bộ phận của lực lượng cách mạng, là một trong những nhân tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Vậy mà, trên Xã luận Bán nguyệt san Tự do ngôn luận số 302, với tựa đề “Trí thức đứng lên”, các thế lực thù địch đã vu khống, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng ta đối với tầng lớp trí thức, nhằm kích động trí thức “đứng lên” chống Đảng.
Thứ nhất, xuyên tạc Đảng ta đàn áp tầng lớp trí thức. Xuyên suốt bài viết các thế lực thù địch, bằng những thông tin bịa đặt rêu rao xuyên tạc Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng không chỉ “bịt miệng” mà còn “đánh vào đầu” đội ngũ trí thức. Bọn chúng cho rằng, Luật An ninh mạng sẽ xâm phạm nghiêm trọng “tất cả những gì mà mọi công dân mạng nói, viết, cảm nghĩ, tất cả những thông tin cá nhân, thuộc quyền riêng tư” và “Ai nói những lời lẽ xây dựng nhưng không hợp ý đảng, ai tung những câu chửi đúng đắn nhưng làm xấu đảng, thì sẽ phải im lặng vĩnh viễn vì những gì mình phát biểu trên internet sẽ đưa mình vào nhà tù”. Đây là sự xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn của các thế lực thù địch
 Luật An ninh mạng ra đời xuất phát từ bối cảnh tình hình an ninh mạng trong nước và yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, bí mật Nhà nước, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định của Hiến pháp. Luật An ninh mạng không cấm hoặc ngăn cản quyền tự do ngôn luận, quyền bày tỏ quan điểm của công dân mà chỉ nghiêm cấm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Còn các vụ án của Đỗ Công Đương, Bùi Mạnh Đồng, Đoàn Khánh Vinh Quang, Nguyễn Hồng Nguyên và Trương Đình Khang đã được xét xử công khai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Việt Nam. Đối với trường hợp của Giáo sư Chu Hảo – nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Tri thức, tuy có nhiều công lao, cống hiến nhưng đã cố tình vi phạm (năm 2009, UBKT Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương kết luận kỷ luật khiển trách đối với ông Chu Hảo, nhưng miễn kỷ luật) và vi phạm mang tính hệ thống, phải kỷ luật vì: Xuất bản nhiều sách có nội dung sai trái; kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, trong đó tập trung vào 3 vấn đề cốt lõi: 1) Đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp; 2) Yêu cầu đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; 3) Đòi phi chính trị đối với lực lượng vũ trang; kiến nghị về Luật An ninh mạng, trong đó kiến nghị bãi bỏ hoàn toàn một số điều của Luật … Với những khuyết điểm hết sức nghiêm trọng như vậy, thì việc khai trù đảng đối với ông Chu Hảo là xác đáng.
Thứ hai, cổ súy đội ngũ trí thức bỏ Đảng và đứng lên chống đối. Sau khi vu khống, xuyên tạc Đảng ta đàn áp tầng lớp trí thức, các thế lực phản động đã hô hào, kêu gọi giới trí thức (trí thức dân sự và trí thức tôn giáo), “Đã đến lúc phải đồng loạt đứng lên, làm trọn thiên chức sĩ phu cao quý của mình. Không thể chấp nhận cho một chủ nghĩa sai lạc, một chế độ bạo tàn, một chính đảng bất lực, những lãnh đạo chính trị thù ghét kiến thức, văn minh, tiến bộ tiếp tục tung hoành”. Các thế lực thù địch cho rằng, rời xa đảng chính là thể hiện “tình đoàn kết” đối với những đảng viên trí thức công khai tuyên bố từ bỏ đảng như Chu Hảo, Mạc Văn Trang, Nguyên Ngọc…
 Kiểu “từ bỏ đảng” với hình thức theo “đóm ăn tàn” liệu có đáng? Thất vọng lắm chứ, bởi, những kẻ “đầu tàu” là những trí thức tự cho mình là tài giỏi xuất chúng, vỗ ngực ta đây và luôn cho mình có quyền bày tỏ “chính kiến” dù chả biết đúng hay sai và khi lợi ích không đạt thì quay sang bất mãn. Những trí thức như vậy thường chỉ hành động vì “cái tôi” chứ mấy ai “đau vì nỗi đau của dân tộc, nhục vì nỗi nhục của giai cấp”. Theo như V.I.Lênin, đây là những kẻ coi trí thức là “siêu giai cấp” hoặc đứng trên giai cấp và Người nói: “Nếu không nhập cuộc với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh quan điểm nhất quán là lấy “Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt” của cách mạng. Do vậy, trí thức tách rời khỏi Đảng là âm mưu phá vỡ khối liên minh giai cấp, khối đại đoàn kết toàn dân. Chúng ta cần hết sức cảnh giác và đấu tranh kiên quyết với những âm mưu, thủ đoạn này./.
https://nhanvanviet.com

Không thể xuyên tạc quyết sách của Quốc hội


Đến hẹn lại lên, mỗi khi Quốc hội họp phiên thường kỳ, các thế lực thù địch trong và ngoài nước lại gia tăng các hoạt động chống phá, xuyên tạc nội dung chất vấn và trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội. Ngày 2 tháng 11, Ánh Liên đã đăng tải trên trang Việt Nam Thời Báo bài viết với tiêu đề: “ĐB Nguyễn Sỹ Cương muốn độc quyền yêu ghét”.
Xúc phạm danh dự và nhân phẩm người khác là hành động trái pháp luật.
Trong bài viết của mình, Ánh Liên đã trích dẫn ý kiến của Đại biểu Nguyễn Sỹ Cương lên tiếng về việc: Lâu nay trên mạng xã hội có một số cá nhân tự cho mình quyền muốn nói gì thì nói, xúc phạm ai thì xúc phạm. Một ví dụ là sau lấy phiếu tín nhiệm, đã có nhiều phát ngôn xúc phạm đến các bộ trưởng. Đại biểu Nguyễn Sỹ Cương đặt câu hỏi là Chính phủ và Bộ Công an có cần xử lý và xử lý được tình trạng này không? Với cách trích dẫn và đặt vấn đề như vậy, Ánh Liên cần phải thấy rằng trước sự phát triển của mạng xã hội như hiện nay, quyền biểu đạt của cá nhân trên trang mạng xã hội là khá tự do, thoải mái, như một cách để thể hiện quyền tự do ngôn luận được Hiến pháp hiến định. Do đó, ranh giới giữa đúng và sai, giữa phù hợp và không phù hợp là khá mong manh. Không riêng gì phát ngôn của các vị bộ trưởng hay các đại biểu Quốc hội, khi một cá nhân phản biện, nhận xét một cá nhân khác theo hướng tiêu cực, rất dễ bị xem là xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của đối tượng đó.
Chính vì vậy, Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Điều này, cũng được thể chế hóa tại Bộ Luật dân sự, khoản 1 điều 34 quy định: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ”. Theo đó, người nào xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác đều bị xử lý. Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra, hành vi đó có thể bị xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đại biểu Nguyễn Sỹ Cương lên tiếng, mục đích là nhằm để góp vào chế tài xử lý hiện tượng xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác là hoàn toàn đúng pháp luật và trách nhiệm của một vị đại biểu Quốc hội, hoàn toàn không có chuyện sai lầm như cách lập luận vô căn cứ của Ánh Liên.
Những nội dung được Quốc hội thông qua là những quyết sách đúng đắn và luôn nhận được sự nhất trí cao của đông đảo nhân dân.
Sau những chỉ trích đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương, Ánh Liên đã cố tình xuyên tạc những quyết sách của Quốc hội thời gian qua, y viết: “đất nước này chịu quá nhiều thiệt thòi bởi những quyết định “đúng hoàn toàn, không thể tranh cãi, đồng thuận 100%”, vì những quyết định đó là duy ý chí, và chính vì thế mà nó kéo lùi xã hội và kinh tế Việt Nam đến hàng thập niên”. Sự thật, qua hơn 70 năm hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng là cơ quan đại biểu cao nhất cho quyền, lợi ích của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện các quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Trong đó, hoạt động lập pháp ngày càng được quan tâm để nâng cao chất lượng của các văn bản luật, pháp lệnh nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, bảo đảm việc thực hiện quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ðồng thời củng cố, hoàn thiện bộ máy nhà nước; góp phần quan trọng vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, thúc đẩy tiến bộ xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tích cực, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Có thể nói rằng, từ khi nước Việt Nam mới ra đời, Quốc hội đã làm tròn trách nhiệm của mình với dân, với nước, góp phần làm cho đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong muốn của Bác Hồ kính yêu chứ không phải như lập luận xuyên tạc của Ánh Liên.
Bên cạnh việc gia tăng chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, thời gian gần đây, một số kẻ cơ hội, thù địch đã rắp tâm xuyên tạc những nội dung được thảo luận, chất vấn trong các kỳ họp Quốc hội. Chính vì vậy, mọi người cần hiểu đúng, hiểu rõ những nội dung chính thống được Quốc hội thảo luận và công khai, tránh bị rơi vào những suy diễn vô căn cứ như bài viết của Ánh Liên./.
https://nhanvanviet.com

Đảng tiền phong, phải có kỷ luật nghiêm minh


Gần đây, trên một số trang mạng xã hội xuất hiện các bài viết có nội dung xấu độc, bình luận xuyên tạc việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận và đề nghị xử lý kỷ luật đối với ông Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ. Từ một việc xử lý kỷ luật Đảng đối với đảng viên, các bài viết cố tình bóp méo, kích động, đẩy vấn đề lên thành một hình thức đàn áp theo kiểu cách mạng văn hóa của thế kỷ 21, rằng “Đảng đánh vào trí thức yêu nước, có tài, có tâm, Đảng kỳ thị đội ngũ trí thức”.
Những bài viết kiểu như thế trên một số trang mạng xã hội là một thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận hiểu sai bản chất của việc thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm khuyết điểm. Cần phải chỉ rõ rằng, việc xem xét, thi hành kỷ luật đảng đối với ông Chu Hảo là thể hiện tính nghiêm minh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một đảng tiền phong, để có sức chiến đấu cao thì phải muôn người như một, Đảng phải có kỷ luật sắt, mọi đảng viên của đảng phải phục tùng và chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật đảng, nói và làm đúng với cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết của Đảng.
Ông Chu Hảo là một đảng viên, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, quá trình công tác, ông cũng đã có những đóng góp cho đất nước, nhất là trong lĩnh vực khoa học, công nghệ. Những đóng góp của ông Chu Hảo đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận, giao trọng trách là Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ. Tuy nhiên, sau khi nghỉ hưu, nhất là thời gian gần đây, ông đã có những dấu hiệu “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa”, vi phạm các nguyên tắc, quy định của Đảng; vi phạm về những điều đảng viên không được làm. Với cương vị là Tổng Biên tập, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, ông Chu Hảo đã lựa chọn, biên tập, xuất bản nhiều cuốn sách có nội dung sai phạm, trái với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, vi phạm Luật Xuất bản, bị các cơ quan chức năng xử lý, thu hồi và tiêu hủy. Tham gia ký vào các thư kiến nghị, thư ngỏ và có nhiều bài viết trên báo chí trong nước và nước ngoài,  trên mạng xã hội như “Kiến nghi về sửa đổi Hiến pháp 1992”, nội dung đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, yêu cầu đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi phi chính trị đối với lực lượng vũ trang. “Thư ngỏ gửi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản”, nội dung thư ngỏ cho rằng, Đảng đã dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng với bộ máy cầm quyền, quan liêu, tha hóa và đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện. “Thư kiến nghị về Luật An ninh mạng”, trong đó kiến nghị bãi bỏ hoàn toàn một số điều của luật này.
Như vậy, ông Chu Hảo đã vi phạm Quy định những điều đảng viên không được làm, có những bài viết, phát ngôn với nội dung trái với Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặc dù được tổ chức đảng nhắc nhở nhiều lần, nhưng ông Chu Hảo không sửa chữa, mà còn cố tình vi phạm và mang tính hệ thống, biểu hiện rõ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa”. Những vi phạm của ông Chu Hảo là rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng, tác động xấu đến tư tưởng xã hội, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật.
Ông Chu Hảo, hay bất kỳ đảng viên nào, đã là đảng viên, thì phải chấp hành kỷ luật đảng, là trí thức, hiểu biết rộng, càng nên tự giác chấp hành kỷ luật. Nếu đảng viên nào không tán thành cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết của Đảng, đương nhiên không còn xứng đáng đứng trong đội ngũ chiến sĩ cách mạng tiên phong của Đảng. Việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiến hành kiểm tra và đề nghị xử lý kỷ luật đối với ông Chu Hảo là đúng đắn, thể hiện sự nghiêm minh của một chính Đảng cách mạng chân chính. Chỉ có những thế lực thù địch, những phần tử bất mãn chính trị mới lợi dụng, xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận thành chuyện, Đảng kỳ thị đội ngũ trí thức, nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, cố tình phá hoại nguyên tắc tổ chức của Đảng. Những thủ đoạn đó cần phải kiên quyết vạch trần, đấu tranh và bác bỏ./.
https://nhanvanviet.com

Thực hành chính sách toàn dân đại đoàn kết


... Các chú đã đánh bật giặc ra khỏi Lào Cai. Bác vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú. Sau đây là những việc cần phải làm ngay: … Thực hành chính sách toàn dân đại đoàn kết1. Đây là lời 1/6 việc quan trọng cần phải làm ngay theo chỉ huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi chiến sĩ và cán bộ Lào Cai”, ngày 27 tháng 11 năm 1950, Báo Sự thật, số 151, ngày 27 tháng 11 năm 1950.

“Quân đội chỉ bảo vệ Tổ quốc” - một sự tuyên truyền nguy hại


Hiện nay, một số người cố tình tán dương cho luận điệu: Quân đội chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc chứ không có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước và thể chế chính trị tổ chức, nuôi dưỡng quân đội đó. Thậm chí, có quan điểm còn cho rằng, với tên gọi “Quân đội nhân dân”, nghĩa là Quân đội chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và nhân dân, chứ không phải trung thành, bảo vệ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là những luận điệu không thể chấp nhận được.

Nhận diện hoạt động lợi dụng hội nhập kinh tế quốc tế để chống phá Việt Nam


Những năm qua, nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch sử dụng mọi phương thức, thủ đoạn hoạt động; trong đó, triệt để lợi dụng hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) nhằm xâm phạm an ninh quốc gia, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội ta nhất định bị phá sản


Nhằm làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, các thế lực thù địch đã và đang dùng mọi thủ đoạn vừa âm thầm, vừa trắng trợn, xuyên tạc, phủ định bản chất, truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”, nhất là sự trung thành tuyệt đối của Quân đội ta với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nâng cao cảnh giác, đập tan các luận điệu xuyên tạc của chúng là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

Không thể phủ nhận vai trò của Quân đội trong tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế


Vừa qua, xuất hiện nhiều ý kiến về việc Quân đội làm kinh tế với dụng ý xấu, thậm chí có cả sự phủ nhận, xuyên tạc vai trò của Quân đội trong tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội. Nhưng điều đó là không thể.
Quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế không phải là vấn đề mới và cũng không phải chỉ có ở Việt Nam, mà nhiều nước trên thế giới cũng cho phép quân đội tham gia trong lĩnh vực này, khác chăng là ở mục đích của hoạt động đó mà thôi. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu một cách tường tận và thấu đáo mục đích, lý do việc Quân đội ta tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, nhưng lại thoải mái tung hô một cách tùy tiện. Có người do thiếu hiểu biết, nhưng lại tự cho mình quyền phán quyết những vấn đề thuộc về quốc kế dân sinh, dẫn đến ngộ nhận; có người cố tình lợi dụng những vấn đề đó để hô hào, cổ súy, với hy vọng được các thế lực thù địch bên ngoài trọng dụng nhằm thỏa mãn những tham vọng cá nhân. Vì thế, cần phải khẳng định rằng:
1. Tham gia lao động sản xuất là một chức năng của Quân đội
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, hoàn toàn khác với bản chất của quân đội các thể chế chính trị, xã hội khác, được thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân, quan hệ cán binh và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả. Quân đội của các nước tư bản chủ nghĩa “là công cụ vững chắc nhất để duy trì chế độ cũ, là thành trì kiên cố nhất để bảo đảm cho kỷ luật tư sản và sự thống trị của tư bản, là nhà trường giáo dục một cách nô lệ và sự phụ thuộc của người lao động đối với tư bản”1. Đây là điểm khác biệt cốt yếu của quân đội tư sản với Quân đội ta. Quân đội của Việt Nam là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, mục tiêu chiến đấu của Quân đội là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia - dân tộc. Ngoài mục tiêu đó, Quân đội không có mục đích nào khác. Nhưng không vì thế mà phủ nhận vai trò của Quân đội trong tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội, mà cùng với chức năng của đội quân chiến đấu, Quân đội ta còn phải thực hiện tốt chức năng đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.
Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, vấn đề quân đội tham gia lao động sản xuất luôn được các triều đại phong kiến Việt Nam vận dụng và phát huy hiệu quả vào công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc. Đó là chính sách “ngụ binh ư nông”. Điều căn bản cốt lõi của chính sách “ngụ binh ư nông” là gửi quân dự bị ở nông thôn, lao động, sản xuất tại địa phương, khi đất nước cần thì huy động họ trở thành binh lính thường trực bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” để vừa bảo đảm cho triều đình luôn duy trì một lực lượng cân đối giữa xây dựng kinh tế với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; giữa sản xuất và chiến đấu, hậu phương và tiền tuyến trong chiến tranh giữ nước, bảo đảm cho quân đội luôn có một đội quân thường trực có số lượng đủ mức cần thiết, tinh thông võ nghệ, sẵn sàng chiến đấu cao và quân dự bị đông đảo, dễ dàng huy động khi có chiến tranh. Chính sách này còn thể hiện mối liên kết hài hòa giữa quân sự và kinh tế (trước hết là nông nghiệp), giữa kinh tế và quân sự, có khả năng chuyển hóa nhanh nền kinh tế từ thời bình sang thời chiến và ngược lại. Nhờ thực hiện tốt chính sách này, mà đất nước ta dưới các triều đại phong kiến không những có số lượng quân thường trực phù hợp, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc, mà còn có lực lượng dự bị hùng hậu, khi đất nước chưa huy động, họ góp phần tạo ra một lượng của cải vật chất to lớn phục vụ quốc kế dân sinh; đảm bảo vũ khí, trang bị và các nhu cầu thiết yếu khác cho quân đội cả trong thời bình lẫn thời chiến.
Hiện nay, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, ngân sách đảm bảo cho quốc phòng hạn hẹp, việc Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đã tạo ra nguồn lực to lớn, đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội và cải thiện đời sống người lao động, củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, góp phần làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ năm 2000 đến nay, các đoàn kinh tế - quốc phòng đã đỡ đầu, đón nhận hơn 101.000 hộ dân vào sinh sống, lập nghiệp; xây dựng mới 536 điểm dân cư tập trung với hơn 32.000 hộ dân; xóa 344 thôn, bản “trắng” đảng viên; củng cố, giúp hàng nghìn chi bộ, tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở đi vào hoạt động có nền nếp, v.v. Chỉ tính riêng năm 2016, tổng doanh thu của các doanh nghiệp quân đội đạt gần 350 nghìn tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt hơn 43 nghìn tỷ đồng; nộp ngân sách Nhà nước hơn 40 nghìn tỷ đồng.
2. Quân đội tham gia lao động sản xuất là một nội dung quan trọng đã được hiến định
Điều 68 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013) ghi rõ: “... kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh...”. Điều đó cho thấy, việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là của toàn dân, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là ở nơi dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế của Quân đội cũng chính hướng tới mục tiêu đó.
Tuy nhiên, để hiểu tường tận vai trò, chức năng tham gia xây dựng kinh tế của Quân đội, cần có một cách nhìn khách quan, khoa học về vấn đề này. Trước hết, thuật ngữ “quân đội làm kinh tế” phải được hiểu dưới góc độ tham gia lao động sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội; không được hiểu với nghĩa kinh tế đơn thuần, dù doanh nghiệp đó sản xuất trong bất cứ lĩnh vực nào. Nhận thức sai lầm, ngộ nhận dù vô tình hay cố ý đối với thuật ngữ này chính là một sự đánh tráo khái niệm, nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Quân đội, gây sự hiểu nhầm trong xã hội, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Quân đội; giữa Quân đội và nhân dân.
Hơn nữa, mục tiêu tham gia lao động sản xuất, xây dựng phát triển kinh tế của Quân đội là: gia tăng sức mạnh của Quân đội và sức mạnh tổng hợp của quốc gia; góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trong đó có kinh tế quốc phòng; tận dụng tiềm lực, tiềm năng của đất nước về mọi mặt; từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn lại được tiến hành ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, nếu không có các đơn vị quân đội, các doanh nghiệp ngoài Quân đội khó có thể tiếp cận được. Ở khía cạnh này ta thấy, ngay từ đầu, vấn đề giữa lợi nhuận và sự toàn vẹn của lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân tộc đã được các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất trả lời một cách dứt khoát. Với thế mạnh của mình và về nguồn nhân lực, vật tư, trang thiết bị, Quân đội tham gia sẽ phải gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước cũng khó có thể đảm đương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, những nơi đời sống của nhân dân còn hết sức thiếu thốn, lạc hậu. Rõ ràng, tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội là một mệnh lệnh, một nhiệm vụ chính trị của Quân đội. Không chỉ tham gia lao động sản xuất đơn thuần, mà các đơn vị quân đội còn có thế mạnh là sử dụng nguồn lực có chất lượng của mình để tổ chức các lớp học văn hóa, giúp nhân dân nâng cao dân trí, xây dựng kết cấu hạ tầng, như: điện, đường, trường, trạm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, v.v. Có thể nói, những đóng góp của cán bộ, chiến sĩ các đoàn kinh tế - quốc phòng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, kết hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội với thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; giữa quân sự, quốc phòng với phát triển kinh tế, xã hội thời gian qua là rất lớn và không thể phủ nhận.
3. Chức năng tham gia lao động sản xuất được khẳng định trong thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội
Hơn 70 năm qua cho thấy, trong bất cứ điều kiện nào, dù khó khăn đến đâu, Quân đội ta cũng vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế bằng những hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Trong kháng chiến chống Pháp, với vô vàn khó khăn chồng chất, trước hết là ăn, mặc, tiếp đến là trang bị vũ khí…, nếu không có các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất, chế tạo vũ khí, khí tài, đạn dược…, liệu Quân đội có thể hoàn thành được nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó! Trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, hậu phương lớn miền Bắc vừa tiến hành công cuộc cải tạo, phục hồi kinh tế từ một nước sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu trong điều kiện chiến tranh, vừa chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, nếu các đơn vị quân đội không tham gia lao động sản xuất, không có các căn cứ hậu cần tại chỗ trên chiến trường miền Nam, nhất là ở các địa bàn chiến lược như: khu 5, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ,... đặc biệt là Bộ đội Trường Sơn, Quân chủng Hải quân để xẻ núi, bạt đèo, xây dựng hàng chục ngàn cây số đường bộ, đường sông, đường ống, đường biển, mở các tuyến vận tải chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam và nước bạn Lào, Cam-pu-chia, liệu có thể có Chiến thắng của ngày 30 tháng 4 lịch sử!
Sau ngày 30 tháng 4, đất nước hoàn toàn thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước ra sức hô hào, cổ súy, viện trợ tiền của, vũ khí cho bọn ngụy quân, ngụy quyền, bọn Fulro tăng cường hoạt động chống phá, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng. Một lần nữa, Quân đội lại tiên phong trên các mặt trận, vừa phải làm tròn chức năng là đội quân chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, vừa là đội quân xung kích vào những nơi khó khăn, nguy hiểm nhất, cùng cả nước xây dựng kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Đồng thời, kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; giữa xây dựng thế trận quốc phòng với phát triển kinh tế, góp phần cùng cả nước từng bước vượt qua khó khăn, thách thức để bước vào hội nhập và giao lưu quốc tế với uy tín và vị thế mới.
Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế; trọng tâm là Nghị quyết 71/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002 “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới - Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội”; Nghị quyết 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 về “Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; Thông tư 69/2017/TT-BQP ngày 03-4-2017 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh kinh tế của Quân đội. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, có bước phát triển toàn diện, đạt kết quả quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh.
Quán triệt quan điểm đó, các đơn vị quân đội đã phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng thực sự là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế, xã hội ở từng địa phương, vùng, miền gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước; tham gia có hiệu quả xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng căn cứ cách mạng, đẩy lùi các hủ tục; xây dựng làng, bản văn hóa; cùng đồng bào các dân tộc xây dựng vành đai biên giới, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Những việc làm đó góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, dân tộc, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Như vậy, lao động sản xuất là một nhiệm vụ chính trị xuyên suốt của Quân đội ta, một giá trị cốt lõi làm nên nhân cách, phẩm giá “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì thế, những luận điệu xuyên tạc của tổ chức, cá nhân thời gian qua dù vô tình hay cố ý là không thể chấp nhận và đáng bị lên án.
Nguồn: tapchiqptd.vn

ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU TUYÊN TRUYỀN, XUYÊN TẠC VỀ CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY


Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) khẳng định: "đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Ðảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc" đang là một trong các nhiệm vụ quan trọng của toàn Ðảng, toàn dân. Trong bối cảnh phức tạp về thông tin hiện nay, để hoàn thành nhiệm vụ này, một trong các vấn đề cần đặt ra là phải luôn tỉnh táo khi tiếp xúc thông tin, không phụ họa theo nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái của thế lực thù địch.

Khi “nhà dân chủ” lo thay cho doanh nghiệp!


Quy định về lưu trữ dữ liệu trong Luật An ninh mạng và dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành là một trong những nội dung mà các thế lực thù địch, phản động đang mượn danh nghĩa “góp ý” để tung ra các bài viết phê phán, chủ yếu theo cách suy diễn chủ quan, quy chụp. Trong khi đó, trên diễn đàn mạng, facebook, nhiều người dù chưa nắm rõ thực chất của quy định này cũng “nhập hội” với tâm lý a dua, hùa theo, share bài viết và có những lời lẽ, bình luận cực đoan, tiêu cực.
Trên trang BBC Tiếng Việt, có nhiều bài viết phê phán việc quy định lưu trữ dữ liệu trong luật và dự thảo nghị định. Họ cho rằng, việc bắt buộc các công ty lưu trữ dữ liệu ở Việt Nam “chẳng những change đem lại lợi ích gì trong việc phòng chống tội phạm, đẩy Việt Nam vào thế đối đầu các tập đoàn công nghệ lớn, mà còn tạo ra nhiều nguy cơ không thể xem thường cho nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế công nghệ, quyền riêng tư của người dân và cả hệ thống chính trị”.
Người viết thậm chí còn móc vào câu “đây không phải là ý kiến của cá nhân tôi mà còn là của rất nhiều học giả, luật sư, chuyên gia công nghệ và các nhà nghiên cứu luật pháp quốc tế” để người đọc tin sự suy diễn trên là “có căn cứ”.
Lập luận sau cho thấy bài viết quy chụp như thế nào: “Muốn lưu dữ liệu thì phải có trung tâm dữ liệu. Nhưng khả năng các công ty nước ngoài xây dựng trung tâm dữ liệu ở Việt Nam là gần như bằng không. Không phải họ ghét bỏ gì Việt Nam, mà đây là bài toán kinh tế. Việt Nam không phải là trung tâm, đầu mối Internet của thế giới và khu vực”.
Cần thấy rằng, tốc độ phát triển Internet ở Việt Nam là rất nhanh, hiện xếp ở vị trí thứ 7 thế giới với gần 60 triệu người dùng Facebook. Khoa học công nghệ, cơ chế điều hành, quản lý cũng không ngừng được nâng cao. Hiển nhiên, đó là thị trường mà các công ty dịch vụ viễn thông mong muốn, làm gì có chuyện “gần như bằng không”?
Cũng về quy định lưu trữ dữ liệu, họ cho rằng, các công ty chỉ có hai lựa chọn: đóng cửa không phục vụ tại Việt Nam hoặc sao chép dữ liệu thô về đặt ở các máy chủ thuê mướn của các công ty như Viettel hay VNPT. Các công ty lớn, có doanh thu tương đối ở Việt Nam sẽ sao chép dữ liệu, còn lại đa số những công ty nhỏ hơn, doanh thu không đáng kể “dự đoán sẽ cấm cửa người đến từ Việt Nam”...
Quan điểm này cho thấy “tác giả” này không hiểu về hiện trạng và những nguyên tắc khi cung cấp, kinh doanh dịch vụ viễn thông, Internet. Hùa theo dạng chỉ trích này, một số người cũng lên mạng tỏ ra quan ngại rồi quy kết rằng, Luật An ninh mạng và các quy phạm đang hình thành trong nghị định không những không có giải pháp nào bảo vệ hữu hiệu mạng Việt Nam trước các hackers mà còn đặt nó trong những nguy cơ cao hơn “khi ép lưu trữ dữ liệu cá nhân trong một quốc gia có nền tảng công nghệ thấp và đội ngũ thi hành công vụ rất dễ lạm quyền”.
Từ đó chế giễu: “Luật không những không giúp bảo vệ chế độ mà còn làm tăng ứng chế trong xã hội, nuôi dưỡng nguy cơ cao hơn cho chế độ”. Họ cho rằng, Việt Nam đã cam kết trong AFTA, WTO, TPP & CPTPP việc đảm bảo quyền tự do lưu chuyển, lưu trữ thông tin mà không bị kiểm soát, ngăn chặn (trừ liên quan đến quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội), không đánh thuế vào các giao dịch điện tử xuyên biên giới. Từ đó, đưa ra “răn đe”: Nếu vẫn thi hành Luật An ninh mạng với cách tiếp cận như 2 nghị định đang chuẩn bị, Việt Nam “chắc chắn sẽ đối diện ngay với các chế tài”! 
Theo quy định Luật An ninh mạng, những loại dữ liệu cần lưu trữ ở Việt Nam gồm: Thông tin cá nhân người sử dụng dịch vụ; dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ; dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra. Như vậy, không phải toàn bộ các dữ liệu được truyền đưa trên không gian mạng phải lưu trữ tại Việt Nam. Quy định này không làm ảnh hưởng hay hạn chế lưu thông dòng chảy dữ liệu số, cản trở hoạt động của doanh nghiệp như một số thông tin tuyên truyền thời gian qua. 
Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất trên thế giới quy định lưu trữ dữ liệu trong nước và yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng. Hiện đã có 18 quốc gia trên thế giới quy định phải lưu trữ dữ liệu ở trong nước, như Mỹ, Canada, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc, Úc, Indonesia, Hi Lạp, Bulgaria, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Venezuela, Colombia, Argentina, Brazil.
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi an ninh quốc gia là ưu tiên hàng đầu. Do đó, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng đã và đang phải phối hợp, đáp ứng yêu cầu của các cơ quan chức năng của các quốc gia trên thế giới trong bảo vệ an ninh quốc gia, phòng chống tội phạm. Nhiều quốc gia đã áp dụng các biện pháp quyết liệt hơn như truy tố khi phỉ báng hoàng gia (Thái Lan), phạt tiền tới 60 triệu USD (Đức), yêu cầu thành lập trung tâm giải quyết tin tức xấu độc (châu Âu), đặt trung tâm lưu trữ dữ liệu (Trung Quốc áp dụng với Apple), yêu cầu đặt máy chủ nếu không sẽ dừng hoạt động Facebook (Nga).
Tại châu Á, nhiều quốc gia đã áp dụng chính sách quản lý chặt chẽ dữ liệu quan trọng quốc gia, trong đó có Indonesia, mới đây là Philippines (xác định cấp độ các loại dữ liệu quan trọng và có chính sách quản lý tương ứng với từng loại cấp độ quản lý). Ngày 30-3-2018, vì lý do an ninh quốc gia, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố lấy ý kiến về chính sách siết chặt kiểm soát nhập cư của Tổng thống Donald Trump, yêu cầu người nhập cảnh phải cung cấp thông tin về tài khoản mạng xã hội trong vòng 5 năm gần nhất.
Đáng chú ý, không chỉ các mạng xã hội của Mỹ như Facebook, Twitter, Youtube, Flickr, Instagram, Google+, Linkedin, Pinterest, Tumbir… mà còn yêu cầu cung cấp thông tin về tài khoản mạng xã hội của nước ngoài như Sina Weibo, QQ, Douban (Trung Quốc), VK (Nga).... Có thể thấy, Mỹ, Anh và nhiều quốc gia khác rất quan tâm tới dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư trên mạng xã hội bao gồm cả hai khía cạnh là thu thập và bảo vệ. Dữ liệu người dùng được coi như tài sản quốc gia, giá trị mang lại từ những dữ liệu này là không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, chính trị mà còn là an ninh quốc gia.
Việc một số ý kiến cảnh báo rằng, quy định về lưu trữ dữ liệu trong Luật An ninh mạng sẽ cản trở và khiến Facebook, Google rút khỏi Việt Nam là không có cơ sở. Thực tế, quy định này là phù hợp với khả năng của doanh nghiệp. Google đã đặt khoảng 70 văn phòng đại diện, Facebook khoảng 80 văn phòng đại diện tại các quốc gia trên thế giới.
Tại khu vực Đông Nam Á, Google, Facebook đã mở văn phòng đại diện Singapore, Malaysia, Indonesia. Hiện Google, Facebook đều đã thuê máy chủ tại nước ta. Theo thống kê sơ bộ, Google thuê khoảng 1.781 máy chủ, Facebook thuê khoảng 441 máy chủ tại 8 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trong nước. Việc lưu trữ dữ liệu người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam giúp các doanh nghiệp này tiết kiệm chi phí kinh doanh, tăng mức tốc độ truy cập và nâng cao chất lượng dịch vụ; giúp các nhà mạng trong nước tiết kiệm kinh phí khi phải mua băng thông quốc tế.
Về kỹ thuật, việc lưu trữ dữ liệu trong nước được tiến hành dễ dàng khi công nghệ cho phép, nhất là áp dụng công nghệ điện toán đám mây và các doanh nghiệp này đã có sẵn kinh nghiệm, thiết bị do áp dụng tương tự ở nhiều quốc gia khác.Việt Nam là một trong những thị trường quan trọng và các doanh nghiệp này đã thu lợi nhuận hàng trăm triệu đô la mỗi năm từ người dùng tại Việt Nam. Do vậy, không có lý gì mà họ lại rời bỏ thị trường Việt Nam.
Việc quy định lưu trữ dữ liệu cũng phù hợp với hệ thống pháp luật trong nước, trong đó có Luật Thương mại năm 2005, Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, quy định các tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài phải lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ qua biên giới như Google, Facebook đang có hoạt động kinh doanh sinh lợi tại Việt Nam thuộc sự điều chỉnh của các văn bản này.
Trong dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi), Bộ Tài chính cũng đề nghị nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài (như Google, Facebook...) phải mở văn phòng đại diện chính thức tại Việt Nam. 
Đối với luật pháp quốc tế, quy định lưu trữ dữ liệu không trái với các cam kết quốc tế như “cảnh báo” của một số người trên mạng. Cụ thể, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994), Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có điều khoản ngoại lệ về an ninh, tôn trọng và đề cao an ninh quốc gia trong bất cứ hoạt động thương mại nào được đề cập trong các cam kết đó. 
Theo Khoản 3 Điều 26 Luật An ninh mạng quy định, chỉ những “doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam”. Như vậy, quy định này không áp dụng đối với toàn bộ các doanh nghiệp.
Nguồn: Theo Báo Công an nhân dân