Thứ Ba, 29 tháng 1, 2019

Cảnh giác với chiêu trò xuyên tạc vai trò cán bộ và công tác cán bộ của Đảng ta

Đã thành thói quen, cứ trước mỗi sự kiện lớn của đất nước, nhất là các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương là trên một số trang mạng phản động, các thế lực thù địch lại đăng phát nhiều tin, bài xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong dịp Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII khai mạc và bế mạc, những âm mưu và hành động chống phá ấy lại tái diễn.
Những giọng điệu xuyên tạc nguy hiểm
Tại Hội nghị lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung ương tập trung bàn về công tác quy hoạch cán bộ cho nhiệm kỳ Đại hội XIII và một số nội dung quan trọng khác. Lợi dụng những yếu kém, bất cập của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị càng gia tăng chống phá với những giọng điệu bịa đặt, bóp méo, xuyên tạc nguy hiểm.
Chúng cho rằng nguyên nhân dẫn đến tình trạng thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ thời gian qua là do sai lầm trong công tác cán bộ của Đảng. Trước việc Đảng ta kiên quyết, xử lý nghiêm minh các sai phạm của hàng loạt cán bộ từ Trung ương đến cơ sở thời gian qua, chúng bóp méo, xuyên tạc rằng đó chỉ là các "phe cánh triệt tiêu nhau". Chúng trắng trợn xuyên tạc rằng, bản chất công tác cán bộ của Đảng ta là không dân chủ, thiếu minh bạch, làm theo kiểu “áo gấm đi đêm”, việc quy hoạch, sắp xếp cán bộ chỉ nhằm “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”, “lợi ích nhóm”... Đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng, khoét sâu những bức xúc của nhân dân trước tình trạng một bộ phận cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, chính quyền các cấp tham nhũng, tiêu cực; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... để tung ra những bài viết mang tính chủ quan, phiến diện một chiều, quy chụp mọi sai lầm, khuyết điểm, yếu kém trong các lĩnh vực của đời sống xã hội cho đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.
Nguy hiểm hơn, chúng cho rằng mục đích của quy hoạch cán bộ không vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích nhân dân mà chỉ là phục vụ "lợi ích nhóm", là bước chuẩn bị để các cán bộ đương chức “hạ cánh an toàn", chuẩn bị cho con em, "vây cánh" tiến thân... Từ đó chúng trắng trợn bịa đặt rằng, trong việc quy hoạch bố trí, sắp xếp cán bộ có sự "thương lượng", "thỏa hiệp" giữa các "phe cánh". Lại có kẻ lên mặt khuyên rằng: “Đảng tốt hay xấu, quan chức tốt hay xấu, người dân đều rõ cả. Do vậy, thay vì chống "luận điệu xuyên tạc"... thì Đảng nên tôn trọng các giá trị dân chủ-nhân quyền-pháp quyền và chứng minh Đảng trong sạch...”... Những giọng điệu thâm hiểm ấy ít nhiều đã tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng, lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng ta. Hơn lúc nào hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần nhận thức rõ vấn đề, từ đó đề cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc bịa đặt, sai trái của các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội.
Thực tiễn khẳng định rõ vai trò của cán bộ và công tác cán bộ
Đề cập về vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ, trong nhiều bài viết, bài nói V.I.Lênin đã khẳng định, cách mạng muốn thành công thì phải coi trọng việc tuyển chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ, vì cán bộ có ý nghĩa quyết định thành bại của cách mạng. Thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga đã chứng minh rõ điều ấy. Nói về vai trò của công tác cán bộ, V.I.Lênin cũng chỉ rất rõ: “Nhiệm vụ tổ chức của chúng ta chính là ở chỗ tìm ra những nhà lãnh đạo và những nhà tổ chức trong quần chúng nhân dân”(1)... Nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những tư tưởng của V.I.Lênin, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Đề cập đến vai trò của cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"(2). "Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(3). Nói về vai trò của công tác tổ chức cán bộ, Người cũng chỉ rõ: “Tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng để có thể sử dụng tốt đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là điều kiện cơ bản cho bộ máy tổ chức Đảng và các cơ quan công quyền vận hành tốt, có hiệu quả và ít bệnh tật”(4). Quan điểm, tư tưởng ấy của Người luôn được Đảng ta quán triệt, vận dụng linh hoạt khi tiến hành công tác cán bộ. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, chứ không có chuyện "áo gấm đi đêm", “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ” hay vì “lợi ích nhóm”... như giọng điệu thâm hiểm mà các thế lực thù địch, phản động rêu rao. Nhờ đó mà Đảng ta đã xây dựng được đội ngũ cán bộ ngày càng trưởng thành, lớn mạnh. Cần khẳng định rõ rằng, đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đặc biệt trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mặc dù số lượng không đông nhưng nhờ giáo dục, bồi dưỡng, tôi luyện được đội ngũ cán bộ có chất lượng, luôn vững vàng trước mọi gian khó, hiểm nguy, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng, luôn đi tiên phong trên mọi mặt trận nên Đảng ta đã đoàn kết, động viên, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh thắng kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Sau giải phóng, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới, đội ngũ cán bộ của ta đã có sự phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nhờ phát huy tốt vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sau 20 năm thực hiện “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng ta đã có bước trưởng thành, phát triển cả về phẩm chất đạo đức và trình độ năng lực, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, bắt nhịp tốt với xu thế hội nhập, có trình độ ngoại ngữ và khả năng ứng dụng công nghệ tốt, đáp ứng kịp yêu cầu làm việc trong môi trường quốc tế. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín. Cán bộ cấp chiến lược vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nhân dân thực hiện. Hầu hết cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang được tôi luyện, thử thách qua thực tiễn, trung thành với Đảng, với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân...     
Không vì “con sâu làm rầu nồi canh” mà phủ nhận vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ
Đúng như đánh giá của Ban Chấp hành Trung ương tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 (khóa XII), bên cạnh những ưu điểm là cơ bản, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ của ta đông nhưng chưa mạnh. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp... Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc cầm chừng, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ, nhất là cán bộ quản lý doanh nghiệp Nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật Đảng và xử lý theo pháp luật. Chỉ tính trong hai năm gần đây, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra làm rõ nhiều sai phạm đặc biệt nghiêm trọng, quyết định kỷ luật và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật đối với 59 cán bộ diện Trung ương quản lý, 13 cán bộ Ủy viên Trung ương và nguyên Ủy viên Trung ương; một Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên vi phạm...
Công tác cán bộ vẫn còn những hạn chế, bất cập, như: Việc thực hiện một số nội dung có nơi còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất... Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương... Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Luân chuyển cán bộ và thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh không phải là người địa phương, trong đó có bí thư cấp ủy các cấp còn bất cập, chưa đạt yêu cầu. Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, "cánh hẩu" xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách phù hợp. Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ... Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình, còn tập trung nhiều ở cấp trên... Việc kiểm tra, giám sát thiếu chủ động, chưa thường xuyên, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa theo kịp tình hình... Đầu tư xây dựng đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ...
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng những khuyết điểm, sai phạm của một số tập thể, cá nhân nói trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh”. Chúng ta không thể chỉ "thấy cây mà không thấy rừng", không thể lấy cái cá thể để suy diễn, quy chụp lên cái tổng thể. Không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Có thể khẳng định rằng, sự trưởng thành, lớn mạnh của đội ngũ cán bộ những năm qua là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong điều kiện mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ. Dư luận đồng tình với quan điểm của Đảng qua phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: “Phải coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”(5). Đặc biệt đối với việc chuẩn bị nhân sự cán bộ cho nhiệm kỳ tới, tại Hội nghị Trung ương 9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục chỉ đạo: “Trong quá trình thực hiện phải hết sức thận trọng, bảo đảm đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định của Đảng về công tác cán bộ, phải thật sự công tâm, khách quan, tuyệt đối không được thiên vị, cá nhân, không để lọt vào quy hoạch những người không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có quan điểm lệch lạc, mất đoàn kết, tham nhũng, tiêu cực”.

Những giọng điệu tuyên truyền xuyên tạc về vai trò cán bộ và công tác cán bộ, nhất là nội dung Hội nghị Trung ương 9 là chiêu trò hết sức lố bịch, đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đảng ta càng tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ thì các thế lực thù địch, phản động càng gia tăng sự xuyên tạc chống phá. Những kết quả đạt được, những bài học rút ra từ thực tiễn càng tiếp thêm ý chí, quyết tâm để chúng ta tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị; phát huy được trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong xây dựng đội ngũ cán bộ. Mặt khác, toàn xã hội cần đề cao cảnh giác, nhận diện, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.                        

Blocger “Mẹ Nấm” và ảo vọng “zân chủ” trời Tây

Tên đẹp - đầu mất định hướng
          Chủ Blocger “Mẹ Nấm” là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, cái tên thật đẹp, khi đọc lên người ta dễ liên tưởng đến đóa quỳnh hương thơm ngát, mảnh mai, tinh khiết thường nở về đêm. Tuy nhiên, tất cả những gì Quỳnh thể hiện về thái độ chính trị, tư tưởng, hành động chống phá điên cuồng đều cho thấy cái tên mỹ miều “Như Quỳnh” rốt cuộc chỉ là cái vỏ bề ngoài chứa đựng cái đầu trống rỗng, mất định hướng, trở thành kẻ tay sai chính trị phản Đảng, phản dân, hại nước.
“Hành trình” zận chủ của “Mẹ Nấm”
          Điều “Mẹ Nấm” phải “hi sinh tất cả” để đấu tranh là “Dân chủ” cho Việt Nam? Khởi nguồn của sai lầm là “Mẹ Nấm” bị đám zận chủ Việt Tân lôi kéo, kích động hận thù chính trị - hận thù chế độ. Tháng 3/2009, Quỳnh tham gia tổ chức phản động “Người Việt yêu nước” và trực tiếp nhận tiền từ tổ chức Việt Tân để in áo thun có nội dung phản đối dự án bôxít Tây Nguyên. Dấn thân sâu vào con đường chống phá, Quỳnh tham gia nhiều hội nhóm trái phép như: “Tuyên bố công dân tự do”; “Mạng lưới blogger Việt Nam”; liên tục kêu gọi tụ tập, biểu tình gây rối an ninh, trật tự dưới các hình thức: “dã ngoại nhân quyền”, “café nhân quyền”, “biểu tình chống Trung Quốc”, đòi tự do cho “tù nhân lương tâm”...
Trong hành trình “đòi” zân chủ, Quỳnh đã đăng tải hơn 400 bài viết trên facebook và blog với nội dung xuyên tạc sự thật, xuyên tạc lịch sử, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, bôi xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xâm hại uy tín cá nhân, tổ chức, kích động, lôi kéo nhân dân. “Mẹ Nấm” còn biên tập, in ấn tài liệu: “Chấm dứt tình trạng công an giết hại dân thường”, trong đó thống kê 31 người dân bị chết khi bị tạm giam, tạm giữ. Tài liệu này cố tình đánh tráo bản chất, khiến người đọc hiểu sai vấn đề, đồng thời xúc phạm, hạ uy tín của lực lượng Công an.
 “Bán rẻ” Tổ quốc, sống kiếp tha hương
Với “thành tích” bất hảo trong “hành trình” phản Đảng, phản dân, hại nước, xúc phạm cờ Đảng, cờ Tổ quốc của mình, ngày 10/10/2016 “Mẹ Nấm” bị công an tỉnh Khánh Hòa khởi tố, bắt tạm giam. Và ngày 29/6/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên án 10 năm tù giam với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Bước chân lên xe về trại giam, Quỳnh chỉ kịp để lại giọt nước mắt muộn màng trước chuỗi ngày trả án sau song sắt. Đó chính là giọt nước mắt của nuối tiếc tự do, của thân bại danh liệt, của sự “bỏ rơi” để con cái phải bơ vơ, gia đình ly tán vì sự mù quáng theo đuổi zân chủ viễn vông của mình. Trong khi đó ở trời Tây, những kẻ xúi giục Việt Tân thì phủi tay, sống nhởn nhơ, vô can và tiếp tục dùng thủ đoạn để lôi kéo mua chuộc thêm những kẻ ngu muội khác. Ngày 17/10/2018 sau hơn 2 năm thụ án, “Mẹ Nấm” được phóng thích và bị trục xuất sang Mỹ. Ở Mỹ một lần nữa “Mẹ Nấm” lại “tự hào” khoác lên mình lá cờ 3 sọc, khăn 3 sọc để thể hiện quyết tâm chống phá đến cùng vì “zân chủ” cho Việt Nam.
Đường về cho “Mẹ Nấm”?

          Là cây nấm đừng là cây nấm độc – sự có mặt của nó trên cuộc đời này không chỉ vô ích mà còn có hại đến cuộc sống con người và môi trường. Vì vậy, nếu là nấm, hơn thế nữa là “Mẹ Nấm” hãy là cây nấm có ích cho đời, cho người; nếu là Như Quỳnh hãy xứng đáng với cái tên của mình, như đóa quỳnh hương lặng lẽ tỏa hương khoe sắc; nếu là con người ai cũng có quê hương, Tổ quốc hãy đừng là kẻ phản Đảng, phản dân, phỉ báng Tổ quốc. Quay đầu lại sẽ là bờ, con người có gốc gác, nguồn cội, “cóc chết 3 năm vẫn quay đầu về núi”, hãy tỉnh ngộ, hãy tự mở cho mình, cho gia đình, con cái mình một con đường để có ngày còn được trở về với quê hương, Tổ quốc./.
PMC

Đồ Hiếm – Kẻ xuyên tạc sự thật

Gần đây, trên trang mạng Danlambao xuất hiện bài viết: “Hồ Chí Minh là tên gián điệp Tàu” của tác giả Đồ Hiếm. Nội dung bài viết là sự xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn về thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đồ Hiếm không biết lôi từ đâu ra tấm thẻ căn cước với những dòng chữ loằng ngoằng, mờ ảo không rõ ràng với một loạt dữ liệu như Y chú thích là: “Nguyễn Ái Quấc (không phải Quốc); nghề nghiệp: Sinh viên; ngày sinh: 15/01/1894 tại Vinh …. Rồi kết luận rằng: “Nguyễn Ái Quấc hoàn toàn không phải là Hồ Chí Minh”. Không biết đầu óc của Đồ Hiếm có vấn đề gì không?, mà đưa ra tấm thẻ căn cước của người có tên là Quấc với những dữ liệu của người đó, rồi đi so sánh, phân tích và khẳng định, đây không phải là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Thật là buồn cười cho Đồ Hiếm, Y đúng là thần kinh có vấn đề; cái thẻ căn cước mà Y đưa ra là của người có tên (Quấc), đâu phải của Nguyễn Ái Quốc. Nhưng Y lại lấy cái đó để ghán ghép và xuyên tạc rằng: “Hoàn toàn không hồ nghi gì nữa, Hồ Chí Minh (tức Thiếu tá Hồ Quang) chính là tên gián điệp Tàu được ĐCSTQ gài vào ĐCSVN để tiếm quyền lãnh đạo trong Mặt Trận Việt Minh trong những năm từ 1938 – 1945. Sau thế chiến thứ 2, Hồ Quang đã mạo nhận làm Nguyễn Ái Quốc để lãnh đạo Việt Minh cướp chính quyền của Thủ tướng đầu tiên của nước VN Độc lập – Trần Trọng Kim, nhằm thực hiện từng bước âm mưu bành trướng cộng sản trên khắp vùng Đông Dương”. Thật là bỉ ổi, vô liêm sỉ hết mức. Đây là âm mưu cực kỳ nguy hiểm và thâm độc của Đồ Hiếm cũng như các thế lực thù địch, nhằm xuyên tạc, bôi nhọ, vu khống tiến tới “hạ bệ” hình ảnh, sự nghiệp cũng như tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng dân tộc Việt Nam và bè bạn quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ vĩ đại trọn đời hy sinh cho đất nước và hạnh phúc của nhân dân. Khi nói về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng – một học trò xuất sắc, một cộng sự thân thiết, gần gũi của Người đã viết, đó là “cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”. Hồ Chí Minh không chỉ để lại cho dân tộc ta một sự nghiệp cách mạng vĩ đại, mà còn để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản cao quý, đó là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức cao đẹp, suốt đời hy sinh phấn đấu quên mình cho đất nước và hạnh phúc của nhân dân. Trong con người Hồ Chí Minh có đầy đủ phẩm chất hội tụ của một lãnh tụ thiên tài, đồng thời Người còn là hiện thân của một lãnh tụ kiểu mới của nhân dân: Vĩ đại mà không cao xa; thanh cao mà vô cùng giản dị, gần gũi, thân thiết và gắn bó với quần chúng; hết lòng, hết sức chăm lo cho sự nghiệp độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; mong muốn xây dựng một nước Việt Nam mạnh giàu; nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân và chính bản thân Người là tấm gương tiêu biểu.
Người đã tự sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Cả cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người chỉ có một tâm nguyện và ham muốn: “…ham muốn đến tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Nói về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về tinh thần tận tuỵ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân của Người, Đảng ta khẳng định: “Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị. Tư tưởng và đạo đức của Người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn chúng ta”
Như vậy, những luận điệu đê hèn, sảo trá của Đồ Hiếm không thể lừa bịp được ai, mà càng lộ rõ bản mặt và tâm địa đen tối, thâm thù của Y và đồng bọn. Chúng ta phải tỉnh táo, kiên quyết đấu tranh, vạch trần và bác bỏ những luận điệu này./.

Theo: nhanvanviet.com

Chủ động phòng ngừa tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan

Một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ ra là: “Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước”. Đây là những biểu hiện hết sức nguy hiểm mà các thế lực thù địch lợi dụng để tăng cường xây dựng, phát triển những phần tử phản động ở trong nước để chống phá cách mạng từ bên trong là chủ yếu, thay cho ý đồ trước đây là sử dụng lực lượng chống phá từ bên ngoài là chủ yếu. Một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch, cùng các phần tử cơ hội chính trị đang thực hiện là kích động để phát triển mạnh “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo” hòng tạo ra cuộc chiến ngay trong nội bộ, với cảnh “nồi da nấu thịt” như đã diễn ra ở một số nước.

Công quyền của người Việt Nam, chủ quyền của đất nước Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam quyết định

Năm 2019, Việt Nam là điểm sáng của thế giới trên nhiều lĩnh vực. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, văn hóa xã hội, y tế, giáo dục phát triển; nhiều thành tựu của Việt Nam được thế giới ghi nhận trong đó có quyền con người và phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, lãnh thổ.
Trước hết, thành tựu của đất nước trong xóa đói, giảm nghèo đã thể hiện sinh động về mục tiêu tốt đẹp của xã hội mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đang ra sức xây dựng; là minh chứng rõ ràng về bảo đảm quyền con người góp phần cùng thế giới thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ. Trong hơn 30 năm đổi mới Việt Nam đã giảm nhanh tỉ lệ nghèo từ trên 70% xuống dưới 10% được thế giới công nhận như một kỳ tích trong cuộc chiến chống đói nghèo nhằm đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ một nước đói nghèo, lạc hậu, năm 2011 Việt Nam đã bước vào ngưỡng của các quốc gia có thu nhập trung bình với mức tăng trưởng bình quân 6%/năm. Đặc biệt, với việc xây dựng nông thôn mới Việt Nam đang mang đến cho thế giới mẫu hình phát triển nông thôn bền vững, nông nghiệp sinh thái, nông dân sáng tạo gắn nông nghiệp với du lịch để làm nên những giá trị mới cho nông nghiệp Việt Nam, xây dựng những miền quê đáng sống đang trở thành điểm đến của du khách bốn phương.
Thứ hai, sự phát triển vượt bậc của văn hóa, xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được khôi phục và phát huy đang trở thành động lực tinh thần cho sự phát triến toàn diện đất nước. Nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng phát triển, góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần và đem lại cuộc sống vui tươi, lành mạnh và hạnh phúc cho con người. Ở khía cạnh này có thể khẳng định Việt Nam là quốc gia hạnh phúc, dẫu chưa giàu về vật chất như Nhật Bản, Hàn Quốc nhưng người Việt Nam được sống trong hạnh phúc, người già, trẻ em được gia đình, xã hội quan tâm, không bị cô quạnh, giam cầm trong thế giới vật chất như nhiều quốc gia phát triển khác. Phải chăng, đây là sự khác biệt trong triết lý phát triển của Việt Nam so với thế giới, là hạnh phúc của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.
Thứ ba, giáo dục, y tế Việt Nam phát triển ngang tầm khu vực, nhiều lĩnh vực ngang tầm thế giới. Việc đẩy mạnh phổ cập giáo dục, đa dạng hóa, xã hội hóa giáo dục đã mang lại kết quả tích cực, mọi người dân đều được hưởng thụ thành quả giáo dục; giáo dục đang trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng tốt yêu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có thể khẳng định nguồn nhân lực Việt Nam có sự ưu trội vượt bậc; người Việt Nam giỏi Toán học, giỏi Vật lý, đáp ứng tốt cho mọi yêu cầu, lĩnh vực phát triển của đất nước trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp 4.0.
Y tế Việt Nam phát triển đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt hơn 86% (năm 2018); nhiều bệnh truyền nhiễm và dịch bệnh được ngăn chặn, một số bệnh nan y được chữa trị, nhiều thành tựu trong nội khoa, ngoại khoa của Việt Nam đạt tầm thế giới. Với sự kết hợp phát triển Đông và Tây y trong khám và điều trị, cùng với cơ sở vật chất, trang bị và đội ngũ chuyên gia tay nghề cao, trong tương lai gần Việt Nam sẽ trở thành một trong những trung tâm điều dưỡng và chăm sóc sức khỏe của khu vực và thế giới.
Thứ tư, quốc phòng, an ninh vững chắc, chủ quyền quốc gia được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Điều này được minh chứng bởi Việt Nam đang là điểm đến, điểm đầu tư an toàn của thế giới; Việt Nam hiện nay có thế và lực, đủ sức mạnh để bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trước sự tấn công của các thế lực thù địch.
Thế nhưng, dưới “nhãn quan” của đám “danlambao” thì Việt Nam vẫn đang “hoang tàn, đau khổ”, bởi vì đám này vẫn luôn nhắm mắt làm ngơ, mịt mù trong hoang tưởng, can tâm làm công cụ bồi bút cho các thế lực thù địch sai khiến để tuyên truyền chống phá Việt Nam. Luận điệu quen thuộc của chúng là xuyên tạc tình hình đất nước, phủ nhận thành quả cách mạng, vu cáo Đảng, Nhà nước, xúc phạm lãnh tụ, kích động tâm lý chống đối của nhân dân. Trong đó, Bảo Giang nổi lên là một kẻ cực đoan, chua ngoa, độc địa.
Mặc dù vô cứ, vô bằng chứng nhưng Bảo Giang vẫn vu cáo “Nhà nước Cộng sản Việt Nam hôm nay đang thúc bách trẻ thơ Việt Nam học chữ tàu, đã thế còn phải viết chữ Việt kiểu Tàu, rồi học cách sống của Tàu”. Đây là sự vu cáo trắng trợn bởi từ trước đến nay chưa bao giờ Đảng, Nhà nước áp đặt học ngoại ngữ, học cách sống cho người dân Việt Nam theo mẫu hình của bất cứ quốc gia nào. Rõ ràng, Bảo Giang là một kẻ thâm thù Việt Nam nên mới đưa ra những suy luận thiếu căn cứ như vậy. Bởi, nếu bình thường thì Bảo Giang phải biết thế nào là đúng, sai; liệu sự bịa đặt của Y có thể lừa bịp được ai trong thời buổi thông tin đa chiều và nhận thức của người dân đã được nâng lên như hiện nay.
Bảo Giang còn quy kết Việt Nam đi theo Trung cộng. Tại sao, Y có hai con mắt mà không mở ra nhìn xem Việt Nam có quan hệ đối tác với bao nhiêu quốc gia, tham gia bao nhiêu tổ chức quốc tế. Không thấy đất nước Việt Nam hoàn toàn tự do, độc lập; người Việt Nam, dân tộc Việt Nam luôn ngẩng cao đầu trước thế giới; công quyền của người Việt Nam, chủ quyền của đất nước Việt Nam hoàn toàn do nhân dân Việt Nam quyết định và đấu tranh bảo vệ; người Việt Nam luôn tự hào với tương lai của chính mình và của đất nước.
Phải chăng, nếu có sự nhục nhã thì chỉ có hạng người như đám Bảo Giang, những kẻ có phẩm chất của Chí Phèo, sự lưu manh của Xuân Tóc Đỏ, đang sống tầm gửi trong các tổ chức phản động, trông chờ vào sự bố thí của các thế lực thù địch mà đang tâm phản dân, hại nước. Thương thay cho thân phận của những kẻ lạc đường./.

Theo: nhanvanviet.com

Nhận diện và đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” thông qua mọi âm mưu, thủ đoạn, các hoạt động khác nhau để lợi dụng vấn đề quyền con người và dân chủ nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quyền con người
Về phương thức, mục tiêu, nền tảng tư tưởng của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quyền con người. 
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, trong suốt gần 30 năm qua, lợi dụng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu, các thế lực thù địch tăng cường sử dụng vấn đề quyền con người (QCN) và dân chủ làm công cụ để đẩy mạnh chống phá chế độ chính trị - xã hội ở nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể khái quát như sau (1): 
Về phương thức hoạt động: Lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm khâu đột phá; lấy mua chuộc kinh tế làm mũi nhọn; lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ; dùng ngoại giao để hỗ trợ, hậu thuẫn. 
Về mục tiêu hoạt động: Tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận - thực tiễn về QCN để chống phá nền tảng tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN) của QCN ở Việt Nam. Tiến hành các hoạt động chống phá thực tiễn bảo đảm QCN trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, dân tộc, thông tin, truyền thông, giáo dục - đào tạo, văn hóa nghệ thuật, tư pháp,... kể cả hợp tác quốc tế, nhằm thúc đẩy sự chệch hướng XHCN của công cuộc đổi mới ở nước ta. Tuyên truyền, ca ngợi các giá trị của nhân quyền tư sản nhằm kích động, cổ vũ việc phân hóa, chuyển hóa tư tưởng chính trị XHCN, đồng thời thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản, trước tiên trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta. 
Về nền tảng tư tưởng: Về mặt tư tưởng, là hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa (TBCN) thường được nhân danh “tư tưởng văn hóa phương Tây” hoặc “quan niệm của các quốc gia phát triển” với nội dung cơ bản là: quan niệm một cách phiến diện, có khi tuyệt đối hóa quyền cá nhân và các quyền dân sự, chính trị đến mức đồng nhất chúng với QCN nói chung; coi nhẹ quyền của tập thể, của dân tộc và chủ quyền quốc gia; coi nhẹ tính bình đẳng của các chủ thể quyền và các nội dung quyền, nhất là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, vốn chiếm vị trí cơ bản và là yêu cầu có tính bức thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam.
Về mặt chính trị, là biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc về văn hóa, coi tư tưởng nhân quyền phương Tây mang tính phổ quát toàn nhân loại, thậm chí cao hơn chủ quyền quốc gia. 
Về những biểu hiện mới trong chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quyền con người.
Thứ nhất, các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận và thực tiễn về QCN ở nước ta.
Trong những năm qua, các lực lượng chuyên môn, chuyên trách và hệ thống chính trị nói chung đã chủ động, tích cực phát hiện, phê phán, phản bác, ngăn chặn, nhiều hành động, hành vi truyền bá tư tưởng đối lập với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, như ca ngợi chủ nghĩa đa nguyên, dân quyền tư sản; đòi bỏ Điều 4 trong Hiến pháp; đòi xây dựng nhà nước “tam quyền phân lập” theo mô hình phương Tây. Các lực lượng thù địch còn nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng tiêu cực”, “bảo vệ chủ quyền biển đảo”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”,... mà thực chất là nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước, chia rẽ nội bộ, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân; gây hoài nghi, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, không chỉ trong lĩnh vực QCN, ở Việt Nam. 
Trong vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, bằng những thành tựu bảo vệ, bảo đảm QCN, quyền con người trong thời kỳ đổi mới, chúng ta đã vạch trần âm mưu, thủ đoạn ra sức đề cao dân chủ tư sản, xuyên tạc bản chất nền dân chủ XHCN và QCN ở nước ta. Chẳng hạn, chúng đưa ra những chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “nhân quyền không biên giới”, vấn đề “nhân quyền về bản chất không còn được coi là công việc thuộc nội bộ của một quốc gia”, để chống phá Việt Nam. Chúng tìm mọi cách chính thức hóa việc Việt Nam có “tù chính trị”, các “đảng chính trị”, “lực lượng đối lập”, để ngụy biện về cái gọi là sự tồn tại thể chế “đa nguyên, đa đảng”. Từ đó chứng minh việc xóa bỏ con đường phát triển theo định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, “đang diễn ra trong thực tế” ở Việt Nam.
Thứ hai, phòng chống các hoạt động kích động vấn đề dân tộc thiểu số và xuyên tạc Việt Nam có “hai chính sách tôn giáo”. 
Về vấn đề dân tộc, chúng ta đã phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại hoạt động của các thế lực thù địch trong việc sử dụng các phương tiện điện thoại, fax để liên lạc, chỉ đạo hoạt động chống đối, gây rối, nhằm tăng cường kích động tư tưởng ly khai, tự trị, như “mỗi dân tộc là một nhà nước”, vấn đề dân tộc bản địa,...; thậm chí tổ chức bạo loạn tại một số vùng dân tộc thiểu số, như ở Tây Nguyên vào các năm 2001, 2004, ở Mường Nhé (Lai Châu) năm 2011. 
Về vấn đề tôn giáo, chúng ta đã phê phán, phản bác, ngăn chặn và xử lý công khai trước pháp luật nhiều hành động, hành vi của các thế lực thù địch rêu rao về cái gọi là “hai chính sách tôn giáo” (chính sách bảo vệ, bảo đảm trên hình thức và “chính sách” không bảo vệ, không bảo đảm trong thực tế) thông qua “cơ chế xin - cho” nhằm tạo lập các “tôn giáo quốc doanh”; phân biệt đối xử, sách nhiễu đối với đạo Thiên chúa, đạo Tin lành, đạo Khơme Nam tông; về cách ly, đàn áp những “nhà hoạt động tôn giáo” bằng cách giam giữ, xử phạt, bỏ tù mà không qua xét xử; về kiểm soát chặt chẽ việc in ấn kinh sách, hạn chế đào tạo chức sắc, dòng tu, hội đoàn; về kiểm soát việc đi lại, phong bổ hàng ngũ chức sắc tôn giáo; về chiếm đất của nhiều cơ sở tôn giáo,... 
Thứ ba, phê phán, xuyên tạc rằng Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp. 
Chúng ta đã phát hiện, vạch trần, phê phán, phản bác các luận điệu của các thế lực thù địch, như: Việt Nam kiểm soát chặt chẽ việc xuất bản và cung cấp thông tin cho báo chí; bắt giữ, giam cầm, tước đoạt quyền hành nghề của những nhà báo và các blogger “dám nói lên sự thật”, “dám đưa thông tin lề trái”; hoặc quy kết, chụp mũ tội danh cho các nhà báo, blogger viết không theo đúng tư tưởng của Đảng hoặc theo “Tổng Biên tập độc nhất”;... Chúng kích động khuynh hướng cực đoan trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, mạng truyền thông xã hội và cả hoạt động văn hóa, văn nghệ.
Thứ tư, xuyên tạc, kích động trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo, văn hóa - nghệ thuật và tung tin dưới nhiều hình thức nhằm thúc đẩy sự suy thoái, suy đồi, rối loạn về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong các tầng lớp nhân dân. 
Các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, xã hội, ưu tiên cấp học bổng để thu hút học sinh, sinh viên tham gia tìm hiểu “lối sống Mỹ”, “nghiên cứu nhân quyền”, đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức hội nhóm tôn giáo trong học sinh, sinh viên,... nhằm “thay máu” giới trẻ. 
Đặc biệt, các thế lực thù địch tăng cường‎ tung tin dưới mọi hình thức, đưa tin bịa đặt, thất thiệt một cách có chủ ý nhằm bôi xấu, bôi đen các vị lãnh tụ, lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước ta. Chúng cũng xoáy sâu vào những biểu hiện tiêu cực, suy thoái, suy đồi trong tư tưởng, đạo đức, lối sống, kể cả những hoạt động, sinh hoạt trong đời sống thường nhật, với sự phụ họa một cách vô ý thức của truyền thông đại chúng theo cơ chế thị trường, nhằm phá hoại kỷ cương, trật tự an toàn xã hội, làm rối loạn tư tưởng, đạo đức, lối sống trong xã hội nói chung.
Thứ năm, hoạt động xâm nhập, kích động nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản, trước tiên trong nội bộ Đảng, Nhà nước.
Một mặt, với những âm mưu, thủ đoạn chống phá nhằm tác động “từ bên trong” như nêu trên, các thế lực thù địch thông qua sự suy thoái, suy đồi về tư tưởng, đạo đức, lối sống để chuyển hóa tư tưởng chính trị trong nội bộ Đảng, Nhà nước. Mặt khác, chúng tăng cường tác động “từ bên ngoài” để cổ vũ, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng chính trị nhân quyền tư sản. Sự tác động “từ bên ngoài” thể hiện ở chỗ: Chúng yêu cầu Nhà nước Việt Nam phải đáp ứng tiêu chuẩn về các quyền dân sự, chính trị tương tự các quốc gia phát triển phương Tây, như: tự do lập hội, tự do xuất bản báo chí tư nhân, hoạt động tôn giáo “không cần sự quản lý của Nhà nước”,... trong khi đó chúng cố tình phớt lờ các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa và phát triển vốn không kém phần quan trọng, thậm chí bức xúc, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Đồng thời, chúng gắn QCN với các vấn đề hợp tác phát triển, dân chủ, dân tộc, tôn giáo, tiếp cận thông tin, và các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp, đặc biệt chúng đòi hỏi dân sự hóa hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh nhằm thúc đẩy sự phát triển tối đa của xã hội dân sự. 
Trước tình hình trên, cả hệ thống chính trị đã đẩy mạnh xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, đồng thời cảnh giác, phát hiện, ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch tìm cách tác động bằng tâm lý thông qua mạng truyền thông xã hội, để kích động mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, Nhà nước nhằm phân hóa cán bộ, đảng viên, lôi kéo những người có biểu hiện bất mãn. Chúng ta cũng đã phát hiện, ngăn chặn những hoạt động móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, thoái hóa, những người có ý kiến bất đồng trong cán bộ, đảng viên, một số văn nghệ sĩ..., tham gia viết bài, biên soạn tài liệu để phát tán trong nước và gửi ra nước ngoài, nhằm kích động chuyển hóa về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong các tầng lớp nhân dân và chống phá chế độ chính trị - xã hội ở Việt Nam. Thậm chí chúng tìm cách mua chuộc bằng tiền, hiện vật có giá trị để làm thay đổi tư tưởng, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ, đảng viên, nhất là ở cấp chiến lược và cơ quan trọng yếu. Từ đó, chúng tác động để những người này tham mưu, đề xuất nhằm thay đổi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm chệch hướng XHCN trong quá trình đổi mới đất nước. 
Quan niệm, đặc điểm và phương thức đấu tranh với các thế lực thù địch trên lĩnh vực quyền con người 
Quan niệm đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người. Thực tiễn đấu tranh trên lĩnh vực QCN ở nước ta trong thời gian qua cho thấy, phải chủ động, tích cực kết hợp sử dụng các cách thức, phương pháp, biện pháp về tư tưởng chính trị, pháp lý, từ nhận diện, phê phán, phản bác đến ngăn chặn và xử lý công khai bằng pháp luật nhằm làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Từ đó, có thể quan niệm “đấu tranh trên lĩnh vực QCN” là sự chủ động, tích cực nhận diện, phê phán, phản bác, ngăn chặn, xử lý bằng pháp luật nhằm làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn sử dụng QCN như một công cụ chống phá chế độ chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay. 
Đặc điểm đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người là đấu tranh về tư tưởng chính trị - pháp lý giữa hai loại hình giá trị XHCN và TBCN (hay thường được gọi là giá trị văn hóa phương Tây) về dân chủ (tức các quyền dân chủ) và nhân quyền. Đây là đặc điểm có tính bản chất của đấu tranh trên lĩnh vực QCN. Đặc điểm này cho thấy, đấu tranh trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền không có giới tuyến địch - ta rõ ràng, mà nằm ngay trong nhận thức của mỗi người và mỗi tổ chức. Do đó, nhân dân, trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên, đều là chủ thể đấu tranh với các thế lực thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Trong phương thức đấu tranh trên lĩnh vực QCN, cần coi trọng cách thức, phương pháp, biện pháp tư tưởng chính trị, như tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức, tích cực phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, coi trọng cách thức kết hợp đấu tranh với đối thoại. 
Phương thức đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người. Trên cơ sở đường lối, chủ trương, quan điểm, chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước, sử dụng linh hoạt các cách thức, phương pháp và biện pháp tư tưởng chính trị, pháp lý nhằm làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc sử dụng QCN làm công cụ chống phá chế độ chính trị - xã hội ở nước ta. Trước các hoạt động chống đối công khai của các tổ chức, cá nhân đối với chế độ chính trị - xã hội ở nước ta, cần kết hợp tốt các cách thức, phương pháp và biện pháp đấu tranh, như nhận diện kịp thời, phê phán, phản bác và nhất là phải kiên quyết ngăn chặn, xử lý công khai bằng pháp luật.
Phương thức đấu tranh tại các tổ chức quốc tế trên lĩnh vực QCN, gồm: Đấu tranh theo cơ chế dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc (tại Hội đồng Nhân quyền và tại Ủy ban NGOs thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc - ECOSOC) theo cách thức bảo đảm chủ quyền quốc gia và nghĩa vụ là thành viên Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, lựa chọn và tiến hành các phương pháp, biện pháp đấu tranh thích hợp với từng vụ, việc cụ thể phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc. 
Đấu tranh theo cơ chế dựa trên công ước tại 7/10 Ủy ban (Tiểu ban) về QCN của Liên hợp quốc theo cách thức bảo đảm chủ quyền quốc gia và nghĩa vụ là thành viên tham gia công ước. Trên cơ sở đó, lựa chọn và tiến hành các phương pháp, biện pháp đấu tranh thích hợp với mỗi vụ, việc cụ thể và phù hợp với quy chế của mỗi ủy ban công ước. 
Đấu tranh tại các Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tổ chức môi trường quốc tế,... theo cách thức bảo đảm chủ quyền quốc gia và hợp tác với thể chế của các tổ chức này mà Việt Nam đã tham gia. Việc lựa chọn và tiến hành các phương pháp, biện pháp đấu tranh phải phù hợp với thể chế của mỗi tổ chức quốc tế và hệ thống công pháp quốc tế, và với mỗi loại quyền (lao động, nghiệp đoàn, an sinh xã hội, kinh doanh, thương mại, môi trường,...). 
Đấu tranh với một số tổ chức phi chính phủ quốc tế, như đấu tranh với Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức ân xá quốc tế, Tổ chức phóng viên (ký giả) không biên giới về những báo cáo phiến diện, xuyên tạc, không khách quan đối với tình hình nhân quyền ở Việt Nam, theo cách thức bảo đảm chủ quyền quốc gia và trên cơ sở hệ thống công pháp quốc tế. Việc xác định phương pháp, biện pháp đấu tranh phải phù hợp với vị trí, tính chất của mỗi tổ chức này và mỗi vụ, việc cụ thể. 
Phương thức đấu tranh với các tổ chức, cá nhân người Việt Nam trong và ngoài nước thù địch với chế độ chính trị - xã hội trên lĩnh vực QCN ở nước ta theo cách thức tuân thủ hệ thống pháp luật Việt Nam. Đối với người Việt ở nước ngoài phải tính đến mức độ phù hợp với hệ thống công pháp quốc tế và pháp luật của nước sở tại. Việc xác định phương pháp, biện pháp đấu tranh phải thích hợp với tính chất của mỗi tổ chức chống đối của người Việt ở ngoài nước hay tổ chức, cá nhân người Việt ở trong nước, phải phù hợp với mức độ, tính chất chống đối của mỗi vụ, việc cụ thể./.
--------------------
Nguồn: www.tapchicongsan.vn


Thanh niên Quân đội với việc phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch

Phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, thanh niên Quân đội vừa là đối tượng chịu tác động, vừa là lực lượng xung kích đi đầu trong hoạt động này.

Thành tựu nhân quyền của Việt Nam là to lớn, vững chắc - không ai có thể phủ nhận được

Ngày 22-1-2019, tại trụ sở Liên Hợp Quốc (Geneva, Thụy Sĩ), Đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung dẫn đầu đã tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ Phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Cùng đi và tham dự phiên đối thoại có các cơ quan: Đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an, Ủy ban Dân tộc, Ban Tôn giáo Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao. Tại buổi đối thoại này, có 122 đại diện các quốc gia tham gia. Trước đó, đầu tháng 12 năm 2018, Việt Nam đã chính thức nộp Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III cho Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.
Báo cáo phổ quát là cơ chế rà soát định kỳ (còn được gọi là Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR), do Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc quy định từ năm 2008. Đây là cơ chế rà soát định kỳ, 4-5 năm một lần về tình hình bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại tất cả các nước thành viên Liên Hợp Quốc trên tinh thần bình đẳng, đối thoại xây dựng. Việt Nam đã tham gia các chu kỳ UPR và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các khuyến nghị từ các buổi báo cáo trước đó. Báo cáo phổ quát định kỳ lần này của Việt Nam là lần thứ 3 (lần thứ nhất, 2009; lần thứ 2, 2014) thể hiện rõ quan điểm về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.
Trong Báo cáo lần thứ 3, trước hết, Việt Nam làm rõ việc thực hiện các khuyến nghị, từ báo cáo lần thứ 2. Tính đến tháng 10-2018, Việt Nam đã thực hiện được 175 trong số 182 khuyến nghị (chiếm 96,2%); 7 khuyến nghị còn lại đang được xem xét thực hiện vào thời điểm phù hợp.
Báo cáo UPR của Việt Nam lần này đã trình bày khá đầy đủ về thành tựu của Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền con người. Khác với Báo cáo lần thứ 2, những nội dung của Báo cáo được đặt trong bối cảnh cuộc Cách mạng khoa học Công nghệ lần thứ Tư - Cuộc cách mạng dựa trên internet, mạng điện tử nói chung, mạng xã hội nói riêng; đồng thời, Báo cáo cũng được xây dựng dựa trên quan điểm Đại hội Đảng XII của Đảng cộng sản Việt Nam và Hiến pháp 2013 cùng nhiều bộ luật liên quan đến quyền con người.
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng ta xác định: “Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết…; Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân…”. Kế thừa thành tựu đã đạt được trong nhiều năm qua, thực hiện quan điểm của Đại hội XII, Nhà nước ta đã đạt được những thành quả to lớn về quyền con người.
Trên lĩnh vực bảo đảm quyền dân sự, chính trị, trước hết, đó là những thành tựu về xây dựng pháp luật. Tính đến cuối năm 2018, Quốc hội ta đã sửa đổi và ban hành mới hơn 90 văn bản luật, trong đó có những bộ luật như: Luật Báo chí, 2016 (có hiệu lực từ 01-01-2017); Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, 2016 (có hiệu lực từ 01-01-2018); Luật Tiếp cận thông tin, 2016 (có hiệu lực từ 01-7-2018); Nghị định 72/2013 về “Quản lý sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng” (có hiệu lực từ 01-9-2013); Luật An ninh mạng, 2018 (có hiệu lực từ 01-01-2019), v.v. Tất cả những bộ luật và Nghị định nói trên đều tuân thủ nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, theo đúng Hiến pháp 2013. Trong đó, có 2 nguyên tắc cơ bản sau: (1) “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, … (Điều 3); (2) “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”( Điều 4).
Đáng chú ý, trong nội dung sửa đổi và trong những bộ luật mới đã thể hiện những nhận thức, quan điểm mới của Nhà nước ta trên lĩnh vực quyền con người. Chẳng hạn, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) không chỉ đơn giản hóa các thủ tục cấp phép cho các hoạt động thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo, mà còn bảo đảm quyền cho tất cả người có đạo - cho dù họ là công dân Việt Nam hay người nước ngoài, cho dù họ là người tự do hay đang thi hành án. Mục 5 (Điều 5) quy định: “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, … bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo”. Điều 8, quy định: “ Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, v. v. Hiện nay, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta diễn ra bình thường, nếu không nói là sôi động.
Nghị định của Chính phủ về “Quản lý, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”, xác định chính sách của Đảng và Nhà nước ta là tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho nhân dân ở các vùng khó khăn có thể sử dụng dịch vụ này. Điều 4 quy định: “Thúc đẩy việc sử dụng Internet trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế,…; Phát triển hạ tầng Internet băng rộng đến trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu, thư viện, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, các điểm truy nhập internet công cộng và hộ gia đình. Chú trọng việc phổ cập dịch vụ internet ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”
Trong bối cảnh internet, mạng điện tử phát triển mạnh mẽ, bảo vệ chủ quyền Quốc gia trên không gian mạng là một nhiệm vụ quan trọng, tất yếu. Tuy nhiên, Luật An ninh mạng vẫn xác định nguyên tắc pháp quyền của Nhà nước ta, đồng thời tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Đó là những nguyên tắc sau: “Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; …; Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia với … bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng” (Điều 4).
Đối với các trang mạng đang hoạt động tại Việt Nam, Luật An ninh mạng quy định: “Doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ; Doanh nghiệp ngoài nước quy định tại khoản này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam” (Điều 26). Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng theo Luật An ninh mạng này dựa trên thông lệ quốc tế và không cản trở hoạt động của các doanh nghiệp mạng đang triển khai dịch vụ ở Việt Nam, trong đó có tập đoàn Google, Facebook.
Cho đến nay, Nhà nước ta đã ký kết, gia nhập hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người. Đó là “Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc” (1981); “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” (1981); “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội”, (1982); “Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị” (1982); “Công ước về quyền trẻ em” (1990); “Công ước chống tra tấn (CAT) và “Công ước về quyền của người khuyết tật” (2014), v.v. Những công ước nói trên đều đã được nội luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Việt Nam cũng đã tích cực tham gia đối thoại về quyền con người với nhiều quốc gia, như: Mỹ, Australia, Thụy Sỹ và EU. Những cuộc đối thoại này nhằm trao đổi quan điểm và học hỏi lẫn nhau để nâng cao hơn sự hưởng thụ quyền của người dân ở mỗi quốc gia.
Quyền làm chủ của người dân Việt Nam được thể hiện rõ ở quyền bầu cử và ứng cử. Kết quả cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV (nhiệm kỳ 2016-2021) đã cho thấy điều này. Theo số liệu thống kê được công bố chính thức, cả nước có 67.485.482 cử tri, trong đó số cử tri đã tham gia bỏ phiếu là 67.049.091 người, đạt tỷ lệ 99,35%. Cơ cấu Đại biểu trúng cử thể hiện quyền lựa chọn đại biểu của nhân dân, kết quả cụ thể như sau: Đại biểu là người dân tộc thiểu số: 86 người (đạt 17,30%); Đại biểu nữ: 133 người (đạt 26,80%); Đại biểu là người ngoài Đảng: 21 người (đạt 4,20%); Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi): 71 người (đạt 14,30%). Mặc dù cơ cấu này chưa đạt yêu cầu của Hội đồng bầu cử đề ra, nhưng so với các cuộc bầu cử trước đây đã có những tiến bộ nhất định.
Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân được thể hiện ở tiếng nói của những đại biểu đại diện của mình tại Quốc hội. Những ai theo dõi thông tin trên mạng đều thấy rõ, các kỳ họp Quốc hội trong những nhiệm kỳ gần đây đều được truyền hình trực tiếp để người dân theo dõi; những phiên họp chất vấn được nhân dân đặc biệt quan tâm; những vấn đề nóng như về sách giáo khoa, về các chốt thu phí BOT,... đã được nêu ra và trao đổi thẳng tại hội trường giữa đại biểu với các lãnh đạo bộ liên quan.
Về quyền tự do ngôn luận, báo chí và tự do sử dụng internet, mạng xã hội của người dân đã được bảo đảm không chỉ về tư tưởng, chính trị, mà cả về cơ sở kỹ thuật (do Nhà nước đầu tư). Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của khoa học, công nghệ, đặc biệt là internet, mạng điện tử nói chung, mạng xã hội nói riêng, nên việc kết nối dịch vụ này được tiến hành khá sớm. Năm 1997, Việt Nam kết nối với xa lộ thông tin của thế giới, đặt nền móng cho internet Việt Nam. Từ đây, người Việt Nam đã có thể tiếp cận với các nguồn thông tin dựa trên internet, mạng xã hội.
Theo báo cáo của tổ chức nghiên cứu về internet - WAS (We Are Social- là một công ty có trụ sở ở Anh), Việt Nam hiện nay với dân số xấp xỉ 93.6 triệu người, tính đến tháng 01-2017 có tới 50.050 triệu người dùng internet, chiếm 53% dân số, và có đến 46 triệu người dùng mạng xã hội, chiếm 48% dân số. Với tỷ lệ này, Việt Nam là một trong những nước đứng hàng đầu khu vực Đông Nam Á về sử dụng internet, mạng xã hội.
Nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, Nhà nước ta đã thành lập Ủy ban quốc gia, đẩy nhanh tiến độ xây dựng “Chính phủ điện tử”; Cổng thông tin điện tử của các cơ quan Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ công trực tuyến để cán bộ, cơ quan, tổ chức đối thoại trực tiếp với nhân dân, nâng cao hiệu quả tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp.
Trên lĩnh vực bảo đảm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, kết quả nổi bật trong năm 2018 là, tăng trưởng GDP đạt 6,98%, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra (6,7%); bình quân tăng trưởng 3 năm 2016 - 2018 tăng 6,57% (chỉ tiêu kế hoạch  5 năm là 6,5 - 7%); dự trữ ngoại hối nhà nước đạt trên 60 tỷ USD. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 9 tháng (đầu năm 2018) đạt trên 352 tỷ USD, cả năm ước đạt 475 tỷ USD, tăng 11,7%; trong đó, xuất khẩu 238 tỷ USD, tăng 11,2% (mục tiêu 7 - 8%). Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Thực hiện chủ trương giảm phiền hà cho người dân, các cơ quan chức năng đã cắt giảm (ước tính) 50% thủ tục hành chính; trong đó, cắt giảm, đơn giản hóa 61% thủ tục, điều kiện kinh doanh và 60% thủ tục kiểm tra chuyên ngành hàng hóa xuất nhập khẩu. Cả năm có khoảng 130 nghìn doanh nghiệp đăng ký mới.
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, theo Nghị quyết của Quốc hội, Nhà nước đã huy động nguồn lực xã hội vào các hoạt động giảm nghèo, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số gặp điều kiện khó khăn. Theo đó, tốc độ giảm nghèo năm 2018 khá nhanh so với thời kì trước; tỷ lệ hộ nghèo tính đến cuối năm 2018 còn 5,2 - 5,7%, giảm 1 - 1,5% (riêng các huyện nghèo giảm trên 4%); tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế cả nước ước đạt 86,9%, vượt chỉ tiêu đề ra (85,2%). Thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng, trong đó thu nhập của hộ nghèo tăng từ 15 đến 20%; tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ 9,88% năm 2015 xuống 7,69% năm 2017. 38% số người dân tộc ít người dịch chuyển lên nhóm có điều kiện kinh tế cao hơn (mức chung cả nước là 28%). Có thể nói hiếm có một quốc gia nào lại có nhiều chính sách xã hội như Nhà nước ta. Chẳng hạn như sự hỗ trợ về tài chính cho người nghèo, hộ nghèo thông qua “Ngân hàng chính sách xã hội”; hoặc chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo ở nông thôn (theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg)… 
Trên lĩnh vực giáo dục, cho đến nay đã có 63 tỉnh, thành phố đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học. Bình đẳng giới là một trong những chỉ số về quyền con người quan trọng. Cho đến nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (2016 – 2021), tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Quốc hội đạt 26,71%, cao hơn mức trung bình thế giới là 22,3%; phụ nữ làm chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở kinh doanh đạt hơn 27,8%. Trên lĩnh vực văn hóa, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định mới về công nhận các danh hiệu văn hóa. Cho đến năm 2018, Việt Nam có thêm 11 di tích và 29 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được xếp hạng.
Trên lĩnh vực quan hệ quốc tế về quyền con người, Nhà nước ta đã thể hiện nhất quán là một thành viên có trách nhiệm đối với cộng đồng Quốc tế, trong đó có Hội đồng nhân quyền. Việt Nam từng được bầu là thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc (Nhiệm kỳ 2014-2016).  
Đáng tiếc trong thời gian qua, trên internet, mạng xã hội đã có những tiếng nói không công bằng và nhận thức sai lầm về quyền con người ở Việt Nam. Chẳng hạn, họ cho rằng những blogger lợi dụng internet, mạng xã hội, tán phát thông tin xuyên tạc, chính sách, pháp luật Việt Nam, hoặc họ cho rằng bị các cơ quan chức năng xử lý, bắt, đưa ra xét xử tại tòa là “vi phạm quyền con người”. Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người là một lĩnh vực pháp luật, trong đó quyền bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ và phải chịu những hạn chế nhất định. Trong tính hiện thực của nó, quyền con người là một quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia; việc bảo đảm quyền con người phải gắn liền với bảo đảm quyền của cộng đồng, của xã hội và của Nhà nước.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) quy định: "Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá…” (Điều 1). Quy định này có nghĩa, các Nhà nước có quyền đưa ra các quy định pháp luật dựa trên truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa hoặc chế độ chính trị, trong đó có các quy định về quyền và nghĩa vụ của cá nhân.
Quyền tự do ngôn luận, báo chí, Công ước trên quy định: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp; Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, …; Việc thực hiện những quyền này … kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, để: “Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội” ( Điều 19).
Như vậy có thể nói, thành tựu nhân quyền Việt Nam là to lớn, vững chắc, dựa trên chế độ xã hội ưu việt, thể chế nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cùng với một hệ thống pháp luật quốc gia hoàn thiện, không có ai, không lực lượng chính trị, trong và ngoài nước có thể phủ nhận được.

Nguồn: www.tapchiqptd.vn