Thứ Năm, 28 tháng 2, 2019

Những chuyển dịch địa chính trị ở khu vực Đông Á và tác động tới an ninh khu vực

Cục diện địa chính trị trên phạm vi toàn cầu đang trải qua những chuyển dịch chưa từng có và chịu sự chi phối của sự cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Trong đó, Đông Á - khu vực phát triển năng động nhất thế giới hiện nay cũng đồng thời là khu vực có nhiều mâu thuẫn đan xen cùng các nguy cơ xung đột tiềm ẩn - là một trong những tâm điểm cạnh tranh giữa Mỹ, Trung Quốc, Nga, EU, Ấn Độ và Nhật Bản, đã và đang tạo ra những thay đổi lớn đối với an ninh trong khu vực.
Đông Á - tâm điểm cạnh tranh giữa ba trật tự thế giới mới
Đông Á là nơi hiện diện và cạnh tranh quyết liệt của các cường quốc hàng đầu thế giới, gồm: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và khối EU và sẽ định hình chu kỳ thứ tư của sự phát triển kinh tế thế giới. Trong đó, Mỹ, Trung Quốc và Nga chủ trương xây dựng trật tự thế giới theo ba xu hướng khác nhau về bản chất. Tổng thống Đô-nan Trăm chủ trương xây dựng trật tự thế giới mới mà trong đó Hoa Kỳ sẽ từ bỏ vai trò “cảnh sát toàn cầu” để đóng vai trò “quan tòa của thế giới”, định đoạt mọi điều ước quốc tế theo điều kiện của Oa-sinh-tơn. Còn Trung Quốc chủ trương xây dựng trật tự thế giới mới theo “sự đồng thuận Bắc Kinh” thông qua nhiều kế hoạch chiến lược, trong đó then chốt là sáng kiến “Vành đai và Con đường” và kế hoạch “Sản xuất tại Trung Quốc 2025”. Về phía Nga, Tổng thống V. Pu-tin chủ trương xây dựng một trật tự thế giới mới, trong đó tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, giàu hay nghèo, đều cần được tôn trọng và lắng nghe như nhau. Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm từng nhận định rằng, các đời tổng thống Mỹ trước đây đã không sớm nhận ra Trung Quốc hiện đứng đầu thế giới về kinh tế, còn Nga đứng đầu thế giới về quân sự. Vì thế, chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ dưới thời Tổng thống Đô-nan Trăm coi Trung Quốc và Nga là “đối tác cạnh tranh toàn diện”.
Biển Đông: tâm điểm cạnh tranh địa chính trị Mỹ - Trung
Cạnh tranh chiến lược toàn diện giữa Mỹ và Trung Quốc xoay quanh hai trụ cột chính là kế hoạch “Sản xuất tại Trung Quốc 2025” và đề án chiến lược “Vành đai và Con đường”. Hai trụ cột này đóng vai trò then chốt trong việc tạo điều kiện cho Trung Quốc kiểm soát 80% thị trường hàng hóa công nghệ cao toàn cầu trong tương lai không xa. Vì thế, chính giới thuộc hai đảng cầm quyền ở Mỹ là Cộng hòa và Dân chủ đều thống nhất quan điểm cho rằng “Vành đai và Con đường” và “Sản xuất tại Trung Quốc 2025” là hai trụ cột của trật tự thế giới mà Trung Quốc chủ trương xây dựng. Để xây dựng hai trụ cột này, Trung Quốc đã hoạch định chiến lược nhằm đưa Trung Quốc phát triển thành cường quốc biển và đại dương trên cơ sở một định đề của học thuyết địa chính trị ở Anh trong thế kỷ XIX: “Quốc gia nào làm chủ được đại dương thế giới sẽ kiểm soát thương mại toàn cầu. Quốc gia nào kiểm soát được thương mại toàn cầu sẽ kiểm soát kinh tế thế giới và do đó cũng bá chủ thế giới”. Thực hiện chiến lược biển, từ năm 2009, Trung Quốc bắt đầu tiến hành nhiều biện pháp nhằm độc chiếm Biển Đông, trong đó đáng chú ý nhất là từ năm 2013, họ ráo riết cải tạo và xây dựng phi pháp các đảo nhân tạo trên Biển Đông - điểm khởi đầu “con đường tơ lụa trên biển” trong đề án chiến lược “Vành đai và Con đường”. Chỉ sau 5 năm, Trung Quốc đã hoàn thành việc xây dựng các đảo nhân tạo và đang tăng cường củng cố các cơ sở quân sự tại Biển Đông, biến các đảo nhân tạo thành các “tàu sân bay vĩnh cửu” nhằm kiểm soát tuyến đường biển có tầm quan trọng chiến lược đối với dòng thương mại toàn cầu trị giá tới 5,3 nghìn tỷ USD mỗi năm luân chuyển qua đây.
Để ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông, Đạo luật ủy quyền quốc phòng của Mỹ trong năm tài khóa 2018 - 2019 được Tổng thống Đô-nan Trăm phê chuẩn ngày 15-5-2018 xác định nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn hoạt động quân sự hóa phi pháp của Trung Quốc trên vùng biển này. Đồng thời, Mỹ hối thúc các nước đồng minh tăng cường sự hiện diện quân sự trên Biển Đông. Theo đó, một số quốc gia đồng minh của Mỹ, nhất là Anh và Pháp đã có kế hoạch hành động cùng với Mỹ ngăn chặn hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông. Đáng chú ý là, Mỹ cùng với Ấn Độ, Nhật Bản và Ô-xtrây-lia hình thành “tứ giác kim cương” để hiện thực hóa chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương của Oa-sinh-tơn, nhằm khống chế tham vọng của Trung Quốc trong đề án chiến lược “Vành đai và Con đường”.
Để giảm áp lực từ phía Mỹ, Trung Quốc chấp nhận cùng với các nước Đông Nam Á xúc tiến đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) mà Bắc Kinh trước đây luôn tìm cách trì hoãn (cuộc đàm phán đầu tiên về COC sẽ diễn ra tại Mi-an-ma trong quý 1 - 2019). Tuy nhiên, Trung Quốc đưa vào COC nhiều nội dung, như: cấm các quốc gia bên ngoài Biển Đông tập trận quân sự ở vùng biển này; hạn chế các hãng dầu khí nước ngoài hoạt động thăm dò và khai thác ở Biển Đông. Tuy nhiên, các nước ASEAN sẽ không thể chấp nhận điều kiện của Trung Quốc nên các cuộc đàm phán về COC còn là một quá trình bất định.
Cũng cần phải nói thêm rằng, thời gian qua, hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông phần nào làm lu mờ tranh chấp của họ với Nhật Bản đối với nhóm đảo mà Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư, còn Tô-ky-ô gọi là Xen-ca-kư. Tuy nhiên, Nhật Bản không chỉ lo ngại trước tham vọng của Trung Quốc chiếm đoạt Xen-ca-kư, mà hơn thế nữa là hoạt động của Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông, đe dọa trực tiếp an ninh quốc gia, trước hết là an ninh kinh tế của Nhật Bản (do các tuyến đường biển vận chuyển năng lượng và thương mại của Nhật Bản với thế giới chủ yếu đi qua Biển Đông). Vì vậy, năm 2018, Nhật Bản đã gia tăng ngân sách quốc phòng để hiện đại hóa quân đội, trước hết là hải quân, sẵn sàng vô hiệu hóa thách thức an ninh từ Trung Quốc.
Cạnh tranh Nga - Nhật liên quan tới quần đảo Ku-rin
Trong bối cảnh cục diện thế giới và Đông Á đang thay đổi nhanh chóng, Nga và Nhật Bản rất cần giải quyết dứt điểm tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Ku-rin (hiện đang thuộc chủ quyền của Nga). Năm 2016, trong chuyến thăm Nhật Bản của Tổng thống Nga V. Pu-tin, lãnh đạo hai nước nhất trí khởi động các cuộc tham vấn về một cơ chế hoạt động kinh tế chung trên quần đảo Ku-rin và đồng ý đẩy nhanh các cuộc đàm phán dựa trên cơ sở Tuyên bố chung Xô - Nhật năm 1956. Theo đó, sau khi hai bên ký kết Hiệp ước hòa bình, Liên Xô sẽ trao trả cho Nhật Bản đảo Ha-bô-mai và Xi-cô-tan. Vấn đề tranh cãi hiện nay là sẽ ký kết Hiệp ước hòa bình trước và giải quyết vấn đề chủ quyền sau hay là ngược lại.
Theo Tổng thống V. Pu-tin, Nga và Nhật Bản sẽ sớm ký kết Hiệp ước hòa bình mà không kèm theo bất cứ điều kiện tiên quyết nào. Chỉ sau đó, hai bên sẽ đàm phán về yêu cầu của Nhật Bản được Nga trao trả 2 trong số 4 hòn đảo trong quần đảo Ku-rin. Điều Mát-xcơ-va lo ngại nhất là, sau khi trao trả, những hòn đảo đó sẽ biến thành căn cứ quân sự của Mỹ, đe dọa an ninh của Nga ở Viễn Đông. Để xóa bỏ sự hoài nghi này, Thủ tướng Nhật Bản Sin-dô A-be đã từng cam kết việc quân đội Mỹ đồn trú tại Nhật Bản không gây ra bất kỳ mối đe dọa nào đối với Nga. Tuy nhiên, Nga đã có bài học nhãn tiền là Mỹ từng cam kết sẽ không mở rộng NATO nếu Liên Xô đồng ý dỡ bỏ bức tường Bec-lin và thống nhất nước Đức, nhưng sau đó NATO đã không chỉ kết nạp thêm nhiều thành viên mới mà còn đưa căn cứ quân sự tiến sát biên giới Nga.
Chuyển dịch địa chính trị chưa từng có trên bán đảo Triều Tiên
Năm 2018, thế giới còn chứng kiến sự chuyển dịch địa chính trị chưa từng có trên bán đảo Triều Tiên, trong đó hai miền Triều Tiên cũng như Mỹ và Triều Tiên cam kết phi hạt nhân hóa và thiết lập nền hòa bình lâu dài. Cuộc gặp lịch sử giữa nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm đã mở ra một chương hoàn toàn mới trong quan hệ hai nước. Dự kiến trong năm 2019, các cuộc đàm phán giữa Oa-sinh-tơn và Bình Nhưỡng sẽ tiếp tục và có thể tạo thêm bước tiến mới trong tiến trình phi hạt nhân hóa và thiết lập nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên. Trong thông điệp năm mới, Tổng thống Hàn Quốc Mun Giây-in cam kết tiến trình hướng tới hòa bình sẽ không thể đảo ngược trên bán đảo Triều Tiên. Trong diễn văn chào năm mới 2019, nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un cũng tuyên bố sẵn sàng tiến hành cuộc đàm phán thứ 2 với Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm. Hi vọng, trong năm 2019 sẽ có những chuyển biến mới tích cực theo hướng phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên và quan hệ liên Triều sẽ có bước cải thiện mới đáng kể.
Nga, EU và Ấn Độ đều điều chỉnh chiến lược hướng tới Đông Á
Trong bối cảnh châu Á nói chung, Đông Á nói riêng đang nổi lên như một tâm điểm cạnh tranh địa chính trị của thế giới, các cường quốc Nga, Ấn Độ và khối EU đều có chiến lược hướng tới Đông Á. Theo đó, Nga đã tổ chức Diễn đàn kinh tế Phương Đông - nơi được coi là “Diễn đàn Đa-vôt của Nga” để phát triển khu vực Viễn Đông giàu tiềm năng. Năm 2018, Nga nâng cấp quan hệ Nga - ASEAN từ đối tác thành đối tác chiến lược. Nga cũng là quốc gia có mối quan hệ tốt đẹp với cả Triều Tiên và Hàn Quốc. Ấn Độ điều chỉnh Chiến lược hướng Đông thành Hành động hướng Đông, nhằm đẩy mạnh hợp tác kinh tế, chính trị và an ninh với các nước Đông Á. Năm 2018, EU triển khai chiến lược kết nối châu Á như một đối trọng với đề án chiến lược “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc.
Cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đang tạo ra cục diện hoàn toàn mới ở Đông Á, trong đó ẩn chứa nhiều yếu tố bất định và rất khó dự đoán. Lý do bởi, khác với châu Âu - nơi có các thể chế an ninh đa phương đã từng tồn tại nhiều thập kỷ, như: NATO, Tổ chức an ninh hợp tác châu Âu, Tổ chức hợp tác an ninh tập thể,… thì ở châu Á nói chung và Đông Á nói riêng, chưa có khuôn khổ cho một cấu trúc an ninh chung. Hơn nữa, lẽ ra cần tập trung lực lượng các đồng minh truyền thống và các đối tác mới vào mục tiêu đối phó với “kẻ thù số 1 của Mỹ” là Trung Quốc, thì Tổng thống Đô-nan Trăm lại có những quyết định khiến các đồng minh cảm thấy như thể bị Oa-sinh-tơn xa lánh, như: rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tuyên chiến thương mại với cả các đồng minh then chốt là Nhật Bản và Hàn Quốc.
Gần đây, Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm lại bất ngờ tuyên bố rút quân khỏi Xy-ri và bỏ mặc các đồng minh phải đối mặt với cuộc chiến chống khủng bố, cũng khiến các đồng minh ở Đông Á phải đặt dấu hỏi nghi vấn. Trong điều kiện đó, các đồng minh cũng như đối tác của Mỹ đều phải cân nhắc đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Với cục diện chính trị bất ổn và bất định như vậy, ASEAN hiện đang nổi lên như là trung tâm của cấu trúc an ninh và hợp tác chung đang định hình ở Đông Á. Chính vì thế, lãnh đạo nhiều nước trên thế giới nhận thấy Hội nghị thượng đỉnh hằng năm của ASEAN mà bên lề có Diễn đàn Đông Á và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước thành viên ASEAN với các nước đối tác (ADMM+) - một cơ chế hợp tác năng động, đặc thù, góp phần quan trọng vào duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực, cũng như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) là nơi các nước lớn gặp nhau để cùng tìm tiếng nói chung nhằm thu hẹp bất đồng, ngăn chặn xung đột và tìm kiếm cơ hội hợp tác, loại bỏ các yếu tố bất ổn, hóa giải các yếu tố bất định, hướng tới xây dựng khu vực Đông Á hòa bình và phát triển.

Nguồn: www.tapchiqptd.vn

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội hiện nay

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một trong những nguy cơ đe dọa tới sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; là cách thức để các thế lực thù địch thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội. Vì vậy, nhận diện và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề xã hội, có căn nguyên từ những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, quản lý của Nhà nước đối với xã hội; sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt là chiến lược “Diễn biến hòa bình”; từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng, v.v. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Đảng ta nhận diện với những biểu hiện cụ thể; đồng thời xác định: chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Trong Quân đội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tuy chưa có biểu hiện rõ nét, phạm vi không rộng, tính chất chưa nghiêm trọng, song nó đang hiện hữu và ảnh hưởng trực tiếp đến việc giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; coi đó là một nội dung trọng tâm trong tổng thể các nội dung, biện pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.
Trong tình hình mới, để đấu tranh, phòng chống có hiệu quả với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong Quân đội, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính,... phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, lực lượng; của từng cán bộ, đảng viên và quần chúng. Trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một làgiữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, bởi mục tiêu cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” cũng như hệ quả cuối cùng của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, phải thường xuyên giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương đối với Quân đội; bảo đảm cho Quân đội luôn tuyệt đối trung thành và phục tùng sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống. Vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay là phải củng cố, kiện toàn, xây dựng hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, đủ sức lãnh đạo toàn quân thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách quân sự, quốc phòng của Đảng, Nhà nước. Đồng thời, gắn xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; giải quyết tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, giữa tổ chức đảng với các tổ chức trong đơn vị, giữa đảng viên với quần chúng, giữa cán bộ với chiến sĩ. Xây dựng đơn vị thực sự đoàn kết, thống nhất cao, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, chỉ huy và chính ủy, chính trị viên các cấp.
Cùng với đó, phải quan tâm giáo dục, rèn luyện, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác tốt, hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược. Công tác bố trí, sử dụng, đánh giá cán bộ phải bảo đảm dân chủ, công tâm, khách quan, chính xác; quan tâm làm tốt công tác chính sách, giải quyết triệt để, thấu đáo tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, quần chúng, tạo động lực để họ phấn đấu và cống hiến. Đó là yếu tố quan trọng để triệt tiêu mầm mống của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai làthường xuyên chăm lo giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả từ nhiều nguyên nhân, song cốt lõi là do một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; quên trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân; ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm; vi phạm nguyên tắc, điều lệ Đảng, nói không đi đôi với làm, thoái hóa, biến chất về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, cần chú trọng giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chủ nghĩa yêu nước, nền tảng văn hóa Việt Nam, truyền thống Quân đội, đơn vị,... làm cho bản chất giai cấp công nhân thấm sâu và phát triển vững chắc trong tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên; từ đó, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng. Đồng thời, phải thường xuyên giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; có tinh thần tự giác, tích cực học tập, rèn luyện, tu dưỡng; không ngừng nâng cao kiến thức, năng lực công tác, tận tụy, tâm huyết với công việc, gắn bó với cơ quan, đơn vị. Đặc biệt, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải thường xuyên cập nhật tình hình, làm cơ sở để giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch, nhất là các hoạt động chống phá trên không gian mạng. Qua đó, nâng cao khả năng miễn dịch cũng như trình độ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho cán bộ, chiến sĩ.
Cùng với đó, cần quan tâm bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội; xây dựng môi trường văn hóa phong phú, tốt đẹp, lành mạnh để Quân đội trở thành nơi nuôi dưỡng nhân cách, phẩm chất tốt đẹp cho mọi quân nhân. Từ đó, tăng cường sức đề kháng, tạo “màng lọc” ngăn chặn văn hóa ngoại lai, phản động, phản tiến bộ xâm nhập vào Quân đội. Đó là cơ sở để ngăn ngừa tác động từ bên ngoài, làm vô hiệu hóa mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch.
Ba làkiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực trong Quân đội. Các yếu tố đó chính là kẻ thù hết sức nguy hiểm, phá hoại từ trong nội bộ, làm suy yếu sức mạnh của tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” càng trở nên phức tạp. Để thực hiện tốt nội dung này, các cấp ủy đảng trong Quân đội cần quán triệt và thực hiện nghiêm quan điểm, chủ trương, quyết tâm và “khí thế” của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; thực hiện hiệu quả các nhóm giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, không nể nang, né tránh”, từng cơ quan, đơn vị cần thực hiện tốt tự phê bình và phê bình; nhận diện và đánh giá đúng mức độ nguy hại của suy thoái, biến chất đối với cán bộ, đảng viên, quân nhân; chỉ rõ ở cơ quan, đơn vị mình có chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, các tiêu cực khác và có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hay không? Nếu có thì đó là ai, phạm vi, tính chất, mức độ như thế nào? Trên cơ sở đó, xác định biện pháp khắc phục, giáo dục, rèn luyện, xử lý nghiêm minh, triệt để, không bao che, dung túng, không sợ khuyết điểm; tránh tình trạng đánh giá chung chung, né tránh, hình thức; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Đồng thời, thực hiện tốt Quy chế Dân chủ trong các cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên phải thực sự được bàn bạc, tham gia giám sát mọi mặt hoạt động của đơn vị thông qua các tổ chức đảng, chính quyền, quần chúng; khắc phục tình trạng chạy chức, chạy quyền, v.v.
Xây dựng cơ chế tiếp nhận, xử lý thông tin tiêu cực, sai trái, khuất tất trong các cơ quan, đơn vị. Thực hiện tốt vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì theo Quy định 08 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII), không để tình trạng tranh công, đổ lỗi, gây mất đoàn kết nội bộ. Tăng cường kiểm tra, giám sát đảng viên, tổ chức đảng trong chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng; kiên quyết xử lý nghiêm đảng viên, tổ chức đảng vi phạm. Thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong đơn vị.
Bốn làđẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống quan điểm sai trái, thù địch. Đây là mặt trận nóng bỏng, gay go, quyết liệt hiện nay, bởi các thế lực thù địch luôn coi mặt trận này là đòn bẩy nhằm thúc đẩy nhanh hơn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Để đấu tranh có hiệu quả, trước hết, cần chú trọng thực hiện tốt hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận trong Quân đội, bảo đảm lực lượng này có đủ phẩm chất, năng lực, nhạy bén, sắc sảo để có thể theo kịp sự vận động, phát triển và đấu tranh với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù. Bên cạnh đó, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải hướng trọng tâm vào việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ đối với nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch. Thường xuyên quán triệt, giáo dục nâng cao cảnh giác cho bộ bội trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; đặc biệt là các chiêu trò sử dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền, kích động, hòng làm lung lạc nhận thức và ý chí của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị thường xuyên làm tốt công tác định hướng, quản lý tư tưởng trong đơn vị trước những vấn đề nhạy cảm, được dư luận xã hội quan tâm.
Toàn quân cần tổ chức đấu tranh rộng rãi trên mọi phương tiện, với mọi lực lượng, bằng nhiều hình thức, biện pháp; trong đó, quan tâm bồi dưỡng lực lượng nòng cốt, chuyên sâu có tinh thần trách nhiệm cao, năng lực, trình độ lý luận và dũng khí đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù trong mọi tình huống. Đồng thời, bảo đảm tốt cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ; xây dựng cơ chế cung cấp thông tin nhanh, nhạy, kịp thời cho các lực lượng nhằm động viên, khuyến khích đông đảo quân nhân tham gia, hình thành thế trận đấu tranh rộng khắp, nhiều tầng, nhiều lớp, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân làm thất bại âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch.
Đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là yêu cầu, nhiệm vụ và trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ hiện nay, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nguồn: www.tapchiqptd.vn


Một số vấn đề về đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay là vấn đề lớn cần tổng kết, tiếp tục nghiên cứu, và có cách thức phù hợp. Giải quyết hiệu quả mối quan hệ trên, chúng ta mới tăng cường được vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
Nhìn lại 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”(1), đồng thời, Đại hội nghiêm khắc thừa nhận: “...còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục...”(2); Trong các mối quan hệ lớn hiện nay, Đại hội XII chỉ rõ: “Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế”(3).
Rõ ràng, thời kỳ mới cấp bách đòi hỏi chúng ta ngẫm thời cuộc lớn, soát xét lại mình, mở rộng tầm nhìn, chuẩn bị hành trang, tiếp tục chủ động và kiên định đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện, đồng bộ, không thể rụt rè, do dự hay chờ đợi, cầu toàn. Trong toàn bộ công việc hệ trọng đó, việc đổi mới chính trị, càng đòi hỏi chúng ta về tầm nhìn mới, trước sứ mệnh mới, với mục tiêu mới, bằng sự chuẩn bị toàn vẹn thực lực mới và hành động với phương lược hành động mới. Vì, thời cơ, lúc này, chính là lực lượng; vì sự phát triển của quốc gia - dân tộc là yêu cầu tối cao; và vì, thời đại không chờ đợi chúng ta. 
Nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị 
Vấn đề đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế thực chất là vấn đề nhận thức và xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị hay ngược lại, cả về nhận thức, cả về hành động. Vậy, phải nhận thức như thế nào về mối quan hệ, tính đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị?
Ngay trong khái niệm chính trị và đổi mới chính trị, trong nhận thức của chúng ta có một điểm dễ gây nhầm lẫn, đó là đổi mới chính trị hay đổi mới hệ thống chính trị? Khái niệm chính trị rộng hơn khái niệm hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị chỉ là hệ thống thiết chế tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, còn chính trị không chỉ là hệ thống thiết chế bộ máy, nó còn là các quan hệ chính trị, chính sách chính trị, mô hình chính trị. Khi nói đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế, phản xạ tự nhiên trong tư duy của cán bộ lãnh đạo, quản lý và do đó chi phối cả tư duy xã hội là chỉ thường khoanh vùng vào hệ thống chính trị, còn các yếu tố khác, cấu phần khác của chính trị không được nhận thức và chú trọng đầy đủ. Trong đó có công nghệ chính trị giải quyết một điểm nóng, một cuộc xung đột, một tình huống bất ổn xảy ra cần đến một công nghệ chính trị, ta chưa có sự hiểu biết cần thiết về vấn đề này và sự thực hành còn yếu kém. Trong công nghệ chính trị đó, nó không chỉ giải quyết các bất ổn định, cao hơn còn là khủng hoảng. Chẳng hạn, công nghệ bầu cử được các nước phát triển rất chú trọng, còn chúng ta mới thừa nhận là trong bầu cử không rơi vào trạng thái nhất nguyên, tức là bầu cử có số dư, còn vấn đề tranh cử, ứng cử viên tiếp xúc với cử tri, vấn đề tiếp xúc đối thoại, phản biện để tạo ra một môi trường xã hội dân chủ, tạo ra một không gian để cử tri lựa chọn những đại biểu xứng đáng còn rất hạn chế. Do công nghệ chính trị yếu nên ta cũng chậm thực hành văn hóa chính trị, một vấn đề rất quan trọng nhưng ta chưa làm được bao nhiêu. Đến Đại hội XII, Đảng ta mới khẳng định, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải đồng bộ, trước đó, trong các văn kiện của Đảng, vấn đề này chưa rõ. Rõ ràng là phạm trù chính trị tương quan với phạm trù kinh tế. Nếu lấy một bên là phạm trù hệ thống chính trị và một bên là phạm trù kinh tế thì không lô-gíc. Nội hàm và ngoại diên của phạm trù chính trị rộng hơn rất nhiều so với khái niệm hệ thống chính trị. Như vậy, ngay trong nhận thức đã không đồng bộ, vì thế cũng không phù hợp. Do đó, nhận thức về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải đồng bộ là vấn đề rất quan trọng, chi phối nhận thức và xử lý các mối quan hệ khác. 
Thứ nhất, đồng bộ nói ở đây không phải là vấn đề thời gian, hiểu thế là máy móc, cơ học.
Kinh tế cực kỳ quan trọng, kinh tế phải đi trước. Đại hội VI (1986) đánh dấu công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới kinh tế, đặc biệt là đổi mới toàn diện nền kinh tế. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (năm 1989), đưa ra những nguyên tắc của đổi mới mà tinh thần của những nguyên tắc đó là: Đổi mới phải dựa trên tiền đề ổn định, dựa trên tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân, có được lợi ích của đổi mới, nhân dân sẽ ủng hộ.
Đó mới là ổn định tích cực. Ổn định là tiền đề, là điều kiện, đổi mới là phương thức, là con đường và phát triển là mục đích. Đó là quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển. 
Bất kể chế độ chính trị nào đều phải đổi mới nếu muốn tồn tại. Phát triển là mục tiêu, là điểm đến, là đích. Phát triển giờ đây là phát triển bền vững, phát triển gắn với hiện đại hóa, với hội nhập quốc tế với bảo vệ môi trường, tránh thảm họa toàn cầu.
Như vậy, tính đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở đây gắn chặt với vị thế, vị trí ưu tiên của từng lĩnh vực. Tuy là đổi mới đồng bộ, nhưng thực tiễn phát triển đòi hỏi phải đổi mới kinh tế làm tiền đề đổi mới chính trị thận trọng, từng bước một.
Vậy thực chất của đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đồng bộ với nhau là bảo đảm sự hài hòa giữa kinh tế với chính trị làm sao kinh tế đóng vai trò thúc đẩy, tạo ra cơ sở vật chất cho chính trị và chính trị đóng vai trò dẫn đường cho kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển, sự tương tác hài hòa của chúng chính là đồng bộ.
Thứ hai, đồng bộ mang tính toàn diện. 
Toàn diện trước hết là tư duy, cả đổi mới toàn diện tư duy kinh tế lẫn đổi mới toàn diện tư duy chính trị. Tiếp theo là đổi mới về thể chế. Từ năm 2016, chúng ta xác định trọng điểm, điểm nhấn đột phá giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là đổi mới chính trị trong khi vẫn tiếp tục phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế, đổi mới kinh tế để tạo ra tiềm lực vật chất cho xã hội, giai đoạn này lấy trọng điểm là đổi mới chính trị, trong đó có đổi mới thể chế chính trị. Thể chế ở đây là hệ thống luật pháp của Nhà nước và những hệ thống quy định luật lệ trong Đảng. Điều lệ Đảng phải được coi như bộ luật của Đảng. Nó quan trọng như Hiến pháp của Nhà nước, khi đó đảng viên vừa phải tuân theo Hiến pháp với tư cách là công dân, vừa tuân thủ Điều lệ Đảng với tư cách là đảng viên.
Thứ ba, đồng bộ về thiết chế, bộ máy.
Vấn đề này nan giải nhất, đụng đến cấu trúc lại hệ thống bộ máy chính trị. Nếu không được nhận thức và hành động đúng đắn, khoa học và quyết liệt, việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về việc tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức, quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ đơn thuần là sáp nhập về số học, cơ học. Vấn đề là, cấu trúc lại phải đi liền với chức năng mới, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các thiết chế ngang dọc, cấu trúc bên trong của hệ thống chính trị với chức năng được phân định rõ ràng của từng bộ phận cấu thành hệ thống chính trị mới. Qua đó, khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, công chức hóa, bộ máy cồng kềnh hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả.
Thứ tư, tính đồng bộ thể hiện ở chính sách, cơ chế và chế tài. 
Trong chính sách là cả một hệ thống lớn: chính sách kinh tế, chính sách chính trị, chính sách xã hội, chính sách văn hóa; chế tài không chỉ tồn tại ở đường lối chiến lược, chế tài biểu hiện như một chính sách: chính sách chính trị, chính sách công.
Đảng chỉ cần hệ thống những chuyên gia giỏi, không nên biến đảng viên thành công chức, lãnh đạo Đảng trở thành người quản lý hành chính, chỉ thị mệnh lệnh lãnh đạo theo kiểu hành chính. Từ lâu, V.I. Lê-nin đã chỉ ra: ra lệnh là dễ nhất nếu có chức có quyền, nhưng tệ hại nhất. Vì nó phạm vào dân chủ, làm thụ động con người, không trực tiếp kích thích được các nhân tố sáng tạo, trong khi chúng ta cần phát huy mọi năng lực sáng tạo của con người.
Thứ năm, tính đồng bộ bao hàm đồng bộ về điều kiện nhận thức đúng, giải pháp tốt.
Có cơ chế chính sách đúng, nhưng không đủ điều kiện thì khó có thể giải quyết tốt được mối quan hệ đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế. Điều kiện đó bao gồm cả điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, nhất là điều kiện vật chất. Đã là điều kiện vật chất, phải tính đến phương thức phân bổ các nguồn lực tài chính. Từ đó, làm cho các giải pháp khả năng thành giải pháp hiện thực, làm cho tinh thần đổi mới, quyết sách chiến lược đổi mới đến hiện thực đổi mới.
Vấn đề đồng bộ có thể nhìn nhận từ khía cạnh xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại. Với truyền thống, ông cha ta biết bao nhiêu tinh hoa mà ta chưa ý thức hết, chưa khai thác hết. Hiện nay, rất cần làm sống lại những giá trị tinh hoa của truyền thống trong công thức “an dân trị quốc”, trong đó có vấn đề dùng người, tiến cử, lòng tự trọng, tự rút lui, vấn đề đạo làm quan,... Với hiện đại, đòi hỏi phải tiếp thu những cái hay cái tốt về lãnh đạo, cầm quyền, văn hóa chính trị của các nước, các chính đảng cả trong khu vực và trên thế giới để tìm kiếm sự đồng thuận khi hội nhập quốc tế sâu, rộng. Cùng với đó là tự mình làm phong phú, giàu có thêm cho mình bằng tinh hoa của nhân loại như Bác Hồ từng nói: Phương Tây có gì hay cũng học, phương Đông có gì hay cũng học, học cốt để làm phong phú mình chứ không sao chép bắt chước.
Tiếp tục giải quyết thấu đáo, hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Thứ nhất, về kinh tế: Trên cơ sở tiếp tục đổi mới toàn diện về kinh tế để có một cơ sở đúng đắn cho việc hoạch định chính sách, đường lối kinh tế phát triển, cần tập trung mấy điểm sau đây:
- Củng cố vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước 
Muốn vậy, về mặt tư duy kinh tế cần xác định: chủ đạo không có nghĩa là độc quyền, không có nghĩa là ưu đãi tuyệt đối cho kinh tế nhà nước, mà chủ đạo trên cơ sở có thực lực, tự phát triển để có thực lực, để đủ sức cạnh tranh bình đẳng trên thương trường. Chủ đạo bằng thực lực, sức mạnh của chính mình chứ không phải bao cấp, ưu đãi, ỉ lại độc quyền vị thế để chèn ép các thành phần kinh tế khác. Kinh tế nhà nước phải đủ sức cạnh tranh một cách văn hóa, lành mạnh trên thương trường với tất cả các thành phần kinh tế khác, theo hành lang pháp lý.
- Tổ chức, sắp xếp lại kinh tế hợp tác, trong đó vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng kinh tế dịch vụ, hợp tác sản xuất lớn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đẩy mạnh liên kết và hợp tác dựa trên quan hệ lợi ích, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường. Cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo điều kiện phát triển kinh tế hợp tác xã trên cơ sở phát triển và phát huy vai trò của kinh tế hộ.
- Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần.
- Tiếp tục đổi mới tư duy về kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì, kinh tế tư nhân đem lại lợi ích to lớn cho xã hội, trong khi chỉ cần Nhà nước thừa nhận, tạo hành lang pháp lý cho nó hoạt động. Kinh tế tư nhân ở đây không ai khác đó là người dân làm kinh tế - dân doanh. Đến lúc chúng ta cần bỏ tư duy xem tư nhân là phi xã hội chủ nghĩa; khắc phục nhanh và mạnh mẽ mâu thuẫn lô-gíc trong tư duy, đó là, một mặt, đề cao vai trò làm chủ của dân; mặt khác, lại dị ứng với thành phần kinh tế tư nhân. Khắc phục được lỗi lô-gíc này mới có thể thay đổi được thái độ đối với kinh tế tư nhân, từ đó tạo mọi điều kiện trong hành lang luật pháp, chính sách để kinh tế tư nhân phát triển đa dạng, phong phú.
Gắn liền với đó là, thực hiện liên kết kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân để tăng nguồn lực đầu tư tập trung trọng điểm, đồng thời khắc phục tình trạng manh mún, dàn trải, chia cắt, lãng phí. Kinh tế tư nhân liên kết với kinh tế nhà nước sẽ tạo thành thế và lực của nền kinh tế để giải quyết các vấn đề về việc làm, đời sống, an sinh, phúc lợi xã hội,... mở ra điều kiện và tạo động lực để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, về chính trị: đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế cần tập trung vào mấy trọng điểm sau:
Hiện nay, chúng ta đổi mới tương đối rõ nét và toàn diện về kinh tế, nhưng đổi mới chính trị còn chậm, thậm chí có khi còn do dự, lúng túng chưa thực sự thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế. 
- Đổi mới toàn diện chính trị ở nước ta hiện nay, trước hết là “Tiếp tục nghiên cứu và tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ lý luận về Đảng cầm quyền”. Đây là vấn đề quan trọng nhất về chính trị hiện nay ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam - đảng duy nhất cầm quyền. Cầm quyền trong điều kiện thể chế pháp quyền, hệ thống chính trị nhất nguyên đòi hỏi Đảng làm rõ hơn nữa những vấn đề: Tư duy về Đảng cầm quyền; quan niệm về cầm quyền trong mối quan hệ với lãnh đạo, quản lý quản trị xã hội; nội dung cầm quyền; phương thức cầm quyền; thể chế cầm quyền; mô hình cầm quyền; điều kiện để cầm quyền; dự báo những nguy cơ có thể xảy ra đối với Đảng cầm quyền và chủ động tìm kiếm những giải pháp đẩy lùi nguy cơ, tranh thủ và tận dụng thời cơ phát triển đất nước.
- Giám sát và kiểm soát quyền lực cần được bắt đầu từ trong Đảng và đi liền với nó là dân chủ trong Đảng. Hồ Chí Minh coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Dân chủ trong Đảng tốt, xã hội sẽ dân chủ.
- Kiểm soát quyền lực: tạo ra một thói quen, một nhu cầu biết lắng nghe ý kiến của dân từ cơ sở, tiếng nói của người dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ, quan chức, công chức bắt đầu từ cơ sở. Cùng với đó, tìm cách khắc phục bệnh hình thức trong việc tiếp dân. Tỉnh nào cũng có văn phòng đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, có cả bộ máy, kinh phí định kỳ tiếp dân. Nếu làm tốt tất cả những quy trình trên, nền chính trị của chúng ta mới thực sự là chính trị hành động, chính trị có hiệu quả và đổi mới chính trị khi ấy mới đem lại lợi ích cho nhân dân. Vì vậy, chúng ta cần giải quyết tốt các vấn đề về thực hành dân chủ, nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền và kiểm soát quyền lực. Tháo gỡ được những vấn đề này sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển chứ không cản trở, thậm chí không làm tổn hại đến kinh tế và như thế nhân dân được lợi từ đổi mới chính trị.
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đây là quan hệ giữa 3 chủ thể với chức năng nhiệm vụ khác nhau, với thẩm quyền, trách nhiệm khác nhau. Đảng có trọng trách lãnh đạo, dẫn dắt xã hội; Nhà nước có trọng trách về thể chế hóa, biến quan điểm đường lối của Đảng thành luật pháp, chính sách để thực hiện; nhân dân là chủ thể gốc của quyền lực. Nó là quan hệ giữa các chủ thể chính trị pháp lý được thể chế hóa, được hiến định. Vì vậy, trước hết, chúng ta phải nhận thức, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước - Nhân dân.
Một thời gian rất dài, nói về xây dựng Đảng ta chỉ nói 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đến Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng tiếp tục triển khai quyết liệt hơn, cụ thể hơn, rõ ràng hơn trong nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với 27 biểu hiện cụ thể để cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng tự soi chiếu, rèn luyện phấn đấu phòng, chống và khắc phục. Đây là bước tiến rất quan trọng về tính hợp pháp, hợp lý và tính chính đáng của Đảng cầm quyền. Tuy nhiên, đến lúc phải nhấn mạnh xây dựng Đảng về văn hóa chứ không chỉ dừng lại ở đạo đức, mặc dù đạo đức là cái cốt lõi của xã hội, nhưng trong văn hóa còn có khoa học, nghệ thuật. Trong văn kiện Đại hội XII cũng đã tiếp cận đến vấn đề văn hóa khi chỉ ra: “Xây dựng văn hóa vào trong chính trị và kinh tế. Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(4).
Như vậy, một khía cạnh nữa để đồng bộ giữa đổi mới chính trị với đổi mới kinh tế chính là vấn đề xây dựng Đảng về văn hóa. Nhất là văn hóa của người lãnh đạo quản lý, văn hóa của người đứng đầu, văn hóa của cấp ủy các cấp và không có cái văn hóa nào quan trọng hơn là văn hóa ứng xử với dân, văn hóa chịu trách nhiệm trước dân, cả xin lỗi, từ chức và tự xấu hổ.
Vấn đề chính trị và đổi mới chính trị không chỉ là đổi mới tư duy chính trị, xây dựng tầm nhìn chính trị, bản lĩnh chính trị,... còn là sự hành xử chính trị thực tiễn: bao quát thời cuộc, chiêm nghiệm sự vận động toàn cầu của các quốc gia, kiến tạo thể chế chính trị khách quan, khoa học, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, xây dựng thực lực chính trị, chế định những quyết sách chính trị, nâng cao văn hóa chính trị, con người chính trị, xác định và phát huy hệ động lực tổng hợp đổi mới chính trị của đất nước. Tiếp cận theo hướng này, từ nhận thức, tư duy đến hành động sẽ giải quyết tốt được mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, sẽ có một nền chính trị đoàn kết và thanh khiết theo tư tưởng Hồ Chí Minh - một chính trị mở đường, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững./.
--------------------------------------------
(1), (2), (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 65, 68
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 128 

Nguồn: www.tapchicongsan.vn

Việt Nam - “nguồn cảm hứng của hòa bình”

Dư luận Việt Nam đang dành nhiều sự quan tâm tới cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều sẽ diễn ra trong tuần này tại Hà Nội, với niềm vinh dự và tự hào vì Việt Nam là nước chủ nhà một sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng thu hút sự chú ý của toàn thế giới. Thế nhưng, ở chiều ngược lại, không rõ vì sao một số người lại tỏ ra kém vui, thậm chí có các hành động xuyên tạc, bôi nhọ uy tín, vị thế đất nước, kích động chống phá hòng làm méo mó hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè thế giới.

Nhìn lại năm 2018 - không thể xuyên tạc, phủ nhận thành quả nhân quyền Việt Nam

Thời đại ngày nay, xét từ giác độ khoa học-công nghệ (KH&CN) là thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Cuộc cách mạng này hội tụ nhiều công nghệ, như trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối-Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data), tất cả đều dựa trên công nghệ thông tin (CNTT).

QUYỀN LỰC NGẦM SAU MẠNG XÃ HỘI

Có thể nói mạng xã hội (MXH) trên internet là một bước tiến mới của công nghệ thông tin, đã và đang thu hút sự quan tâm của hàng tỷ người trên thế giới, đồng thời góp phần quan trọng trong khi đưa con người đến gần với nhau hơn, đưa "thế giới ảo" đến gần với "thế giới thật".Tuy nhiên, đằng sau MXH luôn có những quyền lực ngầm, và công nghệ do con người tạo ra có thể trở thành một công cụ bị lạm dụng nhằm khống chế con người, nếu như mất cảnh giác. Liệu đã có bao nhiêu người đủ tỉnh táo, đủ khả năng sàng lọc thông tin khi tham gia các MXH, bao nhiêu người biết đến tác động của các MXH, nhất là tác động tiêu cực? 
Hiện nay trên thực tế, MXH thường được hiểu là các trang web, blog kết nối mọi người với nhau, tạo ra môi trường trên mạng để mọi người trao đổi và chia sẻ thông tin, tình cảm. Tuy nhiên, đây là quan niệm hết sức "hiền lành", chưa phản ánh các "quyền lực ngầm" sau mỗi trang kết bạn và giải trí.Quá trình phát triển của MXH cũng chứa đựng nhiều thay đổi so với mục đích ban đầu. Những MXH ra đời đầu tiên vào những năm 1990 chỉ nhằm mục đích kết bạn, tạo diễn đàn trao đổi nội bộ cho các thành viên trong nhóm, không hề hoặc rất ít liên quan chính trị. Tuy nhiên, ảnh hưởng và lực hấp dẫn của các MXH ngày càng lớn và dần dần được các đại gia tài chính, các thế lực chính trị và nhiều đối tượng khác khai thác để kiếm lợi. Twitter là một thí dụ. Khởi điểm là một dịch vụ nhắn tin di động, đến nay, mỗi ngày MXH Twitter có khoảng 600 triệu lượt người truy cập. Ðể duy trì hoạt động, MXH này đã chấp nhận các khoản đầu tư của các công ty như Digital Sky Technologies có trụ sở tại LB Nga và thực hiện các điều khoản cam kết với công ty này.
Từ một trang web kết nối bạn bè do Mark Zuckerberg lập nên, Facebook đã trở thành MXH đa năng với số thành viên còn đông hơn cả dân số Mỹ, LB Nga. Song ai đang thật sự sở hữu và điều hành MXH khổng lồ này? Một số nguồn tin cho biết, MXH nổi tiếng nhất thế giới này được sở hữu và quản lý bởi các ngân hàng và nhà đầu tư tài chính khổng lồ Rothschilds and Goldman Sachs. Mối quan hệ giữa CIA và Facebook được nói rõ trên trang americasnewsnow.com với những thông tin khiến người đọc giật mình. Trang này cho biết, chính các cựu điệp viên CIA là người gây quỹ cho Facebook, và những người này đã được sử dụng thông tin từ Facebook. Các điều khoản dịch vụ Facebook cũng nói rõ rằng, công ty sở hữu trang web này được sở hữu và có quyền sử dụng bất kỳ thông tin nào đăng tải trên trang này theo bất kỳ cách thức nào từ giờ (thời điểm đăng ký) đến vô tận. Khi trả lời câu hỏi "Có đúng là Facebook thật sự được điều hành bởi CIA?", trang hỏi đáp có tiếng của yahoo có tên miền là answers.yahoo.com đưa ra câu trả lời rằng, các cơ quan tình báo Mỹ như CIA, FBI hay NSA chỉ việc thu thập thông tin cá nhân có sẵn trên Facebook dùng để chống lại chính những người cung cấp thông tin đó, nếu họ muốn. Có lẽ, những người đăng tải thông tin thật của mình trên Facebook sẽ phải giật mình sợ hãi khi biết điều này. Bởi vì bên cạnh những người cố tình khai báo thông tin không chính xác, thì không ít người vô tư cung cấp thông tin cá nhân khá trung thực. Âu đó cũng là bài học sơ đẳng nhất trong bảo mật thông tin cá nhân.Bất cứ ai muốn tham gia vào một MXH như Facebook hay Twoo.com, đều phải đăng ký theo yêu cầu của người điều hành trang web. Thông thường, người tham gia phải đăng nhập một tài khoản email, khai họ tên, giới tính, địa chỉ, nghề nghiệp, thậm chí cả điều kiện kinh tế, quan hệ hôn nhân, sở thích cùng nhiều thứ khác. Các thành viên được yêu cầu tải lên hình ảnh của chính mình, càng nhiều ảnh thì càng có cơ hội biết nhiều thông tin của người khác. Từ nguồn thông tin thu thập được và từ email của thành viên, người điều hành trang web sẽ nhanh chóng lần ra mối quan hệ của các thành viên đó trên in-tơ-nét, kêu gọi các thành viên hãy mời bạn bè, người thân tham gia MXH với những điều kiện ưu đãi tài chính và thông tin hấp dẫn. Càng thuyết phục được nhiều người tham gia, bạn càng có cơ hội được nhiều người biết đến, được xếp vào khách VIP, người nổi tiếng. Cứ thế, như một trò cờ bạc, càng dấn sâu vào các mối quan hệ thân tình trên mạng thì thành viên của MXH càng khó dứt ra, càng khai báo nhiều hơn. Dần dần, các thành viên MXH vô tình cung cấp cho người điều hành mạng một bản lý lịch chi tiết mà chính họ cũng không ngờ tới, bao gồm những mối quan hệ cá nhân đáng lẽ phải giấu kín. Khi họ trò chuyện hoặc gửi thư, ảnh và tài liệu cho bạn bè trên MXH, tất cả những thông tin đó được lưu giữ, và đương nhiên người điều hành MXH biết hết những thông tin này. Sẽ nguy hiểm thế nào nếu như người điều hành MXH sử dụng thông tin cá nhân của các thành viên vào mục đích xấu, hoặc để khống chế, hoặc để theo dõi mọi người. Phần lớn những người tham gia MXH không quan tâm xem ai đứng đằng sau các mạng này, không đọc kỹ các điều khoản tham gia. Khi một người bỏ qua các điều khoản, mặc nhiên người đó đã ký vào một hợp đồng cho phép người điều hành MXH tự do sử dụng thông tin cá nhân của mình. Cũng rất ít người hoài nghi về mục đích giao lưu vui vẻ của các MXH, hoặc cho rằng MXH được lập ra nhằm mục đích kinh doanh thuần túy, mà không xem xét đến các mục đích khác. Sự vô tư này có thể phải trả giá khi tham gia một số MXH có dụng ý xấu.
Xu hướng báo chí và MXH bắt tay nhau để thuyết phục người đọc đang diễn ra. Ngày càng nhiều công ty và tổ chức của chính phủ, cũng như tổ chức phi chính phủ, tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các MXH đang lên do thấy lợi ích từ việc này. Tùy theo mức đầu tư và điều khoản hợp đồng, họ có thể trở thành thế lực ngầm khống chế các MXH có ảnh hưởng. Ðến nay, ở Việt Nam có khoảng 30 MXH đang hoạt động. Ngoài một số MXH có mục đích giải trí đơn thuần, không ít MXH đang bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm thu thập thông tin, phổ biến thông tin bịa đặt, vu cáo, kích động, kêu gọi lật đổ chế độ, chống lại Ðảng và Nhà nước như là một công cụ hiệu quả để thực hiện "diễn biến hòa bình". Một số blog (có địa chỉ, tên tuổi hẳn hoi) thường xuyên cập nhật thông tin như một tờ báo điện tử, đưa nhiều thông tin xuyên tạc, độc hại nhưng chẳng thấy bị xử lý. Hơn lúc nào hết, bất cứ ai tham gia các MXH cần tìm hiểu kỹ về điều khoản tham gia cũng như mục đích thật sự của MXH, để bảo đảm an ninh cho cá nhân, đề phòng thông tin của mình bị các đối tượng xấu lợi dụng; cũng như cảnh giác với các quyền lực ngầm đứng sau thao túng các MXH... Và bất cứ ai khi đọc thông tin trên các MXH cũng cần cảnh giác với những thông tin giả, xuyên tạc, độc hại./.
- Sự thật -


HIỂU THÊM VỀ CHỦ THỂ PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

Trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có chủ thể lãnh đạo, tổ chức, quản lý, điều hành và chủ thể thực hiện. Chúng ta có thể hiểu rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chính là chủ thể lãnh đạo phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sở dĩ như vậy là vì, Đảng ta là Đảng cầm quyền, thực hiện sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, theo đó Đảng lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị, lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG“TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, lý luận, bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải gắn với công tác phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam với những hình thức, phương pháp, cách thức ngày càng tình vi, thâm độc và xảo quyệt. Theo đó, thời gian tới các cấp, các ngành cần đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng. Xây dựng các tổ chức đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững chắc, quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên là cơ sở để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ tác động từ bên ngoài; chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững và tăng cường khả năng đề kháng trong chính nội bộ. Tăng cường đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí; nhận diện rõ được những kẻ cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, chuyên quyền, độc đoán, phe cánh; kiên quyết loại trừ những đối tượng này ra khỏi hàng ngũ của Đảng, làm trong sạch tổ chức đảng và bộ máy chính quyền các cấp. Kịp thời phát hiện, khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót từ khi mới nhen nhóm, phát sinh với phương châm “chủ động phòng ngừa, tự bảo vệ mình là chính”. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong các giải pháp đấu tranh; chủ động phòng ngừa với đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Không ngừng bổ sung, phát triển nhằm bảo đảm tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện mới.


NHẬN DIỆN ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC LỰC LƯỢNG PHẢN ĐỘNG TRONG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” Ở CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống thông tin truyền thông, lợi dụng sự thiếu thông tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nên các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, chống phá cách mạng với những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Chúng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá ta. Chúng ra sức lợi dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ để thực hiện các mưu đồ đen tối như dàn dựng những hình ảnh, clip giả với nội dung xấu độc và sử dụng sức mạnh của truyền thông để tuyên truyền nhằm kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện các mưu đồ đen tối, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Do đó, để đấu tranh, ngăn ngừa có hiệu quả với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân cần phải nhận diện, chỉ mặt những tổ chức phản động cũng như âm mưu, thủ đoạn của chúng giúp nhân dân hiểu rõ bộ mặt thật của chúng, nâng cao cao cảnh giác và không mắc mưu.

Hiện nay, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên trở thành nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về nhận thức sớm muộn cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi hành vi, hành động chống đối về chính trị của một cá nhân hay một tổ chức. Xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; ca ngợi chủ nghĩa tư bản và phản bác, phủ định chủ nghĩa xã hội rồi sẽ dẫn tới những hoạt động chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa dưới hình thức này hay hình thức khác. Đó là vấn đề có tính quy luật. Vì vậy, cần phải hết sức cảnh giác và không thể coi thường nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để đấu tranh, ngăn ngừa với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân góp phần làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta./.

Nguyễn Đình Cống “khẩu phật, tâm xà”

Cứ mỗi lần Đảng ta chuẩn bị Đại hội Đại biểu toàn quốc, các phần từ bất mãn, cơ hội chính trị như Nguyễn Đình Cống lại ra sức xuyên tạc, viết bài tung tin sai lệch lên các trang mạng xã hội. Bài “Góp ý về chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ 13” không những thể hiện rõ mưu đồ chống phá, mà còn lộ rõ hơn bản chất “khẩu phật, tâm xà” của ông ta.
Thứ nhất, Nguyễn Đình Cống lợi dụng đóng góp ý kiến chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, Y đã tung ra những luận điệu để xuyên tạc, đánh lừa dư luận. Cụ thể, khi bàn về phương châm: Kiên trì và đổi mới, kế thừa và phát triển lý luận và thực tiễn được Đảng ta xác định cho quá trình chuẩn bị Đại hội XIII, Nguyễn Đình Cống đã xuyên tạc rằng: “Việc Đảng ta kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin là kiên trì “một chủ nghĩa được tạo dựng từ ngụy biện, chứa nhiều độc hại, chỉ mang lại và bảo vệ lợi ích phi nghĩa cho vài nhóm nhỏ”. Với luận điệu này, Nguyễn Đình Cống trắng trợn xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin.
Thử hỏi, ông Cống dựa vào đâu mà cho rằng, “chủ nghĩa Mác – Lênin là ngụy biện và độc hại”, trong khi cả nhân loại tiến bộ và các nhà khoa học chân chính đều khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin là vũ khí lý luận và tư tưởng sắc bén trong cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột và bất công; dựa vào đâu mà ông dám xuyên tạc, “chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ mang lại và bảo vệ lợi ích phi nghĩa cho vài nhóm nhỏ”, trong khi thực tiễn đã minh chứng: Chủ nghĩa Mác – Lênin là hiện thân, đại diện cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại tiến bộ. Nhờ có chủ nghĩa Mác – Lênin các dân tộc bị áp bức bóc lột, trong đó có dân tộc Việt Nam đã bừng tỉnh và giũ bùn đứng lên đập tan xiềng xích, giành lại độc lập, tự do; chủ nghĩa Mác – Lênin là kim chỉ nam soi sáng công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, ổn định, kinh tế phát triển bền vững, nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Thứ hai, cũng thông qua cái gọi là “góp ý”, Nguyễn Đình Cống đã cố tình xuyên tạc đường lối đổi mới đất nước và đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước Việt Nam khi cho rằng: “Những điều Đảng kiên trì như độc quyền, bóp nghẹt tự do tư tưởng và ngôn luận, đeo bám Trung cộng”. Luận điệu này của Nguyễn Đình Cống tuy không mới, nhưng điều đáng nói là Y đã sử dụng chiêu trò “đóng góp ý kiến”, nhìn bên ngoài có vẻ lương thiện, nhưng bên trong chứa đựng toàn điều xấu xa. Đó là, ông Cống mượn cớ “góp ý” vào công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng để làm sai lệch thông tin, che đậy ý đồ đen tối chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Ông Cống tự huyễn hoặc về cái gọi là, những gì Đảng ta đang làm là nhằm độc quyền và bóp nghẹt tự do dân chủ.
Song, mưu đồ của ông Cống dù tinh vi, xảo quyệt đến mấy cũng không che đậy được lẽ phải và chân lý. Bởi vì, toàn thể nhân dân Việt Nam đều biết, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là sự lựa chọn của lịch sử, là ý chí và nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam; điều này được hiến định trong Hiến pháp hiện hành của Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam không vì lợi ích tự thân mà luôn lấy lợi ích của giai cấp công nhân và nhân lao động Việt Nam làm thước đo chuẩn mực trong lãnh đạo và chỉ đạo mọi hoạt động thực tiễn. Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã đạt được thắng lợi trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc, ngày nay tiếp tục giành được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội; Đảng không ngăn cấm tự do ngôn luận, tự do phát biểu ý kiến, song ngôn luận đó, ý kiến đó phải tuân thủ đúng Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.
Về đường lối ngoại giao, Đảng ta luôn xác định và tuân thủ nguyên tắc độc lập, tự chủ, không “đeo bám” ai như sự xuyên tạc của Nguyễn Đình Cống. Đảng luôn xác định và mong muốn mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hợp tác hai bên cùng có lợi.
Do vậy, mọi luận điệu của Nguyễn Đình Cống dù tinh vi, xảo quyệt đến mấy cũng không che đậy được bản chất “khẩu phật, tâm xà”. Do đó, người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác với những luận điệu sai trái, thù địch của Nguyễn Đình Cống – kẻ phản động hại nước, hại dân./.
http://nhanvanviet.com