Thứ Tư, 19 tháng 6, 2019

Việt Nam sẵn sàng đóng góp tích cực cho nỗ lực chung của quốc tế vì hòa bình, an ninh, phát triển và tiến bộ


Nhân dịp Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có bài viết “Đối tác vì Hòa bình bền vững: Việt Nam sẵn sàng đóng góp tích cực cho nỗ lực chung của quốc tế vì hòa bình, an ninh, phát triển và tiến bộ”. Tạp chí Cộng sản điện tử trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết này:
Ngày 07-6-2019, trong khuôn khổ Khóa 73 Đại hội đồng Liên hợp quốc, Việt Nam đã được đông đảo các quốc gia thành viên tín nhiệm cao bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020-2021. Việc Việt Nam lần thứ hai trong vòng hơn 10 năm được bầu làm thành viên cơ quan có vai trò hàng đầu của Liên hợp quốc trong việc duy trì hòa bình, an ninh quốc tế không chỉ là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với vị thế của Việt Nam đổi mới, hội nhập, mà còn là sự tin tưởng, kỳ vọng vào những đóng góp trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế trong những năm tới.

Trong lần đầu tiên tham gia vào công việc của Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009, Việt Nam đã nỗ lực rất cao và được các thành viên Liên hợp quốc hợp tác, ủng hộ và đã đảm nhiệm thành công nhiệm vụ của mình, góp phần đề cao tuân thủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, giảm căng thẳng và thúc đẩy hợp tác, hỗ trợ giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh tại nhiều khu vực trên thế giới, đồng thời có những sáng kiến cụ thể, thực chất về nội dung cũng như giúp cải tiến phương thức hoạt động của Hội đồng Bảo an.

Với chính sách đối ngoại hòa bình, hòa hiếu, độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, sẵn sàng đóng góp có trách nhiệm và tích cực thúc đẩy hòa bình, an ninh, phát triển và tiến bộ trên thế giới, Việt Nam đã tham gia tích cực vào nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Cộng đồng Pháp ngữ, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)…; chủ trì thành công nhiều sự kiện quốc tế quan trọng, mà gần đây là Năm APEC 2017 và Hội nghị hợp tác WEF-ASEAN 2018, qua đó khẳng định khả năng chủ động tham gia dẫn dắt, định hình các cơ chế quốc tế và khu vực. Việt Nam cũng đã tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, lần đầu tiên triển khai thành công Bệnh viện dã chiến cấp 2 đến Phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan (tháng 10-2018) và mới đây hoàn thành tốt vai trò nước chủ nhà của Hội nghị thượng đỉnh Triều - Mỹ lần thứ hai (tháng 02-2019), từng bước phát huy vai trò “trung gian, hòa giải” trong giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế.

Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập sâu rộng, thế và lực của đất nước đã được nâng lên. Kinh tế luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, GDP tăng bình quân 6,67%/năm, năm 2018 tăng 7,08%, tiềm lực và quy mô nền kinh tế ngày càng tăng, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao. Việt Nam nằm trong số ít quốc gia đã hoàn thành trước thời hạn nhiều mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc MDG 2015, nhất là về giảm nghèo. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược/đối tác toàn diện với 28 nước, trong đó có tất cả các nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội to lớn và đường lối đối ngoại rộng mở: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy trong cộng đồng quốc tế, không chỉ giúp nâng cao hình ảnh và vị thế của đất nước trên trường quốc tế, mà còn giúp Việt Nam tiếp tục đóng góp chủ động và tích cực hơn vào đời sống chính trị khu vực và thế giới.

Bước vào thập kỷ thứ ba của thế kỷ XXI, với những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ và cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang lan tỏa trên toàn cầu, mặc dù hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo, là khát vọng thiết tha của mọi quốc gia, dân tộc, nhưng thế giới vẫn tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức về hòa bình và an ninh. Chiến tranh, xung đột, khủng bố, nghèo đói và chậm phát triển vẫn là những mối đe dọa thường trực ở nhiều khu vực. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, dân túy, cạnh tranh địa chính trị giữa các nước lớn, việc theo đuổi sức mạnh cường quyền, đi ngược luật pháp quốc tế đang tác động tiêu cực đến môi trường an ninh và phát triển của các quốc gia. Các vấn đề toàn cầu như khủng bố, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… đã vượt quá năng lực giải quyết của bất cứ một quốc gia riêng lẻ nào, dù đó là siêu cường, đòi hỏi sự nỗ lực và hợp tác của tất cả các quốc gia.

Trong bối cảnh đó, hợp tác đa phương, với Liên hợp quốc đóng vai trò trung tâm, đang đứng trước cả những thách thức và cơ hội. Liên hợp quốc và trực tiếp là Hội đồng Bảo an, với chức năng ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, kiến tạo và gìn giữ hòa bình, từ thực tiễn của gần 75 năm tồn tại và phát triển, cần và phải là trung tâm hợp tác, huy động được tất cả các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, tham gia, đóng góp nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của mình trong việc tìm kiếm giải pháp lâu dài, bền vững cho các thách thức toàn cầu hiện nay.

Từng trải qua những năm dài chiến tranh và hy sinh tất cả cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất đất nước, tạo dựng môi trường hòa bình cho phát triển, người dân Việt Nam hiểu rõ hơn ai hết giá trị của hòa bình. Việt Nam có kinh nghiệm, có khả năng và đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc tham gia thúc đẩy giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Thật vinh dự và tự hào khi Việt Nam chúng ta được cộng đồng quốc tế tín nhiệm với mức rất cao để trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khẳng định sự đúng đắn của đường lối đối ngoại do Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra và tinh thần Chỉ thị 25/CT-TW ngày 08-8-2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, theo đó Việt Nam “chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc”, góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình, ổn định phục vụ phát triển đất nước, đồng thời thể hiện tốt vai trò thành viên có trách nhiệm, tham gia đóng góp vào xây dựng một trật tự thế giới hòa bình, công bằng, dân chủ và tiến bộ. Đây cũng là cơ hội để chúng ta khẳng định vị thế đất nước và nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế, tự tin tiếp bước đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả trong hệ thống quản trị toàn cầu, làm sâu sắc thêm quan hệ song phương với các nước, các đối tác trên thế giới, thể hiện hình ảnh đất nước và con người Việt Nam thân thiện, năng động và yêu chuộng hòa bình, thể hiện niềm tin của người dân Việt Nam vào một thế giới đối thoại đa chiều, tôn trọng luật pháp quốc tế, hòa bình, hợp tác bình đẳng, cùng phát triển.

Ngay trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, Việt Nam đồng thời sẽ đảm nhiệm vị trí Chủ tịch ASEAN năm 2020. Đây là trọng trách rất lớn, là “trách nhiệm kép”, cũng là cơ hội thuận lợi giúp Việt Nam thúc đẩy việc tăng cường hợp tác giữa Liên hợp quốc với các tổ chức khu vực, tiểu khu vực, bao gồm ASEAN, qua đó đóng góp hiệu quả vào việc đề cao vai trò của chủ nghĩa đa phương đối với hòa bình và an ninh của khu vực và quốc tế.

Với thế và lực mới của đất nước, sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân, chúng ta sẽ hợp tác cùng nhau thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và vận dụng, phát huy sáng tạo, linh hoạt tư tưởng phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh về hòa bình và hợp tác quốc tế, “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta”[1]. Tôi tin tưởng rằng với kinh nghiệm trong nhiệm kỳ 2008-2009, Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng và sẽ nỗ lực hết sức mình để đảm nhiệm thành công trọng trách Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, thực sự trở thành “Đối tác vì Hòa bình bền vững”, và mong nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ, hợp tác của các nước thành viên Hội đồng Bảo an, các thành viên Liên hợp quốc để cùng đóng góp tích cực cho nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì một hành tinh xanh, và màu cờ xanh của Liên hợp quốc sẽ mãi là màu xanh của hòa bình, của phát triển bền vững và là màu xanh của niềm tin và hy vọng vào tương lai tươi sáng./.

---------------------------------

Tài liệu tham khảo: 

[1] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, trang 228.

Xóa bỏ tâm lý “Không sợ bị trừng phạt” để góp phần phòng, chống tham nhũng có kết quả


1- Quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong cuộc chiến chống tham nhũng được thể hiện qua hàng loạt vụ “đại án” được đưa ra xét xử; nhiều cán bộ, lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước bị truy tố, kỷ luật. Cuộc đấu tranh này đã nhận được sự đồng thuận của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước về quyết tâm chống tham nhũng; đặc biệt, xây dựng được niềm tin từ nhân dân, rằng bất cứ ai lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tư lợi bất chính đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
Kết quả của cuộc chiến chống tham nhũng thời gian qua cho thấy sự quyết liệt của cả hệ thống chính trị, của Đảng, Chính phủ trong cuộc đấu tranh với tham nhũng. Tuy nhiên, câu hỏi vẫn đang tìm lời giải là “Tại sao tham nhũng vẫn hoành hành”? Tại sao Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong các quốc gia có chỉ số minh bạch (CPI) xếp vào loại thấp trên thế giới? Cụ thể, năm 2018, Việt Nam đạt 33/100 điểm, xếp hạng 117/180 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, giảm 2 điểm và tụt 10 bậc trong bậc xếp hạng so với năm 2017 (35/100 điểm, xếp hạng 107/180)(1). Tuy nhiên, Tổ chức Hướng tới minh bạch (TT), Cơ quan đầu mối quốc gia của Tổ chức Minh bạch thế giới (TI) tại Việt Nam, cho rằng việc tăng nhẹ điểm CPI trong các năm gần đây là chỉ báo tích cực đối với các nỗ lực phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua. Nhưng, xét trên thang điểm từ 0 - 100 của CPI, trong đó 0 là rất tham nhũng và 100 là rất trong sạch, tình trạng tham nhũng trong khu vực công ở Việt Nam vẫn được cho là rất nghiêm trọng(2). 
Có thể thấy, cuộc chiến chống tham nhũng sẽ không dễ dàng bởi hoạt động tham nhũng luôn có sự gắn kết chặt chẽ của các đối tượng vi phạm, trong đó nhiều đối tượng có chức, có quyền. Thực tế trong công tác đấu tranh cho thấy, lợi ích nhóm của các đối tượng này hiện nay rất tinh vi, câu kết thành những nhóm người tạo ra lợi ích ngay từ khi xây dựng cho đến áp dụng cơ chế, chính sách để vụ lợi cá nhân, như các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ để cấp, bán đất trái thẩm quyền, xác nhận không đúng nguồn gốc đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cố ý áp sai chế độ thu và “quên” đốc thúc hoặc tạo ưu ái giảm nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách nhà nước cho chủ đầu tư; bán tài sản các doanh nghiệp nhà nước mà không tính đến những tài sản vô hình và lợi thế thương mại... 
Muốn triệt tiêu được căn bệnh nan y tham nhũng phải tìm ra và trị từ nguồn gốc, căn nguyên của bệnh này. Nhiều nguyên nhân đã được chỉ ra, như tham nhũng là do mặt trái của cơ chế thị trường; do cơ chế quản lý yếu kém; một số cán bộ trong bộ máy quản lý nhà nước thoái hóa, biến chất; công cuộc chống tham nhũng còn thiếu quyết liệt, triệt để; mức thu nhập của công chức còn thấp, trình độ học vấn của người dân còn hạn chế... 
Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, một số học giả cho rằng, một đặc điểm chung trong tâm lý của các đối tượng tham nhũng chính là, họ luôn nghĩ rằng hành vi sai trái của mình sẽ được giấu kín, sẽ được “bảo hộ” và không sợ các cơ quan chức năng xử lý. Và tâm lý “không sợ bị trừng phạt” cũng được xem là một lý do để giải thích tại sao tham nhũng lại tràn lan như hiện nay, mặc dù chính quyền của các nước và người dân luôn đấu tranh với nó.
2- Thuật ngữ “không sợ bị trừng phạt” (The impunity) chỉ trạng thái tâm lý của những đối tượng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, bởi các lý do khác nhau, tin rằng sẽ không bị trừng phạt. Thuật ngữ này được Giáo sư Gie-phrây Đ. S, Đại học Columbia (Mỹ), Cố vấn đặc biệt của Tổng Thư ký Liên hợp quốc về các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ - đề cập đến trong cuốn sách The End of Poverty(3), để lý giải tại sao tham nhũng vẫn cứ hoành hành dù cuộc chiến chống nó diễn ra ở mọi quốc gia. Theo Gie-phrây Đ. S, ở một số xã hội, tình trạng thoát tội hiện quá phổ biến và được nhìn nhận như là điều không thể tránh khỏi. Khi mà hành vi phi đạo đức của các nhà lãnh đạo chính trị và kinh doanh được xem là “bình thường” và không bị dư luận lên án, thì trong họ sẽ nảy sinh tâm lý “không sợ bị trừng phạt”.
Tâm lý “không sợ bị trừng phạt” không chỉ xuất hiện ở những đối tượng đang thực hiện hành vi phạm tội, những người có điều kiện, khả năng phạm tội về tham nhũng và chức vụ, mà còn trở nên phổ biến và mặc định trong nếp suy nghĩ của nhiều người. Tâm lý “không sợ bị trừng phạt” lại được lan truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác dẫn đến những hành vi tham nhũng được nuôi dưỡng và được che chở bởi chính quan điểm mặc định của xã hội. 
Vậy đâu là lý do dẫn đến tình trạng trong xã hội tồn tại trạng thái tâm lý “không sợ bị trừng phạt”?
Một là, những người thực hiện các hành vi tham nhũng thường là những chủ thể đặc biệt. Họ là những người có chức vụ, quyền hạn được các cơ quan, tổ chức giao cho quyền quản lý trên một số lĩnh vực nào đó. Khi quyền lực không được giám sát chặt chẽ, các chủ thể đặc biệt này sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng những sơ hở, thiếu sót để thực hiện các hành vi sai trái với mục đích tư lợi. Bằng lợi ích vật chất và quyền lực “mềm” của mình, họ sẽ che đậy các hành vi vi phạm pháp luật hoặc mua được “quyền im lặng” từ cấp trên hoặc các cơ quan bảo vệ pháp luật. Họ cũng có đủ các cách để “bịt miệng” cấp dưới, thông qua cách thức chia sẻ lợi ích có được từ các hành vi vi phạm pháp luật hoặc răn đe bằng các biện pháp hành chính. 
Hai là, mặc dù các văn bản pháp luật của nhà nước ngày càng được hoàn thiện và chặt chẽ về mặt pháp lý, nhưng hành vi tham nhũng lại biến tướng với những thủ đoạn tinh vi hơn. Những hành vi này được thực hiện không đơn thuần chỉ bởi một người, mà bởi một nhóm người có cùng quan hệ lợi ích - hay còn gọi là lợi ích nhóm. Những đối tượng này câu kết với nhau, để che giấu những hành vi trái luật, không để các cơ quan bảo vệ pháp luật có cơ hội tìm ra các chứng cứ buộc tội. 
Ba là, những người thực hiện hành vi tham nhũng đôi khi được che chở bởi một thế lực khác “cao hơn, mạnh hơn”, có đủ sức để bảo đảm rằng các hành vi vi phạm pháp luật của những người thực hiện sẽ không giống như những người dân bình thường. Các chế tài xử lý hình sự sẽ được “miễn nhiễm” với những loại chủ thể này.
Bốn là, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn mang tính hình thức mà chưa có tính quyết liệt cao. Hằng năm, các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin hàng loạt vụ án tham nhũng được đưa ra xét xử. Tuy nhiên, những vụ án đó lại là những vụ án đơn lẻ hoặc những người bị đưa ra truy tố, xử lý lại chưa phải là những kẻ chịu trách nhiệm cuối cùng... Dẫn đến những người vi phạm tin rằng những vụ án trên chỉ là các vụ án cá biệt và tất cả những người bị phát hiện đều là những người gặp “vận đen” và “vận đen” sẽ không phải là số nhiều, rủi ro sẽ không “rơi vào mình”.
Hơn nữa, việc xử lý nhiều vụ án tham nhũng cũng chưa triệt để như dư luận mong đợi, mới chỉ dừng lại ở việc xử lý những người thừa hành mà thường “bỏ quên” vai trò, trách nhiệm của những người đứng đầu đối với những việc làm sai của cấp dưới. Điều này tạo ra tâm lý, người “bao che” vẫn còn thì họ sẽ chỉ dừng lại “nghỉ ngơi giữa hiệp”, chờ khi “sóng yên, biển lặng” lại quay lại với những việc làm phi pháp thường ngày mà vẫn sẽ “không bị trừng phạt”.
Năm là, tâm lý so sánh tiêu cực. Đó là khi người ta đo mức độ thành đạt của một cá nhân sau khi rời nhiệm sở của một cơ quan, tổ chức nhà nước không bằng mức độ đóng góp của cá nhân đó vào sự phát triển của tổ chức và cho xã hội, mà thước đo mức độ thành đạt được “quy đổi” ra là mức độ giàu có và việc đưa được nhiều người thân vào bộ máy quản lý. Điều này dẫn đến “tâm lý nhiệm kỳ” của mỗi quan chức, trong thời gian làm việc họ sẽ làm mọi thứ để trục lợi cho mình và người thân.
Sáu là, tâm lý thừa nhận tham nhũng là một phần của đời sống xã hội, nó tồn tại và không thể xóa bỏ, chỉ có thể “sống chung” với nó. 
3- Tham nhũng là một vấn nạn toàn cầu, đôi khi ăn sâu vào nhiều lĩnh vực, với nhiều cấp độ tại nhiều quốc gia. Hằng năm, Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố Chỉ số Nhận thức tham nhũng thường niên, trong đó nhấn mạnh rằng tham nhũng “vẫn là một căn bệnh tồn tại khắp thế giới”. 
Ở Việt Nam trong các năm gần đây chỉ số nhận thức tham nhũng có được những cải thiện nhất định. Việc đưa ra truy tố, xét xử hàng loạt các sai phạm, các vụ án lớn, như những vi phạm của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ; những sai phạm của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam; những sai phạm của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam; những sai phạm của Tổng Công ty Viễn thông MobiFone; sai phạm của một số lãnh đạo cấp tỉnh, lãnh đạo các bộ, ngành... đã thể hiện rõ quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc chiến chống tham nhũng, rằng sẽ không có “vùng cấm” và người “miễn nhiễm”. Tất cả những kẻ tham nhũng sẽ bị trừng phạt bởi pháp luật và kỷ luật của Đảng. Hiệu quả tích cực từ công cuộc chống tham nhũng đã nhận được sự đồng thuận của mọi tầng lớp nhân dân, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước được nâng lên. Tâm lý người dân đã dần thay đổi, rằng các hành vi sai trái sẽ bị xử lý và tâm lý “không sợ bị trừng phạt” cũng dần dần được xóa bỏ. 
Cuộc chiến chống tham nhũng là một chặng đường dài và khó khăn, đòi hỏi cần có sự quyết liệt của Đảng, Nhà nước và sự đồng thuận của mọi tầng lớp nhân dân. Để xóa bỏ tâm lý “không sợ bị trừng phạt” trong cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay:
Thứ nhất, Đảng tiên phong và lãnh đạo cuộc chiến chống tham nhũng.
Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội như hiến định, thì điều tất yếu là Đảng đi tiên phong trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, một “căn bệnh bẩm sinh” của quyền lực. Để chống lại sự tha hóa của quyền lực, “ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí”, trước hết Đảng khởi xướng, định hướng, lãnh đạo và thực hiện quyết tâm đấu tranh triệt để và thái độ kiên quyết không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ trong cuộc chiến khó khăn này.
Để xóa bỏ tâm lý “không sợ bị trừng phạt”, trước tiên, Đảng phải thể hiện được quyết tâm chính trị của mình để cho những người đã, đang hoặc có “tư tưởng” tham nhũng ở mọi cấp độ trong bộ máy quyền lực hiểu được rằng, hành vi sai trái của họ dù có được che đậy tinh vi như thế nào rồi cũng sẽ bị phanh phui. Bất kỳ ai khi vi phạm pháp luật đều bị trừng phạt. Hai là, cuộc chiến chống tham nhũng không chỉ là việc xử lý những hành vi sai trái của những cá nhân, nhóm người vi phạm pháp luật, mà cao hơn còn là cuộc chiến làm trong sạch đội ngũ đảng viên, bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Ba là, cuộc chiến chống tham nhũng diễn ra liên tục với quyết tâm chính trị cao nhất từ Trung ương đến địa phương.
Thứ hai, thượng tôn pháp luật.
Một xã hội kỷ cương thì tất cả các hành vi trong xã hội đều phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật. Thượng tôn pháp luật chính là việc mọi công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật và được đối xử công bằng trước pháp luật. 
Khi bộ máy nhà nước lành mạnh thì các chính sách phải được thực thi một cách nghiêm minh, nhất quán từ trên xuống dưới mà không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cá nhân người công chức hay người lãnh đạo. Đó cũng là một bộ máy có những cơ chế kiểm soát nội bộ và vận hành hiệu quả để ngăn chặn được nạn tham nhũng ngay từ bên trong. Luật pháp chính là những “mắt xích” giúp cho bộ máy nhà nước có thể hoạt động hiệu quả. Người dân ở bất cứ xã hội nào cũng đều luôn luôn cần một môi trường luật pháp rành mạch, công minh. Để luật pháp được thượng tôn thì trước hết cơ quan thực thi pháp luật phải nghiêm minh, không bao che, không phân biệt đối xử... Các hành vi vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật và đạo đức xã hội cần phải được xử lý nghiêm minh.
Thứ ba, xây dựng chế tài mạnh để chống tham nhũng.
Thực tế hiện nay, ngoài các vụ tham nhũng lớn mà người vi phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đối với các vụ tham nhũng nhỏ hay tham nhũng “vặt”, cán bộ, công chức, viên chức vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật theo Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP hướng dẫn việc thi hành hai luật này. Tuy nhiên, cán bộ, công chức trong những vụ, việc vi phạm đạo đức nghề nghiệp, những vụ tham nhũng “vặt” thời gian qua hầu hết chỉ bị xử lý kỷ luật ở mức độ khá nhẹ so với hành vi vi phạm, trong đó chủ yếu là hình thức kỷ luật khiển trách và cảnh cáo, hay thuyên chuyển công tác. Số cán bộ vi phạm bị cách chức hoặc cho thôi việc là rất ít. Hầu hết các lỗi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức khi áp dụng theo hai nghị định này đều chỉ bị xử lý khiển trách hoặc cảnh cáo, kể cả những vi phạm khá nặng, như vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng chỉ bị kỷ luật cảnh cáo; xác nhận giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện, sử dụng tài sản công trái pháp luật, vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng... chỉ bị kỷ luật khiển trách.
Có thể nói chế tài theo quy định hiện hành đã có nhưng chưa thật sự nghiêm. Các quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức quá nhẹ dẫn đến việc xử lý vi phạm của các đối tượng này trong suốt thời gian qua chưa thật nghiêm minh. Chưa kể một số quy định không rõ ràng khiến một số lãnh đạo đơn vị, cơ quan có cá nhân sai phạm dựa vào đó bao che, “du di” cho cấp dưới của mình. 
Bởi vậy, cần phải tăng nặng các biện pháp chế tài, bảo đảm tính nghiêm khắc và đủ sức răn đe hơn đối với các vi phạm, hoàn thiện thể chế vận hành chống tham nhũng, để cán bộ, công chức “không thể, không dám tham nhũng”.
Thứ tư, thiết lập và vận hành các chuẩn mực đạo đức xã hội.
Đạo đức xã hội được thiết lập chính là góp phần vào việc giáo dục công dân và định hướng xã hội cho họ, giúp họ có được ý thức trách nhiệm trước xã hội. Mỗi cá nhân trước khi thực hiện một hành động cần phải nhận thức được đâu là giới hạn, đâu là ngưỡng của đạo đức xã hội. Nếu hành động mang lại lợi ích cho cá nhân mà gây hại đến người khác, đến xã hội và vượt qua ngưỡng đạo đức của xã hội thì sẽ nhất quyết không được làm. Tạo dựng được lương tâm và trách nhiệm của công dân chính là giúp họ nhận thức rõ rằng đang sống trong một xã hội mà đạo đức, lương tâm của con người là thứ giá trị cao hơn bất kỳ một loại vật chất nào.
Muốn thiết lập và vận hành được các chuẩn mực đạo đức xã hội, thì xã hội đó phải đào tạo được những con người có trách nhiệm với xã hội từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Ở đó, các em học sinh phải được đào tạo một cách có định hướng trong môi trường học tập trong sạch, kết quả học tập phải phản ánh đúng năng lực học tập; học sinh cũng cần được đào tạo ý thức tuân thủ pháp luật và trách nhiệm của cá nhân với gia đình, xã hội và đất nước. Nhà nước sử dụng công cụ truyền thông định hướng xã hội, cổ vũ dư luận lên án những hành vi xấu, gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội. Những hành vi sai trái đó nhất định sẽ bị trừng phạt ở cả phương diện pháp luật lẫn đạo đức xã hội.
Thứ năm, tạo dựng niềm tin trong nhân dân. 
Muốn gây dựng được niềm tin trong nhân dân thì nhất quyết người dân phải được tham gia cuộc chiến chống tham nhũng, được tham gia giám sát, phản biện hoạt động của Đảng, Nhà nước; ý kiến phản biện của nhân dân trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội cần được lắng nghe, tiếp thu. Người dân cũng cần được sự cam kết của Nhà nước rằng cuộc chiến chống tham nhũng sẽ không bao giờ dừng lại, sẽ không có “vùng cấm” và người “miễn nhiễm” với pháp luật. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần khuyến khích, động viên những người dám đứng lên đấu tranh, tố cáo, vạch trần những sai phạm của cá nhân; tuyên dương những người đứng ra bảo vệ lẽ phải, sự công bằng, bảo vệ pháp luật./.
-----------------------------------------
(1) https://towardstransparency.vn/cpi-vietnam-2018/?print=print
(2) http://thanhtra.com.vn/theo-dong-thoi-cuoc/chi-so-cam-nhan-tham-nhung-cpi-2017-viet-nam-co-tin-hieu-tich-cuc_t114c68n130778
(3) Jeffrey D. Sachs: The End of Poverty, Penguin Press, 2005
Nguồn: www.tapchicongsan.org.vn

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới


Nhìn lại quá nửa nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, công tác tổ chức xây dựng Đảng đã có nhiều đổi mới, được triển khai đồng bộ, hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực công tác. Nhiều quy định, quy chế, kế hoạch, hướng dẫn của các cấp ủy, tổ chức đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước đã được ban hành và triển khai thực hiện khá đồng bộ, sát với yêu cầu của thực tiễn, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và xây dựng đội ngũ cán bộ từng bước vững mạnh, trưởng thành, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới.
Nửa đầu nhiệm kỳ khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và thông qua ba nghị quyết quan trọng, đồng bộ về công tác tổ chức xây dựng Đảng, đó là: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành 3 nghị quyết nêu trên đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện toàn diện công tác xây dựng Đảng và các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước; đồng thời đã hoàn thành 3 nhiệm vụ trong 6 nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đề ra. 
Sự đổi mới tích cực trong công tác cán bộ thể hiện ngay sau Đại hội XII của Đảng, cùng với việc sắp xếp, bố trí và phân công ủy viên Trung ương, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo việc kiện toàn ngay các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn để kịp thời đáp ứng các nhiệm vụ mới mà không chờ đến hết nhiệm kỳ của Quốc hội khóa XIII. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã trực tiếp chỉ đạo phải tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước với tinh thần không có “vùng cấm” nhằm chặn đứng và đẩy lùi có hiệu quả những tiêu cực trong công tác cán bộ, như chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy tuổi, chạy bằng cấp... lấy lại niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng.
Ngay từ năm 2016, hàng loạt các quy trình bổ nhiệm, quy hoạch cán bộ đã được bổ sung, điều chỉnh, như quy trình năm bước trong bổ nhiệm và giới thiệu bầu cử cán bộ(1) và quy trình bốn bước trong công tác quy hoạch cán bộ; Ban Bí thư cũng đã kịp thời ban hành Thông báo số 13-KL/TW, ngày 17-8-2016, “Kết luận của Ban Bí thư về xác định tuổi của đảng viên”. Các kết luận của Trung ương được kịp thời ban hành theo hướng công khai, dân chủ, khách quan, minh bạch hơn, đặc biệt là đã ngăn chặn, chấn chỉnh ngay những sơ hở, tiêu cực trong công tác cán bộ. Tiếp theo đó, nhiều quy định về công tác cán bộ cũng đã kịp thời được ban hành, như Quy định số 89-QĐ/TW, ngày 04-8-2017, của Bộ Chính trị về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Quy định số 90-QĐ/TW, ngày 4-8-2017, của Bộ Chính trị về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19-12-2017, của Bộ Chính trị quy định về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định số 98-QĐ/TW, ngày 07-10-2017, của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ; Quy định số 126-QĐ/TW, ngày 28-2-2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ... Có thể khẳng định, các quy định, quy chế được ban hành, thể hiện quyết tâm cao trong lãnh đạo, chỉ đạo siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; những tiêu cực trong công tác cán bộ đã từng bước được ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả. Bên cạnh đó, việc xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm, kể cả đương chức hoặc đã nghỉ hưu, không có “vùng cấm”, đã có tác động mạnh mẽ đến cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và việc xử lý những tiêu cực trong công tác cán bộ, đã củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng. Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, từ năm 2014 đến nay các cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840 tổ chức đảng và hơn 58.120 đảng viên vi phạm; từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã có gần 60 cán bộ cấp chiến lược, trong đó 10 đồng chí là ủy viên Trung ương, nguyên ủy viên Trung ương, 1 đồng chí là ủy viên Bộ Chính trị, một số sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang đã bị xử lý kỷ luật, xử lý theo pháp luật.
Trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đây là nghị quyết quan trọng và cấp thiết trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế và phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, bởi lẽ qua hơn 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ đã có sự trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, nhưng một số nội dung trong Chiến lược cán bộ không còn phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới; đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ đã bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập, nhưng chậm được khắc phục và đẩy lùi, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Trong khi đó, công cuộc xây dựng, phát triển đất nước đang đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ hết sức to lớn, đó là phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền kinh tế số, kinh tế tri thức đang phát triển ngày càng mạnh mẽ; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội; giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và tác động của biến đổi khí hậu... Bên cạnh đó, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn, do đó đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ xứng tầm, có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín; phải coi trọng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới. 
Đồng thời, tới đây cũng là giai đoạn chuyển giao giữa các thế hệ cán bộ được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, được đào tạo trong môi trường xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước khác nhau, đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ.
Quan điểm, phương châm xuyên suốt, bao trùm nghị quyết về công tác cán bộ trong thời kỳ mới hiện nay là: 1- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, công tâm, khách quan; chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo cơ chế, môi trường, điều kiện để khuyến khích đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Tăng cường kiểm soát quyền lực, triệt để chống chạy chức, chạy quyền và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. 2- Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, bí thư cấp ủy và người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín; có bản lĩnh chính trị vững vàng; kiên định với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; biết cống hiến, dám hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. 
Để cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 10-KH/TW, ngày 06-6-2018, về “Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Theo đó, tất cả các cấp ủy, tổ chức đảng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương phải chỉ đạo và triển khai thực hiện 19 nhiệm vụ thường xuyên; các cơ quan (bao gồm Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ; các ban, cơ quan của Đảng và một số đảng ủy trực thuộc Trung ương) phải triển khai xây dựng, cụ thể hóa Nghị quyết thành các văn bản quy phạm pháp luật, các quy chế, quy định để thực hiện. Các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan tham mưu của Đảng đang tích cực xây dựng và hoàn thiện các chỉ thị, quy định, quy chế, như chỉ thị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; các quy định về công tác đánh giá, quy hoạch cán bộ; về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; về cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; về tiến cử cán bộ và cơ chế phát hiện người có đức, có tài để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ; về khảo sát nhân sự; về cách chức, bãi nhiệm, miễm nhiệm, từ chức của cán bộ... về kế hoạch triển khai thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương và khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác; về xây dựng Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, về Chiến lược quốc gia thu hút nhân tài, Chương trình quốc gia về học tập ngoại ngữ cho cán bộ các cấp, về thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức của hệ thống chính trị và Chương trình học song ngữ trong các cấp học phổ thông...
Điểm mới nổi bật trong công tác quy hoạch cán bộ đó là: ngoài việc thực hiện chặt chẽ quy trình bốn bước trong công tác quy hoạch cán bộ, Trung ương cũng triệt để phân cấp, các cấp ủy trực thuộc xem xét, quyết định phê duyệt quy hoạch các chức danh cấp mình quản lý. Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét phê duyệt các chức danh cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đối với việc quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026 (gọi tắt là quy hoạch cán bộ cấp chiến lược), đây là nhiệm kỳ thứ hai thực hiện việc quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhưng đã có rất nhiều đổi mới theo hướng dân chủ, công khai, khoa học và minh bạch hơn; được tiến hành chặt chẽ, riêng cho từng đối tượng, như quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương trình xin ý kiến tại Hội nghị Trung ương 9 khóa XII; quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư trình và quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước sẽ trình xin ý kiến tại các hội nghị Trung ương 11 và 12 khóa XII. Việc quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương vừa qua đã thực sự phát huy được dân chủ trong việc giới thiệu của các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương; các nhân sự được giới thiệu đều được thẩm định của các cơ quan có liên quan trước khi trình Bộ Chính trị xem xét, phê duyệt. 
Có thể khẳng định từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, công tác cán bộ đã có nhiều đổi mới, tiến bộ, đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện và ban hành nhiều nghị quyết, quy định, quy chế, kết luận và các văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời đáp ứng yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, công tâm, khách quan; cùng với việc chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo cơ chế, môi trường, điều kiện để khuyến khích đổi mới, sáng tạo và tăng cường kiểm soát quyền lực, triệt để chống chạy chức, chạy quyền, kịp thời ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả những tiêu cực trong công tác cán bộ.
Bước sang năm 2019 và đến hết nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng nhiệm vụ về công tác cán bộ còn hết sức nặng nề, đó là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định, quy chế về công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương đã đề ra bảo đảm sự đồng bộ, liên thông, thống nhất giữa các quy định của Đảng và Nhà nước; ban hành Chỉ thị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tiếp tục triển khai công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, mở các lớp bồi dưỡng cán bộ dự nguồn ở các cấp; tiếp tục sắp xếp, bố trí cán bộ gắn với thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương và công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, nhân sự lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Nhiệm vụ đó đặt ra cho các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan tổ chức cán bộ ở các cấp phải không ngừng phấn đấu, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác, góp phần đưa công tác cán bộ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ, hiệu quả; kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực trong công tác cán bộ, tạo niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng./.
-------------------------------------
(1) Xem: Hướng dẫn số 06-HD/BTCTW, ngày 24-2-2017, của Ban Tổ chức Trung ương về “Sửa đổi, bổ sung một số nội dung về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý nêu tại Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW, ngày 5-11-2012, của Ban Tổ chức Trung ương”


Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận tất yếu, lâu dài và không khoan nhượng hiện nay


Ảo tưởng, buông lơi hay tự huyễn hoặc mình... nhất định thất bại
Khi một tư tưởng xuất hiện, tồn tại và phát triển, tự thân nó là một cuộc đấu tranh để tự khẳng định nó; và, tranh đấu với các tư tưởng khác, dù muốn hay không, dưới muôn ngàn hình thức, quy mô, tính chất và mức độ, là quy luật sinh tồn của tư tưởng, đó là lẽ tự nhiên của sự phát triển. Không có con đường nào khác. 
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đã và đang như vậy. Phương diện tư tưởng, lý luận chính trị của chúng ta cũng như vậy, không nằm ngoài quy luật đó. 
Hiện nay, hơn bao giờ hết, sau hơn 32 năm đổi mới, trên đường tiến tới Đại hội XIII của Đảng, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận đang đối mặt với rất nhiều thử thách. Chúng ta hiểu rằng, có những ý kiến phản biện, đóng góp tâm huyết hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc hoạch định đường lối và tổ chức thực tiễn từ nhiều người, nhiều phía cả trong và ngoài nước, chúng ta trân trọng ghi nhận và tiếp thu. Nhưng, nếu đem ý kiến phản biện dù đầy thiện chí xây dựng đó tán phát khắp nơi, thậm chí loan tải trên mạng in-tơ-nét để cho người khác lợi dụng, công kích, chống phá,... thì lại đưa câu chuyện ấy sang một hướng khác, dù thấm đẫm sự mong đợi về nhiệt huyết hay thiện tâm nào đó. 
Mấy năm nay, với “hàng núi” sách báo chống Đảng, hàng trăm giọng điệu công kích, bôi nhọ, phủ nhận, với hàng nghìn thủ đoạn đủ loại, trên mọi phương diện, đang tràn ngập mạng in-tơ-nét: về nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng, về Đảng và sự cầm quyền của Đảng, về thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về hệ thống chính trị và về đội ngũ cán bộ, đảng viên... Những luận điệu xuyên tạc công cuộc đổi mới, sự công kích Đảng, Nhà nước và đất nước ta từ nhiều phía, với nhiều thủ đoạn, ở nhiều mức độ và nhiều tính chất, cả bên trong lẫn bên ngoài, rất phức tạp. Theo đó, xuất hiện đủ loại thái độ và phương cách hành xử gây nên tình trạng trắng đen lẫn lộn, thật giả hỗn mang, rất khó nhận diện và rất nguy hiểm nhưng rất tinh vi. 
Có người, để ru ngủ và khiến không ít người lãng quên và mất cảnh giác, đã chỉ trích một cách ma mỵ rằng, chúng ta tưởng tượng ra cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận chính trị hiện nay và thổi phồng sự cấp bách cuộc đấu tranh này(!). Không! Chúng ta cũng không tự dựng lên những kẻ thù tư tưởng, lý luận chính trị, như ai đó nói, để huyễn hoặc sự quan trọng của chúng ta hay để khuếch trương lên sự phức tạp những công việc này. Chúng ta xây dựng sự thống nhất xã hội về tư tưởng chứ không phải “đồng phục tư tưởng”(!), kiến tạo nền lý luận trung thành và độc lập, sáng tạo của Việt Nam chứ không phải thứ “lý luận nhập khẩu”, “đầu Ngô mình Sở”(!), như những ai đó bôi nhọ và công kích. 
Chúng ta càng không mơ hồ, ảo tưởng, tự ru ngủ mình về “sự thống nhất trong đa dạng” một cách cực đoan nào đó, như họ cổ xúy, rồi rơi vào sự chiết trung theo kiểu “vỗ vai cùng chung sống giữa các tư tưởng, các trào lưu”(!) hay “đã nguội tắt dần cuộc đấu tranh ý thức hệ”(!) giữa các hệ tư tưởng, các thể chế, quốc gia, dân tộc, biểu hiện tập trung giữa các tư tưởng gia ở những chế độ khác nhau... Chúng ta cũng càng không buông tay, thúc thủ, an bài, hoặc bi quan, yếm thế nào đó, rồi rơi vào “vũng lầy” của sự hoang mang, vô định, như những ai đó mong đợi hiện nay. Chúng ta hiểu rằng, bản chất của những sự thật về những hình thái vận động và đấu tranh tư tưởng, lý luận đó đang trở thành phổ biến một cách hết sức phức tạp có thể bị lừa phỉnh hoặc bị che lấp bởi những trào lưu mới mà những kẻ thù tư tưởng của chúng ta chưa bao giờ buông bỏ sự chống phá thâm hiểm, thậm chí kháng cự quyết liệt. 

Cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận chính trị của chúng ta hiện nay đang đối mặt, thậm chí bị chi phối, bị cản trở và phải đối diện với tối thiểu chính những điều đó. Đó là những trở lực chết người trên con đường kiến tạo nền tư tưởng thống nhất, lý luận kiên định, độc lập và sáng tạo bảo đảm dẫn dắt công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, dưới ngọn cờ của Đảng.
Lịch sử phát triển của cách mạng nước ta ngày càng cho thấy, càng ở những khúc quanh hay bước ngoặt của nó như hiện nay, điều đó càng hiện diện, càng muôn vẻ, phức tạp và khôn lường nhất. Và, hiện nay, cuộc đấu tranh này hiện diện trên vũ đài lịch sử nước ta nói chung, trên địa hạt tư tưởng, lý luận chính trị nói riêng, khiến chúng ta không thể thể lảng tránh, chối bỏ, hay thúc thủ, bàng quan, càng không dung thứ bất cứ một sự ngụy tạo nào... nếu muốn bảo vệ tiếp tục phát triển độc lập, sáng tạo nền tảng tư tưởng, lý luận chính trị của Đảng đủ sức dẫn dắt và phát triển đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa. 
Mơ hồ hay buông lỏng cuộc đấu tranh này, chúng ta sẽ thất bại. Bản chất của những kẻ chống phá chúng ta không bao giờ thay đổi.
Và vì thế, cần thiết phải nói thêm rằng, hiện giờ, cuộc đấu tranh này càng nóng bỏng, mang ý nghĩa không khoan nhượng, thậm chí sinh tử hơn hết bao giờ.
Những vấn đề cốt tử có ý nghĩa mất còn trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận chính trị hiện nay
Nhìn toàn cục, hiện tại có thể hình dung 8 loại vấn đề cốt tử và chủ yếu mệnh hệ chung quanh vấn đề này, mà các phần tử chống phá tập trung mũi nhọn, bằng mọi thủ đoạn và hình thức đang ra sức công kích từ bên ngoài và gieo rắc mối hoài nghi, chia rẽ từ bên trong. Và, ở mức độ này hay tính chất khác, trong đội ngũ chúng ta có một số người “bị sập bẫy”, rồi phụ họa, thậm chí ủng hộ những biểu hiện, âm mưu, thủ đoạn ấy. 
Thứ nhất, công phá nền tảng tư tưởng chính trị và thủ tiêu ý thức hệ. 
Với đủ giọng điệu nhiều cung bậc, họ phê phán, công kích trực diện vào chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lê-nin... hòng làm phân tâm, gây hoài nghi trong những người hoạch định chiến lược, bôi nhọ và cuối cùng đánh sập nền tảng chính trị và cơ sở tư tưởng của đường lối chính trị của Đảng. Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc và có sức công phá lớn, nhằm thẳng vào nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng và tác họa khôn lường, nhằm lật đổ Đảng từ những vấn đề căn bản, có ý nghĩa cốt tử. 
Chung quanh vấn này, nổi bật mấy loại chủ yếu: Tiếp tục công kích vào các loại vấn đề cơ bản thuộc hình thái kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất, động lực phát triển xã hội, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phương pháp tư duy và phương pháp cách mạng,... Thủ đoạn mới là, họ chuyển từ sự bôi nhọ cái gọi là “du nhập ngoại lại” sang đánh tráo khái niệm, thay thế các khái niệm... nhằm cổ xúy cho cái gọi là “đảo lộn” tư duy, gây rối loạn về phương pháp luận. Thổi phồng những cái gọi là “chủ thuyết phát triển nhân loại mới”, đem đối lập C. Mác với V.I. Lê-nin; đối lập Hồ Chí Minh với V.I. Lê-nin, thổi phồng một cách cực đoan tư tưởng Hồ Chí Minh,... cốt phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vô hình hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh, rốt cuộc nhằm phủ nhận, công phá và đánh sập nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng. 
Và, họ đánh lừa được không ít người. Có không ít loại ý kiến theo đuôi và phụ họa của những người non kém về chính trị, bạc nhược về tư tưởng. 
Thứ hai, bôi nhọ, xuyên tạc đường lối chính trị và công phá thể chế chính trị. 
Đây là “tử huyệt” mà các luận điệu thù địch tập trung sức công phá, ở nhiều mức độ: nhẹ thì tung hỏa mù, đánh lạc hướng, gây nên tình trạng nghi ngờ, mất phương hướng hành động; nặng thì không từ mọi chiêu bài, thủ đoạn nhằm phủ nhận tính cách mạng, cơ sở khoa học và bôi nhọ thực tiễn lịch sử cách mạng nhằm xuyên tạc và phủ nhận đường lối chính trị của Đảng. 
Trong rất nhiều phương diện chung quanh vấn đề này, xin nhấn mạnh mấy loại luận điệu tập trung công kích trụ cột đường lối chính trị và thể chế chính trị Việt Nam: 1- Bài xích, phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, 2- Cổ xúy đa nguyên chính trị, đòi “tam quyền phân lập”, vu khống chế độ toàn trị, dựng lên và thổi phồng “lỗi hệ thống”... nhằm xóa bỏ thể chế hiện tồn, 3- Tán dương và cái gọi là “khuyến nghị” thực thi phát triển “xã hội dân sự”; 4- Lợi dụng việc sửa đổi Hiến pháp và các luật nhằm làm sai lệch những vấn đề cơ bản nhất về chế độ sở hữu, về quyền con người, quyền dân tộc,... 
Chuyển hóa đường lối chính trị, thông qua việc chia rẽ, mua chuộc đội ngũ các nhà chính trị hoạch định đường lối, và là con đường ngắn nhất chuyển hóa chế độ. Lợi dụng “lợi ích nhóm” và các “nhóm lợi ích”, họ tán dương và dùng mọi giọng điệu để bôi nhọ, khoét sâu những vấn đề này nhằm phân hóa từ trong nội bộ Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, phá nát chiến lược cán bộ, tạo sự gây hấn, phân hóa giữa các loại cán bộ trong hệ thống chính trị của chúng ta. 
Thứ ba, tung hỏa mù về “đảng trị” và vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.
Họ bài xích Đảng, với các mánh lới và giọng điệu vừa tinh vi, vừa trắng trợn: 1- Đảng tự cho mình đứng trên tất cả, nghị quyết của Đảng cao hơn và bất chấp Hiến pháp, chỉ cần Hiến pháp không cần Đảng; 2- Độc đảng tất yếu sẽ là chế độ toàn trị, cần phải đa đảng mới hy vọng có dân chủ, mới có chế độ dân chủ; 3- Cần lập các trường phái trong Đảng mới thực sự dân chủ, nếu Đảng muốn xây dựng nền dân chủ đích thực của đất nước; 4- Đảng tự cho mình quyền lãnh đạo đất nước, xưa nay có Đảng đâu mà dân tộc vẫn tồn tại và phát triển; 5- Đa thành phần kinh tế nhất định sẽ dẫn tới đa đảng chính trị; 6- Cần “phi chính trị hóa” và tôn trọng tính độc lập của các lực lượng vũ trang, không cần sự lãnh đạo của Đảng; 7- Giai cấp công nhân đã hết vai trò, tới lượt và chỉ có trí thức mới là lực lượng dẫn dắt xã hội thay vì giai cấp công nhân, trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; 7- Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền phi chính đáng, phi chính danh...v.v. và v.v.. Vô vàn các giọng điệu hằn học, bôi nhọ, phủ nhận, xuyên tạc bất chấp mọi lý lẽ thông thường.
Thứ tư, chia rẽ phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. 
Sức mạnh của Đảng sẽ mất, nếu tách khỏi cơ sở xã hội - chính trị là nhân dân. Đó chính là pháp lý được ghi trong Hiến pháp, trong vị thế “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân” và đạo lý sống được thừa nhận trong xã hội, với tư cách là “đứa con nòi của giai cấp lao động” của Đảng. Chúng âm mưu đánh sập đạo lý của Đảng chúng ta với nhân dân, phủ nhận sự chính danh, chính pháp giữa Đảng với Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Các luận điệu đó, cốt chia rẽ, âm mưu kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ và đảng viên của Đảng, dưới mọi hình thức. Chúng cổ xúy cho bảo trợ và tham gia các tổ chức “xã hội dân sự” tự phát. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng những biểu hiện riêng lẻ, những khuyết điểm để thổi phồng quy kết thành bản chất của một đảng cầm quyền và đã làm phân tâm không ít bộ phận dân cư. 
Thứ năm, khoét sâu vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền với thể chế xã hội chủ nghĩa nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại nhân dân. 
Đây là các duyên cớ để các luận điệu thổi phồng sự thật, khoét sâu sự ngăn cách thù oán do chúng tưởng tượng và dựng lên, để mưu đồ đối lập Đảng với tôn giáo, kích động sự kỳ thị giữa các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, nhằm chia rẽ nội bộ các dân tộc, giữa đồng bào có đạo và không theo đạo, giữa các tôn giáo với nhau, đào sâu hố ngăn cách giữa đồng bào các tôn giáo với Đảng, Nhà nước. Chúng thường gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo, kích động vấn đề nhân quyền, phá rối từ cơ sở, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng bằng các hình thức “cách mạng màu”.
Các thủ đoạn thường thấy là, kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi hành lễ phi pháp luật, tụ tập đông giáo dân gây mất an ninh thực hiện cái gọi là “bất tuân dân sự”; chia rẽ, kích động đồng bào các dân tộc thiểu số biểu tình gây bạo loạn... dưới chiêu bài nhân quyền, tự do, dân chủ; móc nối với các tổ chức quốc tế, với các thế lực thù địch từ nước ngoài để làm rối tình hình trong nước.
Họ kích động, hà hơi tiếp sức những người nhân danh “lòng yêu nước”, mưu toan khởi hấn, xuống đường biểu tình vô lối, để “đục nước béo cò”, “mượn gió bẻ măng”... mưu lợi cho mình và phe nhóm mình. 
Thứ sáu, thông qua vấn đề chính trị gia và quan hệ giữa các nhà lãnh đạo chính trị, giữa các lực lượng nhằm xâm hại thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đây là vấn đề xung yếu nhất. Ngụy tạo mâu thuẫn trong Bộ Chính trị, tưởng tượng sự chia rẽ Ban Chấp hành Trung ương Đảng với Quốc hội và Chính phủ; thổi phồng sự khác biệt, cao hơn là mâu thuẫn giữa các thế hệ lãnh đạo, các cá nhân lãnh đạo các cấp, nhất là cấp chiến lược... với âm mưu thúc đẩy tan rã nội bộ và tự tan rã thế chế. Họ ngụy tạo những trang điện tử giả danh cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước để tung tin giả, công kích nội bộ nhằm gây nghi kỵ lẫn nhau, tạo nên sự hỗn mang tư tưởng rất nguy hiểm. 
Âm mưu đó nham hiểm không kém thủ đoạn kích động tư tưởng “sứ quân”, “cát cứ”, gây chia rẽ vùng, miền, đòi “dân sự hóa” Quân đội nhân dân, ly gián Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, “phi chính trị hóa” các lực lượng này, âm mưu cái gọi là thông qua “hạ bệ thần tượng” nhằm “bắn con chim đang bay”(!)... 
Thứ bảy, chung quanh vấn đề quan hệ quốc tế, võ đoán các nguy cơ cái gọi là “đu dây bên miệng hố”, kích động cái gọi là “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước khác, cốt phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta, cổ xúy cho chủ nghĩa ly khai, xâm hại nhân dân, phá vỡ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. 
Đây là một đích ngắm của đủ loại mưu đồ, đủ giọng điệu, với các phương tiện hiện đại, có sức công phá lớn và hết sức nguy hiểm.
Mục tiêu của chúng là thông qua “diễn biến hòa bình”, làm suy yếu Việt Nam từ bên ngoài, gây hằn thù trong các mối bang giao quốc tế của ta nhằm cô lập ta trong cộng đồng quốc tế. Kích động, chia rẽ các đối tác quốc tế với nhau, các đối tác quốc tế chiến lược với chúng ta... Nghĩa là, họ muốn thể chế của ta sụp đổ.
Bằng nhiều “cây cầu” (truyền thông giả mạo, sách báo, núp sau các tổ chức quốc tế, các tổ chức tôn giáo...), với thủ đoạn “mưa dầm thấm sâu”, “tổ mối đục ruỗng chân đê”... chúng dựng hư chuyện, thổi phồng hiện tượng riêng lẻ quy kết vô lối thành bản chất của Đảng, của chế độ... hòng hạ thấp, đánh sập vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Họ hà hơi tiếp sức cho những tổ chức đối lập trú ngụ ở ngoài biên giới quốc gia, âm mưu di trú quốc nội, gây bạo loạn, lật đổ chế độ. 
Thứ tám, các trào lưu tư tưởng, lý luận du nhập, thẩm thấu bằng mọi con đường, âm mưu gặm nhấm, công phá làm băng hoại dưới mọi hình thức, quy mô và mức độ tư tưởng, lý luận của chúng ta từ nền tảng. 
Đó là chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bá quyền với vô vàn hình thức... đang thâm nhập từ bên ngoài cấu kết với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc, dưới nhiều biến thể, tồn tích rất lâu từ bên trong với âm mưu làm băng hoại nền tảng tư tưởng của chúng ta bằng đủ quy mô, tính chất và mức độ; làm chệch hướng con đường xã hội chủ nghĩa; làm rã rời sự cố kết đồng thuận toàn dân tộc ta; đánh sập vị thế, năng lực và uy tín cầm quyền của Đảng ta và cô lập nước ta trên trường quốc tế. 
Những trào lưu tư tưởng, lý luận đó thâm nhập vào nước ta bằng các con đường giao lưu tư tưởng, thông qua hội nhập quốc tế, bằng thủ đoạn kinh tế, văn hóa... hết sức tinh vi, biến ảo; và chúng thường trú ngụ và phát tác từ các phần tử thoái hóa, biến chất, nằm ở tất cả các cấp của hệ thống chính trị, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến hòa bình” công phá từ bên ngoài thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ rất nguy hiểm. 
Tất cả nhằm thủ tiêu Đảng, cô lập đất nước ta và chuyển hóa thể chế chính trị một cách nhanh nhất, ngắn nhất và nguy hiểm nhất. 
Chúng ta cần làm gì và làm như thế nào? 
Vấn đề tư tưởng phải được giải quyết bắt đầu từ tư tưởng, trước khi bằng con đường tổ chức, pháp luật. 
Nhưng, không thể chỉ giải quyết triệt để những vấn đề tư tưởng, lý luận bằng chính vấn đề tư tưởng, lý luận một cách thuần túy, thậm chí rất suông. 
Trước hết, chúng ta phải có một cương lĩnh về hành động một cách có tư tưởng. Cương lĩnh hành động hiện nay chính là, khi tình hình đã khác trước, cần nhận diện đúng, phân định trúng và có đối sách phù hợp và hiệu quả. 
Thực tiễn cho thấy, không thể để tình trạng những người bàn về tư tưởng nhưng hành động phi tư tưởng, thậm chí trái tư tưởng, xỉ nhục tư tưởng. Kinh nghiệm đã và đang chỉ ra rằng, từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước chuyển ngắn, thậm chí rất ngắn, tới mức khôn lường, trở thành kẻ đối lập với nhân dân, với dân tộc, phản bội lại Đảng, phản bội thể chế. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, trong cuộc đấu tranh này, phải tự mình trở thành một nhà tư tưởng một cách ngang tầm và trong sạch. 
Tự mình phải làm công tác tư tưởng cho chính mình, và phải tự mình trong sạch; và trở nên đúng đắn, tự trọng và ngang tầm theo các quy định về nêu gương: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07-6-2012, của Ban Bí thư khóa XI, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” và Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Chúng ta có tối thiểu hơn 4 triệu “nhà tư tưởng” là đảng viên. Đó là hành động mang tính tư tưởng nhất. Chúng ta không ảo tưởng về điều đó, nếu đảng viên thực sự là đảng viên, lãnh đạo thực sự ngang tầm trọng trách lịch sử. Chỗ nào vắng cán bộ, đảng viên, chỗ đó trận địa tư tưởng bị bỏ trống. Vì thế, việc tổng rà soát, sàng lọc nhằm làm trong sạch đội ngũ đảng viên là trọng sự rất cấp bách, không thể trì hoãn.
Càng không thể giải quyết những lỗi lầm tư tưởng chính trị bằng thứ tư duy đã đẻ ra nó; những vấn đề bất thường của tư tưởng chính trị phải được giải quyết bằng những phương pháp bất thường, tức vấn đề tổ chức và cán bộ. Chấm dứt tình trạng: Người có tư tưởng thì không có quyền được quyết định, người được quyền quyết định lại không có tầm tư tưởng. Đó là cách làm tư tưởng cụ thể nhất, chứ không rơi vào đạo lý suông, tư tưởng chính trị suông. Chọn người xứng đáng và ngang tầm là nhân tố quyết định thành bại công việc này.
Người đứng đầu các cấp trong bộ máy hệ thống chính trị phải là những người lĩnh nhiệm xứng đáng sứ mệnh công tác tư tưởng, lý luận của thế chế một cách gương mẫu và thật sự. Ai không làm tròn trọng trách đó thì nên từ chức hoặc không ngần ngại, buộc phải thay thế họ. Không thể để thảm họa: những ai nhúng chàm tư tưởng; đạo chích, đạo vị, đạo tâm... đi rao giảng về sự cao quý của tư tưởng, sự “soi đường cho quốc dân đi” của lý luận, sự trong sạch, liêm sỉ, liêm chính, nghĩa khí hay quốc sỉ của những người trên địa hạt tư tưởng, lý luận. Đó là tình trạng “a dua tư tưởng, lý luận”, tầm thường hóa tư tưởng, lý luận, “ngụy tư tưởng”, “ngụy lý luận”. Nói cách khác, đó là kiểu làm tư tưởng, lý luận như “mang giấy bọc lửa”. Như thế, vô hình làm phương hại công tác tư tưởng, lý luận của chúng ta; vô hình tiếp tay cho sự lan rộng của sự suy thoái tư tưởng chính trị, tệ hủ bại trong hành động thực tiễn phi tư tưởng, lý luận,... Như thế là, phản tư tưởng nhất, là sự hạ thấp, thậm chí hủy hoại nền móng tư tưởng, lý luận chính trị. 
Đòi hỏi cao đối với cán bộ lãnh đạo, nhất là các đồng chí giữ cương vị trọng trách trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ở các cấp, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy, thành ủy, bộ trưởng, người đứng đầu các ngành, các địa phương, đơn vị và các cán bộ lãnh đạo khác tự giác rèn luyện tầm nhìn chính trị chiến lược, trung thành với lý tưởng, khép mình vào kỷ luật, giữ trọn vẹn liêm sỉ, tự mình trong sạch; làm gương trước nhân dân, trước cấp dưới về hành động chính trị, về danh dự, về sự dũng cảm hành động theo lời nói, về trách nhiệm công việc, về phẩm hạnh chính trị và đạo đức... trong thực thi đường lối của Đảng, vì lợi ích tối cao của nhân dân, của dân tộc và của Đảng. Đồng thời, chủ động tổng kết thực tiễn, phát triển đường lối chính trị của Đảng, làm giàu kinh nghiệm tổ chức thực tiễn mang tính lý luận. Sống và làm việc trong nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa và tự chỉnh đốn mình. Hóa thân trong các phong trào hành động của nhân dân để dẫn dắt, qua đó để tổng kết kinh nghiệm, trau dồi khả năng và rèn dũa trình độ lý luận của chính mình nhằm phát triển phong trào. Lúc này, một bước tiến trong hành động có giá trị hơn một tá cương lĩnh, nói như C. Mác. Đó là con đường bảo vệ tư tưởng, phát triển lý luận của chúng ta một cách chủ động nhất, ngắn nhất và tự giác nhất. 
Tự chỉnh đốn mình đủ năng lực xử lý, nhất là đối thoại, tranh luận một cách dân chủ, bình đẳng và cầu thị với tất cả những ai quan tâm về công tác tư tưởng, với các trào lưu tư tưởng, lý luận từ mọi phía. Đó là hiện thân sinh động và sức sống mạnh mẽ của tư tưởng, lý luận chính trị, của công tác tư tưởng, lý luận, phát triển đường lối chính trị của Đảng dẫn dắt công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế hiện nay. 
Và, hơn hết bao giờ, phải chủ động hành động kiên quyết, vì sự sống còn đó.
Cương lĩnh hành động hiện nay là, tiếp tục kiến tạo một đội ngũ chiến lược gia tư tưởng, lý luận hay tối thiểu là các cán bộ tư tưởng, lý luận cấp chiến lược ngang tầm trọng trách của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế. Vẫn là tiếp tục công việc về tổ chức và cán bộ, nếu được tiến hành hiệu quả, thì chính là giải pháp phát triển tư tưởng, lý luận hữu hiệu nhất. Kinh nghiệm lịch sử tư tưởng và đấu tranh tư tưởng, lý luận ngày càng xác thực rằng, lý do tồn tại của tổ chức đảng, và các lãnh tụ xứng đáng với danh hiệu đó là, ngoài nhiều điểm khác, đảng và lãnh tụ còn phải thông qua một công tác lâu dài, kiên cường, thiên hình vạn trạng nhiều mặt của tất cả các đại biểu giác ngộ của giai cấp mình mà thu hoạch được những kiến thức cần thiết, - ngoài kiến thức và kinh nghiệm là tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cách chính xác và mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp. 
Nói một cách hình ảnh, đã đến lúc, về mặt tổ chức bộ máy, không thể để tồn tại những ông “Đông Quách”, những “con thò lò sáu mặt”, “ăn cây táo rào cây xoan nâu” trong đội ngũ, trước hết trong đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và nguyên cấp này, trước hết trên địa hạt tư tưởng, lý luận. Nếu để duy tồn, vô hình trung, tối thiểu đã làm phương hại theo kiểu “quả bí thối từ ruột thối ra”, thậm chí chặt cụt động lực của các nhà tư tưởng, lý luận; mặt khác sẽ thủ tiêu và tự thủ tiêu cả hai: cán bộ và bộ máy làm công tác tư tưởng, lý luận. Và, thậm chí làm băng hoại ngay cả bộ máy làm công tác tổ chức và kiểm tra, thanh tra và bảo vệ pháp luật vì “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trực tiếp đối với công tác tư tưởng, lý luận, khi trận địa tư tưởng, lý luận bị xâm hại và bị chi phối bởi những tệ nạn đó. 
Cần thiết rà soát, sàng lọc, để tái kiến tạo đội ngũ và hệ thống các bộ máy này, để tư tưởng, lý luận có khả năng dẫn dắt và bảo đảm phát triển công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đúng hướng. Đó là phương lược và nghệ thuật hiện thời. Cần toàn dụng đức trị và pháp trị trên phương diện này. Đội ngũ chúng ta phải tự mình trở nên mạnh mẽ, dũng cảm và kiên quyết ngang tầm yêu cầu của lịch sử! Đó chính là hiện thân và hành động tư tưởng, lý luận nhất. 
Đó là phương sách xây kết hợp phòng, chống chủ động và hiệu quả nhất trên địa hạt tư tưởng, lý luận!
Cương lĩnh hành động lúc này là, tổng soát xét, tiếp tục đổi mới toàn diện và căn bản hệ thống tổ chức, cơ chế vận hành và thể chế về công tác tư tưởng, lý luận chính trị. Tối thiểu có 3 loại công việc nổi bật:
Về hoàn thiện cơ chế vận hành: Đâu là tư tưởng, đâu là lý luận, đâu là tư tưởng lý luận chính trị? Ai làm, làm với ai, làm như thế nào? Các binh chủng tư tưởng, lý luận hiện nay ra sao: về chức năng, nhiệm vụ, về tổ chức bộ máy và phương thức vận hành thế nào? Duy tồn tình trạng hiện nay liệu có còn tương thích không? Nếu không, thì sẽ làm gì? Phải chăng cấp bách cơ cấu lại chiến lược hệ thống đào tạo, truyền thông, tuyên giáo các cấp, các cơ quan nghiên cứu... theo hướng tập trung, thống nhất, rõ việc, gọn nhẹ, rõ trách nhiệm cá nhân phụ trách, trên cơ sở đổi mới chức năng, nhiệm vụ độc lập từng cơ quan bảo đảm sự thống nhất giữa công tác tổng kết thực tiễn với phát triển tư tưởng, lý luận? 
Trên cơ sở đó, định biên, tuyển chọn dân chủ hóa nhằm kiến tạo đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận tương xứng theo hướng tinh hoa, chuyên nghiệp và văn hóa hóa. Sàng lọc nghiêm khắc và kiến tạo chặt chẽ theo hướng tinh lọc, ngăn chặn chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cá nhân... bảo đảm sự trong sạch, tương thích đội ngũ này. 
Về đổi mới thể chế hoàn bị: Đâu là thể chế cơ bản, đâu là mắt xích chủ yếu? Đâu là thể chế bất biến, cái thể chế khả biến là đâu? Đâu là sức mạnh tổng hợp giữa công tác giáo dục - cơ quan hành động trên địa hạt tư tưởng, lý luận với công tác tổ chức và pháp luật... Theo đó, cần phân định rõ không chỉ về định tính mà cần định lượng cụ thể lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, trước hết là cấu trúc lại hệ thống báo chí và đội ngũ những người làm báo, hợp thành binh chủng tư tưởng, lý luận chỉnh thể đổi mới và ngang tầm. Các thiết chế cần và đủ bảo đảm vận hành toàn bộ công tác này bao gồm những gì, chúng ra sao; những gì thuộc về chuyên ngành, những gì thuộc về liên ngành, tối thiểu là các lĩnh vực và phương tiện làm công việc tư tưởng, lý luận, tổ chức và pháp luật, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế trong “thế giới phẳng”, cố nhiên cả không “phẳng” hiện nay?
Theo đó, tiếp tục chỉnh đốn lĩnh vực báo chí truyền thông và các phương tiện truyền thông xã hội. Sẽ là khiếm khuyết, thậm chí thất bại, nếu thiếu hoặc buông lỏng loại công việc này. Kinh nghiệm ban hành và thực thi Luật An ninh mạng của Ô-xtrây-li-a vào tháng 2-2019, sự ra đời của ngành công nghiệp an ninh mạng của Xin-ga-po vào tháng 3-2019, bảy lĩnh vực quản lý mạng xã hội của Anh vào tháng 4-2019 mới đây... đã cho chúng ta những kinh nghiệm tham chiếu đáng suy ngẫm trên lĩnh vực này. Vì, những người chống phá tư tưởng, những kẻ thù lý luận đã và đang sử dụng những phương tiện ấy như những “cây cầu tư tưởng” đi thẳng vào trái tim khối óc của chúng ta, gây tác họa rất nguy hiểm ở không ít nơi, đối với không ít người, lại tỏ ra rất nhiệm màu. Họ âm mưu tạo nên tình trạng “mù màu về tư tưởng”, “hỗn loạn về lý luận” để làm rối tình hình chính trị, hạ bệ cơ sở lý luận chính trị mác-xít, nhằm phá hoại đường lối chính trị của Đảng; qua đó bôi nhọ, làm phá sản chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta. 
Đổi mới, xây dựng và hoàn thiện các thiết chế toàn diện, toàn vẹn, mạnh mẽ, và đồng bộ bảo đảm giữa tự do, dân chủ và pháp luật một cách minh bạch, công khai và nhân bản, trên bình diện tư tưởng, lý luận một cách chủ động và nghiêm khắc.
Về trách nhiệm cơ quan hoạch định chiến lược chính trị, cơ chế và thể chế và cơ quan có thẩm quyền quyết định: Đây là việc to lớn, đa diện của các cấp ủy, chính quyền các cấp.... Xin nói gọn: Cấp bách thực thi quyết sách của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng khóa XII về công tác này, một cách căn cơ, chiến lược, tổng hợp và khả thi, trong tầm nhìn tới năm 2030, trước mắt trên lộ trình tiến tới Đại hội XIII của Đảng.
Đó là những công việc cần kíp thực thi hiện nay đối với Đảng, và của chính công tác tư tưởng, lý luận chính trị của Đảng. Không như thế không thể nói tới việc bảo vệ tư tưởng, lý luận, càng không thể nói tới việc phát triển độc lập hay sáng tạo đột phá về tư tưởng, lý luận, dù chỉ là một bước nhỏ!
Con đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chúng ta đi, không gì lay chuyển được. Công tác tư tưởng, lý luận tiếp tục gánh vác sứ mệnh lịch sử cầm nhịp thống nhất toàn dân tộc, “soi đường cho quốc dân đi” trên con đường ấy.
Và, dù cho kẻ thù của chúng ta câu kết với những phần tử từ bên trong, điên cuồng công kích, phá hoại, Đảng ta đứng vững trên nền móng tư tưởng chính trị và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thâu hóa và góp phần phát triển tinh hoa tư tưởng, lý luận của nhân loại, với sự ủng hộ và bảo vệ của nhân dân, công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ dưới ngọn cờ của Đảng, dân tộc ta nhất định vượt qua mọi trở lực, như 89 năm qua, tiếp tục tiến lên, nhịp bước cùng thời đại. 
Không gì cản nổi!./.