Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

PHỦ NHẬN VAI TRÒ KINH TẾ NHÀ NƯỚC - LIỀU THUỐC ĐẮNG, PHÁ HOẠI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY


          Trong thời gian gần đây, trên nhiều phương tiện thông tin có một số bài viết dưới dạng “thư ngỏ”, “tâm thư” trên các trạng mạng, blog cho rằng: “Thế giới đã sang Thời đại mới và Việt Nam đã sang Giai đoạn mới, nhưng vì lý luận cũ coi Kinh tế nhà nước là chủ đạo, xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là thủ tiêu động lực của các thành phần kinh tế khác?” dẫn đến “chưa bào giờ nước ta bi đát như hôm nay”.
          Chúng ta khẳng định đây là những ý kiến không có cơ sở khoa học về xác định và phân chia các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta cũng như vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Đây là luận điệu sai trái, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận những tư tưởng kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, t­ư t­ưởng Hồ Chí Minh, đ­ường lối quan điểm kinh tế của Đảng cộng sản Việt Nam.
          Trước hết, để nhận thức một cách khoa học về các thành phần kinh tế, chúng ta phải trở lại những nguyên lý cơ bản cuả lý luận nhận thức Mácxít, bởi đây chính là cơ sở lý luận, phương pháp luận để xem xét các thành phần kinh tế. Về lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ rõ: Nền kinh tế là một thực thể tồn tại với sự phức hợp của nhiều bộ phận, thành phần hợp thành. Do đó, nhận thức về thành phần kinh tế là sự phản ánh tồn tại khách quan các thành phần kinh tế của con người chứ không phải do con người tưởng tượng ra. Các thành phần kinh tế vận động và phát triển chịu sự chi phối của các quy luật thị trường và các quy luật riêng của nó. Thành phần kinh tế là một khái niệm được hình thành trong quá trình nhận thức, nó không bất động mà luôn vận động chuyển hoá lẫn nhau.
          Qua thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, Lênin đã khái quát hệ thống lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong đó Lênin chỉ rõ đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ là nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần. Cụ thể, Lênin chỉ rõ 5 thành phần kinh tế đang tồn tại ở nước Nga lúc bấy giờ đó là: Thành phần kinh tế nông dân gia trưởng; kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ; Kinh tế tư bản tư nhân; Kinh tế tư bản Nhà nước; Kinh tế xã hội chủ nghĩa. Lênin cho rằng, then chốt của vấn đề chính là phải hiểu kết cấu kinh tế - xã hội của các thành phần ấy. Tức là mục đích nhận thức thành phần kinh tế trước hết để hiểu bản chất của nó nhìn nhận từ góc độ sở hữu. Mặt khác, dựa trên quan hệ kinh tế để xem xét quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Như vậy, cách tiếp cận nhận thức về thành phần kinh tế của Lênin ở thời điểm sau cách mạng là từ quan hệ sở hữu và qua đó để thể hiện thái độ đối với các giai cấp trong cuộc đấu tranh ai “thắng ai” trong thời kỳ quá độ ở nước Nga.
          Tuy nhiên, nhận thức về bản chất của các thành phần kinh tế là không thay đổi, song phải nhận thức nó trong một chỉnh thể, trong quá trình vận động. Lênin giải thích: Những khái niệm của con người là chủ quan, trong tính trừu tượng của chúng, trong sự tách rời của chúng nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trong khuynh hướng vgà trong nguồn gốc. Vận dụng cách tiếp cận nhận thức về thành phần kinh tế của Lênin vào Việt Nam có thể thấy. Sự nghiệp đổi mới của chúng ta bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986). Đại hội đã quyết định đường lối đổi mới toàn diện, trong đó trước hết là đổi mới tư duy, đổi mới kinh tế là chủ yếu. Cho đến nay, qua sáu kỳ Đại hội, ứng với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế mà các Đại hội đưa ra các quyết định về đường lối, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế nói chung, đồng thời xác định rõ các thành phần kinh tế cùng với mục tiêu, định hướng và biện pháp để thúc đẩy nó phát triển. Sự nghiệp đổi mới ở nước ta sau 30 năm, nền kinh tế nước ta phát triển qua các giai đoạn từ giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế mang nặng tính tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá; giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá, tạo tiền đề cho kinh tế thị trường và hiên nay ta đang bước vào giai đoạn đầu của kinh tế thị trường. Có thể thấy thực tiễn phát triển kinh tế đất nước sau hơn 30 năm qua đã có rất nhiều thay đổi trên tất cả cá lĩnh vực. Nhưng nhận thức về thành phần kinh tế gần như không có sự thay đổi, có chăng chỉ là sự thay đổi về số lượng, tên gọi cũng xác định vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế.
          Thứ hai, việc xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là thủ tiêu động lực của các thành phần kinh tế khác? Là hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Vì: Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, các thành phần kinh tế tồn tại đan xen, tác động qua lại với nhau, mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất và biểu hiện lợi ích của một giai cấp, tầng lớp xã hội nhất định. Các thành phần kinh tế tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc dân vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn.
          Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Đảng ta xác định: thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Điều đó phù hợp với mục tiêu xây dựng chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Với việc nắm giữ những vị trí then chốt, những “đài chỉ huy” của nền kinh tế, lại được Nhà nước chăm lo đầu tư công nghệ hiện đại, vốn, đội ngũ cán bộ quản lý... nên thành phần kinh tế này hoàn toàn có đủ điều kiện để làm tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay.
          Kinh tế nhà nước thuộc sở hữu toàn dân, là cơ sở kinh tế - xã hội của chủ nghĩa xã hội, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, sự khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không thể dựa vào sự bảo trợ của nhà nước, mà phải thông qua sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường với các thành phần kinh tế khác; cần phải khẳng định vai trò chủ đạo bằng trình độ kỹ thuật quản lý, bằng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh doanh thực lực kinh tế và tài chính của mình.
          Tóm lại, nghiên cứu những luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị với những nội dung sai trái, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta. Chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng và nhận thức sâu sắc trên cơ sở tích cực học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Tập trung, phải coi nền kinh tế như một chỉnh thể thống nhất bao gồm nhiều nhân tố, bộ phận hợp thành và các yếu tố, các bộ phận này luôn vận động và phát triển. Vì vậy, để nhận thức thành phần kinh tế một cách khoa học đầy đủ là cả một quá trình. Nếu giai đoạn bắt đầu đổi mới, ta tiếp cận nhận thức thành phần kinh tế từ hình thức sở hữu và các quan hệ kinh tế - xã hội khác để có thái độ phân biệt đối xử. Thì hiện nay khi mà ta chủ trương thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là đang hình thành các thiết chế thị trường, các định chế của thị trường từng bước vận hành theo quy luật vốn có của nó. Do đó, để nhận thức thành phần kinh tế phải có cách tiếp cận mới. Nghĩa là nhận thức về thành phần kinh tế phải trên cơ sở quan hệ sản xuất biểu hiện trên cả ba mặt, trình độ lực lượng sản xuất và mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế khi tham gia thị trường, tức là các hình thức tổ chức kinh doanh.
          Đới với thành phần kinh tế nhà nước, từ khi chúng ta đổi mới nền kinh tế cho đến nay, vai trò chủ đạo, dẫn dắt, điều tiết nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của kinh tế nhà nước luôn được Đảng quan tâm, coi trọng và đã đạt được những thành tựu rất lớn cả trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, cả đường lối đối nội và đối ngoại của đất nước. Để phát triển nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta đều nhất quán và được thể hiện trong Nghị quyết qua các kỳ Đại hội, Đặc biệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Bacn chấp hành Trung ương khóa XII khẳng định: Chủ trương nhất phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển; vừa bảo đảm phân phối theo quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường, vừa quan tâm phát triển hệ thống an sinh xã hội; khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời quan tâm đến xóa đói giảm nghèo, hướng sự phát triển kinh tế tới mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
                                                NGUỒN: Tạp chí Kinh tế Quốc phòng
NDL st


PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM CÓ PHẢI LÀ SỰ PHẢN BỘI CHỦ NGHĨA MÁC


Thời gian gần đây, nhất là sau khi Đảng ra nghị quyết số 12 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có một số người cho rằng việc phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam là sự phản bội chủ nghĩa Mác về xóa bỏ tư hữu. Vậy, thực chất quan điểm đó là gì? Liệu phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam có phải là từ bỏ lý luận của C.Mác về xóa bỏ tư hữu?
Trước hết phải nhận thấy rằng, thực chất của quan điểm này là nhằm xuyên tác, phủ nhận tính đúng đắn về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam – một thành quả to lớn của công cuộc đổi mới.
Thứ hai, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam không phải là từ bỏ lý luận của C.Mác về xóa bỏ tư hữu. Để làm rõ vấn đề này, chúng ta phải quay về lý luận gốc của C. Mác về điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa. Trong quyển 1 bộ Tư bản, Mác đã trình bày điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa. Theo đó, để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại cần có 2 điều kiện, một là, phân công lao động xã hội và hai là, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất. Theo tiến trình phát triển, dưới tác động của các cuộc cách mạng công nghiệp, phân công lao động sẽ ngày càng phát triển ở trình độ cao hơn. Vấn đề còn lại là cần làm rõ điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hóa để tránh sự lầm lẫn đáng tiếc. Xét về mặt lịch sử, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa bắt đầu từ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Sau đó, trong điều kiện của sản xuất lớn với sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, thì sự tách biệt kinh tế giữa những người sản xuất, giữa các doanh nghiệp thuộc cùng một chế độ sở hữu có tính tự chủ kinh doanh quy định. Do vậy, sẽ là sai lầm khi đồng nhất sở hữu tư nhân với sự độc lập tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất và coi đó là điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa. Và như vậy, chừng nào còn tồn tại sự độc lập tương đối về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất, chừng ấy vẫn còn tồn tại sản xuất hàng hóa. Vận vào điều kiện thực tiễn nước ta, đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp về trình độ kinh tế, lực lượng sản xuất ở nhiều trình độ khác nhau thì tất yếu phù hợp với trình độ ấy phải là hệ thống các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Do đó, sự tồn tại của sản xuất hàng hóa là tất yếu khách quan. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự từ bỏ nguyên lý của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về xóa bỏ chế độ tư hữu, mà ngược lại, đó là sự vận dụng sáng tạo nguyên lý nói trên vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước có nền kinh tế chậm phát triển.
                                                 NĐL


Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền được thông tin của người dân


Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam chú trọng, bởi đây là một trong những quyền cơ bản của con người.
Thế nhưng thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật về việc thực hiện các quyền dân sự, chính trị nói chung và quyền tiếp cận thông tin nói riêng ở Việt Nam. Trên một số trang mạng thiếu thiện chí có kẻ cho rằng Việt Nam "bóp nghẹt", "bưng bít" thông tin; “cản trở các quyền tự do biểu đạt, chính kiến và ngôn luận"... của người dân. Thậm chí trên trang mạng của RFA còn hồ đồ phán rằng: “bưng bít thông tin là nguyên tắc của Chính phủ Việt Nam...”.
Cần khẳng định ngay rằng giọng điệu trên là bịa đặt vô căn cứ, trắng trợn xuyên tạc việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị nói chung và quyền được thông tin ở Việt Nam nói riêng. Hành động ấy lộ rõ ý đồ, động cơ chính trị không trong sáng đối với Việt Nam. Sự thật bảo đảm quyền được thông tin của người dân ở Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái ấy.
Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân được thông tin; khai thác, sử dụng internet để tiếp cận thông tin nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện các quyền tự do cơ bản của nhân dân. Theo tinh thần ấy, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về bảo đảm quyền được thông tin của người dân. Những thành tựu ấy trước hết được thể hiện ở việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới nhiều văn bản luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được thông tin của người dân, trong đó có những luật, nghị định như: Luật Báo chí 2016; Luật Tiếp cận thông tin 2016; Luật An ninh mạng 2018; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”... Tất cả những văn bản luật ấy đều tuân thủ nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, theo đúng Hiến pháp năm 2013, vừa bảo đảm quyền tiếp nhận thông tin, vừa bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong bảo vệ bí mật Nhà nước, chống việc lộ, lọt bí mật thông tin.
Nghị định số 72/2013/NĐ-CP xác định chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân ở các vùng khó khăn có thể sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng vào việc tìm kiếm và tiếp cận thông tin. Trước sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng điện tử, vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là một nhiệm vụ quan trọng, tất yếu. Luật An ninh mạng xác định nguyên tắc pháp quyền của Nhà nước ta, đồng thời tôn trọng và bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền được tiếp cận thông tin. Đối với các trang mạng đang hoạt động tại Việt Nam, Luật An ninh mạng cũng có các quy định rất rõ ràng, cụ thể. Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng theo Luật An ninh mạng dựa trên thông lệ quốc tế không cản trở quyền được thông tin của người dân và cũng không cản trở hoạt động của các doanh nghiệp mạng đang triển khai dịch vụ ở Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc công bố tại hội thảo tổ chức ngày 3-12-2018. Theo đó, Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ phát triển internet nhanh nhất thế giới, với trên 50 triệu người dùng internet...
Chính phủ Việt Nam đã triển khai hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin điện tử Chính phủ, xây dựng và công bố công khai hằng năm Chỉ số cải cách hành chính của các cơ quan hành chính Nhà nước và Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước. Trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ Việt Nam đã thành lập Ủy ban quốc gia, đẩy nhanh tiến độ xây dựng “Chính phủ điện tử”; cổng thông tin điện tử của các cơ quan Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ công trực tuyến, để cán bộ, cơ quan, tổ chức đối thoại trực tiếp với nhân dân; để người dân thông qua mạng internet có thể bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, gửi ý kiến tới Đảng, chính quyền nhằm nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận phản ánh thông tin, kiến nghị của người dân. Thực tế cho thấy số người dùng internet, MXH để bày tỏ chính kiến, tổ chức các diễn đàn thảo luận, phản biện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gửi các góp ý, kiến nghị đến các cơ quan chức năng ở Việt Nam ngày càng tăng. Nhiều thông tin từ MXH đã được các cơ quan chức năng, các cấp chính quyền kiểm tra, xác minh và xử lý kịp thời.
Nhằm bảo đảm quyền được tiếp nhận thông tin của người dân, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, trong đó có việc phát triển báo chí, truyền thông. Để tăng cường tính công khai, minh bạch thông tin, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế về cơ chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo các quy định của pháp luật và hoạt động báo chí hiện hành... Được Đảng, Nhà nước quan tâm, báo chí cách mạng nước ta đã có sự phát triển nhanh chóng và toàn diện, ngày càng thể hiện rõ vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là diễn đàn xã hội rộng rãi để phát huy dân chủ; là người bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân... Không chỉ tăng nhanh về số lượng các cơ quan báo chí, các chương trình phát thanh, truyền hình và công nghệ làm báo, chất lượng các xuất bản phẩm ngày càng đổi mới cả về nội dung, hình thức thể hiện. Đội ngũ những người làm báo có sự phát triển, trưởng thành trên nhiều mặt. Đặc biệt, định hướng phát triển báo chí theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện đã tạo ra khả năng to lớn cho việc truyền tải thông tin của các cơ quan báo chí, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền được thông tin và tiếp nhận thông tin của nhân dân.
Sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng và internet cho thấy quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin ở Việt Nam đã có bước cải thiện, phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia trên thế giới, luật pháp Việt Nam quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin và tiếp cận thông tin trong một số trường hợp, phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, nhằm tôn trọng các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội. Những trường hợp mà một vài trang mạng dẫn ra để nói rằng Việt Nam vi phạm quyền tự do thông tin, thực chất họ đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam mọi hành vi cản trở, đe dọa đến quyền được thông tin, quyền tự do tiếp cận thông tin; lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin để xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của tổ chức, cá nhân; gây tổn hại đến uy tín, danh dự của người khác; xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức và sức khỏe cộng đồng... tùy vào tính chất, mức độ đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, chúng ta cũng khách quan thừa nhận rằng, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần sớm được khắc phục. Đáng lưu ý là việc thực hiện Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ở một số bộ, ngành, địa phương chưa tốt. Còn có biểu hiện cán bộ được phân công phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí sợ trách nhiệm, đùn đẩy cho người không có thẩm quyền hoặc viện dẫn nhiều lý do để từ chối cung cấp thông tin. Một số cán bộ được phân công cung cấp thông tin còn thiếu kỹ năng phát ngôn, chưa tìm hiểu sâu kỹ vấn đề, vụ việc, nên chưa đáp ứng được yêu cầu của báo chí và dư luận. Sự phối hợp giữa người phát ngôn với bộ phận chức năng chuyên sâu chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng thông tin cung cấp chưa kịp thời và thiếu rõ ràng. Việc điều tra, xử lý những đối tượng vi phạm quyền được thông tin của người dân, tung tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi xấu, gây ảnh hưởng tới danh dự, uy tín của tập thể, cá nhân... chưa kiên quyết, kịp thời; chế tài xử phạt chưa đủ mạnh...
Mặc dù còn những hạn chế, nhưng những thành quả của Việt Nam trong bảo đảm quyền được thông tin của người dân là rất cơ bản và không thể phủ nhận. Những tiến bộ đó đã được dư luận quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nỗ lực phát huy những thành quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại, hạn chế. Mặt khác, Việt Nam kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc, bóp méo sự thật về bảo đảm quyền con người nói chung và quyền được thông tin, tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam nói riêng./.


Nguyễn Đình Cống – sự hư hỏng về nhân cách của một vị giáo sư


Quá bận việc, nay mới có dịp “dạo chơi” trên mạng để xem cộng đồng luận gì về thế sự. Nhưng hôm nay tôi quả là giật mình, khi đọc bài Trao đổi về Đại hội 13 của ĐCSVN của Giáo sư Nguyễn Đình Cống, nguyên là nhà giáo của Trường Đại học Xây dựng, một nhà khoa học khá nổi tiếng với những công trình khoa học về kết cấu xây dựng. Tôi biết đến ông Cống cũng rất tự nhiên, vì nhà tôi có chú em từng là sinh viên của Trường Đại học Xây dựng, thường nghiên cứu nhiều sách về chuyên ngành xây dựng, trong đó có những cuốn sách của ông.
Chuyện về xây dựng, thì tôi không thạo lắm, nhưng cũng kính nể Giáo sư Cống theo những lời khen ngợi của đám bạn thằng em tôi khi đọc sách về chuyên ngành xây dựng của thầy. Song quả thật, nếu thầy chuyên tu về ngành xây dựng thì đời sẽ vinh hiển, được nhiều người quý mến, tôn trọng hơn. Nhưng khi nói sang chuyện chính trị, thì tôi thấy ông Cống không còn đáng kính nữa. Bởi triết lý về sự nghiệp của cuộc đời, có lẽ ông Cống đã là Giáo sư thì không để phải “trò” dạy lại “thầy” cái chữ đã được đúc kết trong thành ngữ của người Việt ta rằng: “Một nghề thì sống, đống nghề thì chết”, hay Nhất nghệ tinh nhất thân vinh”… Quả thật là bất kính khi phải đọc lại từng chữ này cho Giáo sư hiểu.
Nhưng ông Cống thứ lỗi cho, đời nó là vậy, bởi không ai có thể tự cho mình làm thầy của thiên hạ suốt cuộc đời; lúc này mình là thấy, còn lúc khác mình tất yếu là trò. Nếu đọc từng câu chữ trong bài viết trên của ông, thì thấy thật đáng tiếc cho ai đã giới thiệu cho ông vào Đảng, và cũng thật buồn phiền cho Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân ta đã mất toi công “nuôi dưỡng ông từ lúc ấu thơ, chăm bẵm, bú mớm” cho ông nên người dưới mài trường xã hội chủ nghĩa, những mái trường mang tên các danh nhân, chí sĩ yêu nước nổi tiếng một thời như: Phan Bội Châu, Phan Đình Phùng, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và cả trường Đại học Xây dựng Khác-cốp ở Liên Xô nữa – một nhà nước xã hội chủ nghĩa chính hiệu của chủ nghĩa xã hội thời đó… Ông được ăn học, nuôi dạy đầy đủ, chẳng thiếu thứ gì, giữa cảnh bao người con đất Việt đến tuổi như ông lại phải xông pha ngoài trận tuyến theo tiếng gọi cứu nước của non sông, của Bác Hồ và của Đảng mà ra mặt trận, chiến đấu hy sinh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước hại dân… Vậy mà ông đòi bỏ ngôi nhà xã hội chủ nghĩa đó đi?!
Ông từ bỏ Đảng à? Đó là việc của ông. Không có ông thì còn bao nhiêu người khác nối tiếp cái sự nghiệp tự do, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội này, sự nghiệp đã được lớp lớp những người con thân yêu, cống hiến hy sinh quên mình cho Tổ quốc trước đây cũng như hiện nay bước tiếp. Mới vẻn vẹn có 31 năm tuổi Đảng, với một cuộc sống chẳng biết gì đến mùi thuốc súng của bão lừa chiến tranh, đau thương, hy sinh mất mát, hay một chút gian lao, khó nhọc nào của người công nhân trong nhà máy, của người nông dân trên đồng ruộng, mà ông đòi đối thoại với Đảng à? Ông lại giở chiêu kích tướng “Đảng không dám đối thoại” về Đại hội XIII! Ông có tư cách gì, nhân cách nào mà để Đảng đối thoại với ông, khi đòi Đảng phải thay tên đổi họ, đòi nước phải thay tên đổi hiệu.
Tiếc thay cho cái “thân già da cóc đến khắm khú” của ông như một học trò đã viết về ông. Ông đã không tránh khỏi vết xe đổ của mấy kẻ bất mãn chế độ, mấy tay dân chủ giả hiệu, bị lừa phỉnh mà phí phạm cuộc đời, tự sỉ vả, “phóng uế” vào công danh, sự nghiệp khó nhọc theo đuổi hoài bão ước mơ về những công trình xây dựng của mình… Nhưng cũng nhắc để ông biết, Đảng, Nhà nước, nhân dân cho ông ăn học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân, xây nên những ngôi nhà của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, của hạnh phúc ấm no cho dân, chứ không phải để xây nên mấy ngôi nhà hoang của những kẻ dân chủ giả hiệu, mà bản chất là phản dân, hại nước, lúc nào cũng tung ra và nêu lên những giọng điệu tự do ngôn luận, tự do báo chí, hay đòi từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, đòi từ bỏ độc đảng, thiết lập đa đảng… để lòe bịp ít người còn chưa có điều kiện học tập nâng cao nhận thức…
Cái hư hỏng của ông Cống, không phải ở các tri thức khoa học về kết cấu xây dựng, mà là ở cái sự hư hỏng về kết cấu nhân cách làm người, cách ứng xử với con người, chế độ, nhà nước và nhân dân đã nuôi dưỡng ông thành tài, thành danh. Đó còn là cái hư hỏng của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, thay đổi lập trường quan điểm, từ kẻ bất mãn, trở thành kẻ trở cờ, phản bội lại sự nghiệp của Đảng, lợi ích của nhân dân, của dân tộc, khiến cho băng hoại cái nhân cách của người thầy, của một nhà khoa học.
Nhà hỏng có thể xây lại được, có đúng không Giáo sư kết cấu xây dựng Nguyễn Đình Cống? Nhưng sự hư hỏng về nhân cách thì liệu có công trình khoa học nào của ông có thể ứng dụng sửa chữa được? Theo tôi, chỉ có cuộc đời mới dạy được cho cách sửa chữa. Con đường chân chính nhất là phải quay trở về với tiếng gọi phục vụ sự nghiệp vĩ đại của nhân dân ta trên con đường tiến lên xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.

Một cái nhìn chủ quan, phiến diện và xuyên tạc sự thật


Trong bản “Phúc trình thường niên về tệ buôn bán người trên thế giới” ra ngày 20-6-2019, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng “vấn đề buôn bán người tại Việt Nam vẫn rất nghiêm trọng do không xử lý triệt để tội phạm buôn người theo pháp luật”, từ đó họ đưa Việt Nam vào “nhóm quốc gia có vấn đề buôn bán người bậc 2 và sẽ bị theo dõi do không đạt được những tiêu chuẩn cần thiết nhằm loại bỏ và giảm thiểu nạn buôn bán người”. Cần phải thấy ngay rằng cách nhìn nhận ấy của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là chủ quan, phiến diện một chiều và xuyên tạc sự thật.
Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong mọi chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, con người luôn được đặt vào vị trí trung tâm. Nhằm góp phần bảo vệ quyền con người, giữ gìn trật tự an toàn và ổn định xã hội, công tác phòng, chống tội phạm (PCTP) nói chung, tội phạm mua bán người nói riêng luôn được Việt Nam đặc biệt chú trọng. Những nỗ lực, cố gắng của Việt Nam trong đấu tranh PCTP mua bán người thời gian qua là toàn diện, rõ nét và không ai có thể phủ nhận.  
Không chỉ xâm hại quyền con người, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đạo đức, nhân phẩm, tính mạng của các nạn nhân, tội phạm mua bán người còn gây ảnh hưởng xấu đến nền tảng đạo đức, giống nòi, thuần phong mỹ tục, tác động trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội... Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm ấy, những năm qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam từ Trung ương đến địa phương luôn thể hiện trách nhiệm cao, thái độ kiên quyết trong phối hợp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý tội phạm mua bán người. Dưới sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, cơ quan chức năng đã tích cực triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục và đã tạo được sự chuyển biến cơ bản về nhận thức và hành động của toàn xã hội đối với công tác phòng, chống mua bán người. Không chỉ phổ biến kiến thức pháp luật về tội mua bán người, công tác tuyên truyền của Việt Nam còn hướng vào nâng cao nhận thức cho người dân về thủ đoạn của những kẻ mua bán người, đề cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng và từng người dân trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. 
Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về phòng, chống mua bán người. Tại Điều 150 và Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định rõ về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi. Đặc biệt, Luật Phòng, chống mua bán người được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2012 đã quy định khung pháp lý quan trọng làm cơ sở cho công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm mua bán người. Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 62/2012/NĐ-CP quy định căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân của họ. Ngày 3-5-2018, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg về ngăn chặn, đấu tranh tình trạng công dân Việt Nam xuất cảnh, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp, vi phạm pháp luật ở nước ngoài, nhằm hạn chế tình trạng tội phạm lợi dụng để bán người ra nước ngoài. Với mục tiêu huy động mọi nguồn lực, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc, ngày 10-5-2016, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quyết định lấy ngày 30-7 hằng năm là “Ngày Toàn dân phòng, chống mua bán người”. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động PCTP mua bán người giai đoạn 2016-2020, hướng tới mục tiêu chung là giảm nguy cơ mua bán người, tội phạm mua bán người; thực hiện hiệu quả công tác tiếp nhận bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về... Để theo kịp với những diễn biến của tình hình, Việt Nam luôn tích cực nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung hệ thống chính sách, pháp luật theo hướng ngày càng đồng bộ hơn, tính khả thi cao hơn, tạo khung pháp lý thuận lợi hơn cho công tác đấu tranh PCTP buôn bán người và tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán khi được giải cứu.
Việt Nam tích cực tham gia và thể hiện rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện các điều ước quốc tế. Các hoạt động nhằm đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống mua bán người được Việt Nam hưởng ứng mạnh mẽ. Việt Nam gia nhập Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia từ ngày 8-6-2012; Nghị định thư về phòng ngừa trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em từ ngày 29-12-2011 và Công ước số 29 của Tổ chức Lao động quốc tế về chống lao động cưỡng bức. Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước ASEAN về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em (Công ước Actip)... Được sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Việt Nam triển khai thành công dự án thành lập đường dây nóng phòng, chống buôn bán người. Việc làm này được xem là một trong những giải pháp hữu hiệu, phù hợp để tăng cường mạng lưới hợp tác, phối hợp về phòng, chống mua bán người tại Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội mua bán người theo pháp luật. Các lực lượng, cơ quan chức năng của Việt Nam luôn quán triệt thực hiện tốt phương châm, nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm trong đấu tranh, xử lý với tội phạm mua bán người. Thông tin từ Bộ Công an cho biết, năm 2018, toàn quốc phát hiện 211 vụ với 276 đối tượng, lừa bán 386 nạn nhân, so với năm 2017 giảm 43,88% số vụ, giảm 43,8% số đối tượng, trong đó đã điều tra, khởi tố 200 vụ, 261 đối tượng. Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 109 vụ, 194 bị can. Tòa án nhân dân các cấp thụ lý 130 vụ, với 233 bị cáo; đã giải quyết, xét xử 116 vụ, với 213 bị cáo. Các cơ quan chức năng đã xác minh, giải cứu, tiếp nhận gần 1.500 trường hợp, trong đó có hơn 490 trường hợp được xác định là nạn nhân bị mua bán, còn lại là những người được xác định nhập cảnh và di cư trái phép. Trong 6 tháng đầu năm 2019, triển khai kế hoạch đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, trong đó có tội phạm mua bán người, lực lượng công an đã phát hiện 89 vụ, 142 đối tượng lừa bán 169 nạn nhân, so với cùng kỳ năm trước giảm cả về số vụ, số đối tượng và số nạn nhân.
Tuy nhiên, Việt Nam không phủ nhận công tác PCTP mua bán người còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Đáng chú ý là do nhận thức chưa đầy đủ nên cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc, hướng dẫn và giám sát việc thực hiện công tác đấu tranh PCTP nói chung và tội mua bán người nói riêng. Do hiệu quả của công tác truyền thông chưa cao nên nhận thức của một bộ phận người dân về công tác đấu tranh phòng, chống buôn bán người còn nhiều khoảng trống, nhất là về thủ đoạn của các đối tượng phạm tội. Điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu việc làm, thêm vào đó là sự nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác của người dân thường bị các đối tượng mua bán người lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế rộng mở, tình hình tội phạm có chiều hướng diễn biến phức tạp và thực tiễn luôn biến đổi không ngừng, do đó việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến loại tội phạm này chưa theo kịp được yêu cầu, còn những bất cập nảy sinh. Mặt khác hệ thống pháp luật về phòng, chống mua bán người của Việt Nam với hệ thống pháp luật các nước tiếp giáp còn nhiều điểm khác nhau, trong khi hành vi phạm tội của các đối tượng không chỉ trong khuôn khổ nội địa mà còn mang tính chất xuyên quốc gia. Đây là một trong những khó khăn tác động trực tiếp đến công tác đấu tranh, nhất là trong bắt giữ, điều tra, xử lý các vụ án mua bán người ở Việt Nam...
Dù còn những tồn tại, hạn chế nhất định nhưng những nỗ lực của Việt Nam trong đấu tranh PCTP mua bán người là không thể phủ nhận. Từ những kết quả nổi bật nói trên có thể khẳng định việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng “vấn đề buôn bán người tại Việt Nam vẫn rất nghiêm trọng do không xử lý triệt để tội phạm buôn người theo pháp luật” là không có cơ sở, phiến diện và xuyên tạc sự thật.
Cần phải thấy rõ một thực tế là không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới hoạt động mua bán người tiếp tục diễn biến phức tạp. Ðây là công việc nhiều khó khăn, trở ngại nhưng với quyết tâm chính trị và bằng kinh nghiệm của mình Việt Nam sẽ tiếp tục huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tội phạm mua bán người. Trong bối cảnh tội phạm mua bán người hình thành các đường dây, tổ chức xuyên quốc gia, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng, các tổ chức quốc tế trong PCTP mua bán người. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên quyết lên án mọi hành động cản trở cuộc đấu tranh phòng, chống mua bán người và kịch liệt phản đối, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt nhằm phủ nhận những thành tựu bảo vệ quyền con người nói chung và công tác phòng, chống tệ nạn mua bán người nói riêng ở Việt Nam./.

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU KÍCH ĐỘNG BIỂU TÌNH, BẠO LOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Trong những năm gần đây, nhân các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, hay lợi dụng những vấn đề nhạy cảm liên quan đến sự cố môi trường, quản lý đất đai, Quốc hội thông qua dự thảo Luật; vấn đề dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn trọng điểm như Tây Bắc, Tây Nguyên… các thế lực thù địch và tổ chức phản động lưu vong đã liên tục đăng tải, chia sẻ các bài viết, hình ảnh có nội dung xuyên tạc trên các trang mạng xã hội, qua đó kêu gọi, kích động người dân, nhất là công nhân các khu công nghiệp biểu tình với các hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nham hiểm. Đặc biệt, nhân sự kiện biểu tình rầm rộ ở Hồng Kông thời gian qua, chúng lại càng lu loa và kêu gọi người dân "xuống đường" để bày tỏ "chính kiến"... Có thể nói, ban đầu hoạt động biểu tình mang tính chất manh nha của những nhóm nhỏ do một số phần tử bất mãn trong nước và một số nhân vật chống đối cực đoan phát động, sau đó được nhiều tổ chức phản động như “Việt Tân”, “Chính phủ lâm thời quốc gia”, Khối 8406, Liên minh Việt Nam Tự do… tát nước theo mưa. Chúng công khai tuyên bố rằng, đây là cuộc biểu tình để lật đổ chế độ, đồng thời kêu gọi người dân mang theo bom xăng, vũ khí để tự vệ “ôn hòa”.
Dễ nhận thấy, những lời kêu gọi đó phần nhiều là giả dối, lừa dân, mang tính kích động, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động biểu tình phi pháp để chống phá chính quyền theo mô hình “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. Từ các cuộc biểu tình, chúng sẽ tạo ra điểm nóng, tạo ra bạo loạn chính trị tiến tới lật đổ chính quyền. Chúng thể hiện rõ mục tiêu lâu dài đó khi thông báo sẽ còn kêu gọi biểu tình cho đến khi nào lật đổ chế độ cộng sản mới thôi. Và trong thực tiễn, chúng đã nhiều lần thực hiện âm mưu, thủ đoạn thâm độc này. Tuy nhiên, các thế lực thù địch dù có kêu gọi đến đâu, đưa ra những kịch bản gì thì với người dân Việt Nam yêu nước chân chính, đó chỉ là những chiêu trò phá hoại lố bịch của những kẻ “thiểu năng” sớm bị lên án, tẩy chay và thất bại trước sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, với thế trận an ninh nhân dân gắn với quốc phòng toàn dân vững chắc, cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Ngay cả ở một vài địa phương (Điện Biên, Nghệ An, Bình Thuận, TP Hồ Chí Minh… ) xảy ra những vụ tụ tập, gây rối thì số người tham gia cũng chỉ là cá biệt, là số ít so với đông đảo quần chúng nhân dân tiến bộ, chân chính vẫn tuyệt đại đa số tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Đã đến lúc, mỗi người dân Việt Nam dù ở đô thị hay nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa phải luôn đề cao cảnh giác trước chiêu trò kêu gọi, lôi kéo đi biểu tình của chúng. Đồng thời, chính quyền cơ sở, các lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân phải chủ động, nhạy bén, kịp thời hơn nữa trong phát hiện, xử lý kiên quyết, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của chúng. Trong đó, cần chủ động nắm bắt thông tin và bảo đảm an toàn thông tin tốt hơn nữa trên mạng xã hội, không để kẻ xấu biến mạng xã hội thành môi trường tán phát, kích động biểu tình. Với những đối tượng cầm đầu kêu gọi biểu tình và chuẩn bị biểu tình, cần phải bị xử lý nghiêm khắc hơn nữa, kịp thời khởi tố các vụ án hình sự có đủ căn cứ gắn với tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Không thể nương nhẹ hoặc dung túng để chúng tiếp tục “quá mù ra mưa”, nhất là không để một số đối tượng cực đoan, cầm đầu tiếp tục “nhảy múa trên thanh gươm pháp luật”, kêu gọi bạo lực để phá hoại cuộc sống yên bình của Nhân dân; phá hoại công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta./.
(Theo Sách bên hoa)

CẢNH GIÁC TRƯỚC THÔNG TIN TÌNH HÌNH Ở ĐẮK LẮK


Ngày 11/7, mạng xã hội xuất hiện nhiều hình ảnh, bài viết chia sẻ về việc lực lượng Công an xuất hiện tại một số tỉnh tại Tây Nguyên để chống phản động Fulro. Cùng lúc, một số tài khoản Facebook cá nhân cũng chia sẻ thông tin này nhưng để xuyên tạc lực lượng Công an “cướp đất”.
Theo đó, các bài viết trên mạng xã hội đều xưng danh một người tên Lê Hòa, được cho là ở Đắk Lắk tố “lực lượng Công an lợi dụng danh nghĩa chống Fulro để cướp đất của dân”. Người này cũng thông tin rằng người dân Đắk Lắk đang phản đối vụ việc đền bù cho 1 mẫu đất chỉ với giá 3 triệu đồng thì bị Công an “đàn áp, bắt bớ”. Mặc dù chưa rõ cụ thể sự việc trắng đen ra sao, bài viết vẫn nhận được nhiều lượt chia sẻ, bình luận mang tính chỉ trích.
Để không bị động bất ngờ như những năm 2004 và vụ việc xẩy ra ở Bình Thuận ngày 10/06/2018 vừa rồi. Các lực lượng đã chuyển sang trạng thái thường trực sẵn sàng chiến đấu.
Thông tin mù mờ
Hiện nay, các phương tiện truyền thông chính thức chưa hề có bất kỳ một thông tin nào về việc có xảy ra tình trạng Fulro hoạt động trở lại tại Tây Nguyên cũng như công tác đối phó của các lực lượng vũ trang. Vậy nên, mọi hình ảnh, bài viết trên mạng xã hội đều có thể là những tin giả nhằm câu like, câu share,… hoặc vì những mục đích gây rối an toàn thông tin khác.
Chưa có cơ sở khẳng định sự việc, mọi hành vi phát tán thông tin, chia sẻ, bình luận vô căn cứ đều có thể trở thành hành vi vi phạm pháp luật về An ninh mạng Đây là điểm quan trọng mà tất cả mọi người cần chú ý. Chúng ta không nên tự đẩy mình và việc vi phạm pháp luật vì những thứ không rõ ràng, không đáng tin trên mạng xã hội như thế.
Mặt khác, với vu cáo “Công an cướp đất”, chúng ta hoàn toàn có thể nhận ra đây là một lời bịa đặt.
Thứ nhất, thử động não mà xem, lực lượng Công an cướp đất để làm gì: Để xây nhà hay để trồng cây…? Đã không ít lần lực lượng Công an bị “gán” cho cái mác cướp đất nhưng thực chất đằng sau những vụ việc như thế, lực lượng này chỉ làm công tác đảm bảo an ninh trật tự. Trên thực tế, ở những dự án, công trình triển khai có cưỡng chế đất đai, mọi người thấy sự xuất hiện của lực lượng Công an nhưng lực lượng này chỉ bảo đảm an toàn, an ninh khu vực mà hoàn toàn không sử dụng cũng như sở hữu phần đất đai thi công. Chưa nói đến việc thi công, triển khai công trình trên đất là đúng hay sai, nhưng chắc chắn việc lực lượng Công an phải duy trì đảm bảo an ninh trật tự là cần thiết. Nếu không có lực lượng Công an, khả năng xảy ra gây rối, đập phá tài sản, đánh người gây thương tích là rất cao. Mà nếu xảy ra những sự việc đó thì chính người dân chịu thiệt hại chứ không phải ai khác. Là lực lượng Công an đang bảo vệ an toàn cho người dân.
Thứ hai, trong thông tin được chia sẻ trên mạng, có thông tin cho rằng lực lượng Công an lấy cớ chống phản động để bắt người. Điều này là vô lý. Bởi lẽ, bắt người là biện pháp ngăn chặn có quy định rất rõ ràng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước. Một người chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, không có hành vi đe dọa đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội sẽ không bao giờ bị bắt. Hoặc, nếu bị “bắt oan” thì hoàn toàn có quyền khiếu nại, tố cáo và sẽ được bồi thường. Lực lượng Công an là lực lượng thực thi pháp luật, hơn ai hết sẽ rất hiểu và chấp hành nghiêm những quy định của pháp luật.
Thứ ba, lực lượng Công an ra quân đảm bảo an ninh trật tự phải có kế hoạch của cấp có thẩm quyền. Rõ ràng, sự việc lần này còn chưa có thông tin từ phía Bộ Công an, hay Công an địa phương các tỉnh Tây Nguyên thì lấy đâu ra thông tin mà các cá nhân trên mạng xã hội phát biểu? Nếu được chọn, một người thông minh sẽ tiếp cận thông tin từ phía cơ quan chức năng thay vì các cá nhân không rõ danh tính trên mạng xã hội.
Âm mưu gây rối
Mọi thông tin xuyên tạc về vấn đề đất đai, hoạt động của Công an, quân đội,… đến cùng cũng đều nhằm mục đích kích động người dân biểu tình, gây rối…
Trong quá khứ, bạo loạn Tây Nguyên xảy ra hai năm 2001, 2004 cũng là do xuất phát từ những nhận thức sai lệch của người dân về chính sách, pháp luật cũng như hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước. Đằng sau, một loạt các đối tượng tung tin giả nhằm gây rối tình hình, đánh lừa dư luận…
Vụ việc xuyên tạc về Tây Nguyên lần này rất có thể là một thủ đoạn nhằm gây rối tình hình an ninh, trật tự tại Tây Nguyên thêm một lần nữa của các thế lực thù địch. Sự việc trắng đen rõ ràng rất dễ thấy. Quan trọng là trước mỗi thông tin, mỗi người cần bình tĩnh suy xét và nhìn nhận một cách khách quan. Hãy lên tiếng khi mọi thứ rõ ràng, hãy hành động khi biết được sự đúng đắn. Ở đây, hãy hành động, lên tiếng để đẩy lùi những thông tin mù mờ, sai sự thật đang được lan truyền về tình hình Tây Nguyên.
(Theo Lính trẻ miền Đông)

Việt Nam sẵn sàng đóng góp tích cực cho nỗ lực chung của quốc tế vì hòa bình, an ninh, phát triển và tiến bộ



Nhân dịp Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có bài viết “Đối tác vì Hòa bình bền vững: Việt Nam sẵn sàng đóng góp tích cực cho nỗ lực chung của quốc tế vì hòa bình, an ninh, phát triển và tiến bộ”. Tạp chí Cộng sản điện tử trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết này:
Ngày 07-6-2019, trong khuôn khổ Khóa 73 Đại hội đồng Liên hợp quốc, Việt Nam đã được đông đảo các quốc gia thành viên tín nhiệm cao bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020-2021. Việc Việt Nam lần thứ hai trong vòng hơn 10 năm được bầu làm thành viên cơ quan có vai trò hàng đầu của Liên hợp quốc trong việc duy trì hòa bình, an ninh quốc tế không chỉ là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với vị thế của Việt Nam đổi mới, hội nhập, mà còn là sự tin tưởng, kỳ vọng vào những đóng góp trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế trong những năm tới.

Trong lần đầu tiên tham gia vào công việc của Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009, Việt Nam đã nỗ lực rất cao và được các thành viên Liên hợp quốc hợp tác, ủng hộ và đã đảm nhiệm thành công nhiệm vụ của mình, góp phần đề cao tuân thủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, giảm căng thẳng và thúc đẩy hợp tác, hỗ trợ giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh tại nhiều khu vực trên thế giới, đồng thời có những sáng kiến cụ thể, thực chất về nội dung cũng như giúp cải tiến phương thức hoạt động của Hội đồng Bảo an.

Với chính sách đối ngoại hòa bình, hòa hiếu, độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, sẵn sàng đóng góp có trách nhiệm và tích cực thúc đẩy hòa bình, an ninh, phát triển và tiến bộ trên thế giới, Việt Nam đã tham gia tích cực vào nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Cộng đồng Pháp ngữ, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)…; chủ trì thành công nhiều sự kiện quốc tế quan trọng, mà gần đây là Năm APEC 2017 và Hội nghị hợp tác WEF-ASEAN 2018, qua đó khẳng định khả năng chủ động tham gia dẫn dắt, định hình các cơ chế quốc tế và khu vực. Việt Nam cũng đã tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, lần đầu tiên triển khai thành công Bệnh viện dã chiến cấp 2 đến Phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan (tháng 10-2018) và mới đây hoàn thành tốt vai trò nước chủ nhà của Hội nghị thượng đỉnh Triều - Mỹ lần thứ hai (tháng 02-2019), từng bước phát huy vai trò “trung gian, hòa giải” trong giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế.

Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập sâu rộng, thế và lực của đất nước đã được nâng lên. Kinh tế luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, GDP tăng bình quân 6,67%/năm, năm 2018 tăng 7,08%, tiềm lực và quy mô nền kinh tế ngày càng tăng, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao. Việt Nam nằm trong số ít quốc gia đã hoàn thành trước thời hạn nhiều mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc MDG 2015, nhất là về giảm nghèo. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược/đối tác toàn diện với 28 nước, trong đó có tất cả các nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội to lớn và đường lối đối ngoại rộng mở: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy trong cộng đồng quốc tế, không chỉ giúp nâng cao hình ảnh và vị thế của đất nước trên trường quốc tế, mà còn giúp Việt Nam tiếp tục đóng góp chủ động và tích cực hơn vào đời sống chính trị khu vực và thế giới.

Bước vào thập kỷ thứ ba của thế kỷ XXI, với những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ và cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang lan tỏa trên toàn cầu, mặc dù hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo, là khát vọng thiết tha của mọi quốc gia, dân tộc, nhưng thế giới vẫn tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức về hòa bình và an ninh. Chiến tranh, xung đột, khủng bố, nghèo đói và chậm phát triển vẫn là những mối đe dọa thường trực ở nhiều khu vực. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, dân túy, cạnh tranh địa chính trị giữa các nước lớn, việc theo đuổi sức mạnh cường quyền, đi ngược luật pháp quốc tế đang tác động tiêu cực đến môi trường an ninh và phát triển của các quốc gia. Các vấn đề toàn cầu như khủng bố, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… đã vượt quá năng lực giải quyết của bất cứ một quốc gia riêng lẻ nào, dù đó là siêu cường, đòi hỏi sự nỗ lực và hợp tác của tất cả các quốc gia.

Trong bối cảnh đó, hợp tác đa phương, với Liên hợp quốc đóng vai trò trung tâm, đang đứng trước cả những thách thức và cơ hội. Liên hợp quốc và trực tiếp là Hội đồng Bảo an, với chức năng ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, kiến tạo và gìn giữ hòa bình, từ thực tiễn của gần 75 năm tồn tại và phát triển, cần và phải là trung tâm hợp tác, huy động được tất cả các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, tham gia, đóng góp nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của mình trong việc tìm kiếm giải pháp lâu dài, bền vững cho các thách thức toàn cầu hiện nay.

Từng trải qua những năm dài chiến tranh và hy sinh tất cả cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất đất nước, tạo dựng môi trường hòa bình cho phát triển, người dân Việt Nam hiểu rõ hơn ai hết giá trị của hòa bình. Việt Nam có kinh nghiệm, có khả năng và đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc tham gia thúc đẩy giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Thật vinh dự và tự hào khi Việt Nam chúng ta được cộng đồng quốc tế tín nhiệm với mức rất cao để trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khẳng định sự đúng đắn của đường lối đối ngoại do Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra và tinh thần Chỉ thị 25/CT-TW ngày 08-8-2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, theo đó Việt Nam “chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc”, góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình, ổn định phục vụ phát triển đất nước, đồng thời thể hiện tốt vai trò thành viên có trách nhiệm, tham gia đóng góp vào xây dựng một trật tự thế giới hòa bình, công bằng, dân chủ và tiến bộ. Đây cũng là cơ hội để chúng ta khẳng định vị thế đất nước và nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế, tự tin tiếp bước đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả trong hệ thống quản trị toàn cầu, làm sâu sắc thêm quan hệ song phương với các nước, các đối tác trên thế giới, thể hiện hình ảnh đất nước và con người Việt Nam thân thiện, năng động và yêu chuộng hòa bình, thể hiện niềm tin của người dân Việt Nam vào một thế giới đối thoại đa chiều, tôn trọng luật pháp quốc tế, hòa bình, hợp tác bình đẳng, cùng phát triển.

Ngay trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, Việt Nam đồng thời sẽ đảm nhiệm vị trí Chủ tịch ASEAN năm 2020. Đây là trọng trách rất lớn, là “trách nhiệm kép”, cũng là cơ hội thuận lợi giúp Việt Nam thúc đẩy việc tăng cường hợp tác giữa Liên hợp quốc với các tổ chức khu vực, tiểu khu vực, bao gồm ASEAN, qua đó đóng góp hiệu quả vào việc đề cao vai trò của chủ nghĩa đa phương đối với hòa bình và an ninh của khu vực và quốc tế.

Với thế và lực mới của đất nước, sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân, chúng ta sẽ hợp tác cùng nhau thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và vận dụng, phát huy sáng tạo, linh hoạt tư tưởng phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh về hòa bình và hợp tác quốc tế, “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta”[1]. Tôi tin tưởng rằng với kinh nghiệm trong nhiệm kỳ 2008-2009, Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng và sẽ nỗ lực hết sức mình để đảm nhiệm thành công trọng trách Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, thực sự trở thành “Đối tác vì Hòa bình bền vững”, và mong nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ, hợp tác của các nước thành viên Hội đồng Bảo an, các thành viên Liên hợp quốc để cùng đóng góp tích cực cho nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì một hành tinh xanh, và màu cờ xanh của Liên hợp quốc sẽ mãi là màu xanh của hòa bình, của phát triển bền vững và là màu xanh của niềm tin và hy vọng vào tương lai tươi sáng./.

---------------------------------

Tài liệu tham khảo: 

[1] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, trang 228.

Nhận diện và đấu tranh với âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá Đảng, Nhà nước, hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam



Những năm gần đây, khái niệm “xã hội dân sự” xuất hiện trên các diễn đàn, báo chí, truyền thông xã hội với tần suất ngày càng nhiều hơn. Sở dĩ được thảo luận nhiều, vì trong vòng hơn hai thập niên qua, “xã hội dân sự” được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá Đảng, Nhà nước ta
Hiện nay, vấn đề “xã hội dân sự” (XHDS) đã và đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Sau thất bại trong hoạt động chống phá Việt Nam ở các giai đoạn trước, hiện nay, các thế lực thù địch xem việc củng cố, thúc đẩy “XHDS” theo mô hình phương Tây là một hướng đi mới, là một trong những phương thức tác động cơ bản của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” là tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, hình thành “XHDS độc lập về chính trị” là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, buộc Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ra sức cổ vũ cho hình thành ở Việt Nam một mô hình “XHDS độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. 
Hòng thực hiện âm mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị, xã hội phức tạp của “XHDS” để tác động vào hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng, cường điệu hóa vai trò của XHDS, cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động đến gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ đối ngoại. Các đối tượng chống đối nhân danh chiêu bài “XHDS”, “dân chủ”, “nhân quyền”... để tập hợp lực lượng, lập hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích dễ gây “ấn tượng” với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”,... 
Thủ đoạn mà các đối tượng chống đối sử dụng phổ biến hiện nay là thông qua các trang web, diễn đàn trực tuyến, nhất là mạng xã hội để công khai tổ chức, tuyên truyền, lừa bịp, lôi kéo quần chúng tham gia; sử dụng các phần mềm bảo mật để liên lạc, tổ chức huấn luyện, đào tạo trực tuyến cho thành viên; công khai viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập đảng chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quy định pháp luật, đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự... Ngoài ra, các đối tượng này còn tìm cách chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, lợi dụng các khuyết điểm trong quản lý đất đai, môi trường... để kích động khiếu kiện, tụ tập đông người, biểu tình, xuyên tạc tình hình, hạ uy tín cán bộ; thông qua các hoạt động này để tập hợp lực lượng, gây thanh thế, từng bước nhen nhóm và thành lập tổ chức chính trị đối lập... Tại các địa bàn chiến lược, các đối tượng chống đối đẩy mạnh xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo; kích động tư tưởng ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khơi gợi, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tuyên truyền phát triển các tổ chức tôn giáo phi pháp, tụ tập “xưng vua”... 
Bên cạnh đó, dưới danh nghĩa đại diện các tổ chức “XHDS”, một số đối tượng chống đối đã tham gia các buổi điều trần ở nước ngoài, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đề nghị can thiệp trả tự do cho các đối tượng chống đối trong nước bị bắt do vi phạm pháp luật... Đặc biệt, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận đảng viên, tình trạng yếu kém, sai phạm của một số cán bộ để thổi phồng, cường điệu hóa khuyết điểm, “hạ bệ” uy tín chính trị của Đảng, lôi kéo người dân tham gia các tổ chức mang danh nghĩa “XHDS” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, một số tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài rất quan tâm đến các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội ở nước ta và tìm cách xâm nhập, tác động, hướng lái hoạt động, chuyển hóa dần các tổ chức này khi chưa đủ điều kiện, thời cơ thành lập tổ chức đối lập. Thông qua các hoạt động, như triển khai dự án, tài trợ tài chính, tổ chức hội thảo với các NGO Việt Nam, một số tổ chức nước ngoài đã đi sâu xâm nhập, tìm hiểu nội bộ, xu hướng quan điểm của các NGO Việt Nam, kích động các tổ chức này thoát ly vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước, cổ vũ quyền “tự do lập hội” theo tiêu chí phương Tây. Ngoài ra, một số tổ chức nước ngoài còn hỗ trợ tài chính cho một số NGO Việt Nam để xuất bản, phát hành tài liệu nghiên cứu, văn bản luật nước ngoài nhằm tuyên truyền quan điểm, pháp luật phương Tây đến với công chúng Việt Nam một cách công khai.
Các tổ chức phản động nước ngoài cũng tìm cách thúc đẩy hình thành “XHDS” tại Việt Nam với mục đích chống phá từ bên trong. Tổ chức “Bảo vệ người lao động” (tại Ba Lan) gia tăng hoạt động với ý đồ chuyển hướng xâm nhập vào trong nước, thúc đẩy hình thành các tổ chức “công đoàn tự do”. Tổ chức “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” đã tiến hành “Đại hội thanh niên sinh viên Việt Nam trên thế giới lần thứ V” vào tháng 1-2008 tại Ma-lai-xi-a. Tại “đại hội” này, các đối tượng tham gia cho rằng để tiến hành “cuộc cách mạng hòa bình” tại Việt Nam thì phải xây dựng được một “XHDS bền vững” và muốn thay đổi xã hội thì không chỉ trên phương diện chính trị, mà còn trên các phương diện kinh tế, luật pháp, trong mỗi cộng đồng dân cư. Qua đây cho thấy, các thế lực thù địch bên ngoài đặc biệt quan tâm đến việc lợi dụng “XHDS” để thực hiện âm mưu lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ðáng chú ý là, một số đối tượng cơ hội chính trị có quan điểm cực đoan đã lợi dụng một số tổ chức quần chúng hợp pháp để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn có nội dung đòi “trưng cầu ý dân” về Ðiều 4 của Hiến pháp cũng như sửa đổi toàn bộ Hiến pháp, thúc đẩy hình thành “XHDS” và thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí, lập hội theo tiêu chí phương Tây, tư hữu hóa đất đai... Ðây là phương thức chống đối công khai rất nguy hiểm, nếu thiếu cảnh giác có thể tạo môi trường để các thế lực thù địch lợi dụng các tổ chức “XHDS” đưa ra những kiến nghị thay đổi thể chế, chuyển đổi hệ thống luật pháp XHCN bằng luật pháp tư sản.
Vì sao các thế lực thù địch, cơ hội chính trị gia tăng hoạt động lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá?
Một số học giả trên thế giới có quan điểm chống cộng rất đề cao vai trò của “XHDS” trong các cuộc “cách mạng sắc màu” lật đổ chế độ XHCN. Giữa những năm 80 của thế kỷ XX, ngay sau khi khởi xướng cải tổ với việc M. Goóc-ba-chốp chủ trương “công khai hóa” và “dân chủ hóa”, các tổ chức đoàn thể phi chính thức và các ấn phẩm tuyên truyền cho tự do hóa tư sản dưới nhiều hình thức đã mọc lên “như nấm sau mưa” ở Liên Xô. Ngày 28-12-1987, xã luận đăng trên báo Sự thật cho biết, Liên Xô khi đó đã có hơn 30.000 tổ chức, đoàn thể phi chính thức. Do thái độ ủng hộ của M. Goóc-ba-chốp, ngày càng có nhiều tổ chức đoàn thể xã hội chống đối Đảng, chính quyền Xô-viết được công khai hóa, hợp pháp hóa. M. Goóc-ba-chốp không những cho phép các đoàn thể phi chính thức tồn tại mà còn cổ vũ thành lập các đảng phái, từng bước thực hiện chế độ đa đảng. Các đảng đối lập ra đời và sau đó đã giành được chính quyền tại một loạt địa phương dưới cái gọi là “bầu cử tự do” là hệ quả trực tiếp của chính sách nêu trên. Những tổ chức này trắng trợn xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, hạ bệ các nhà lãnh đạo Liên Xô trước đây, phủ nhận thành tựu của chủ nghĩa xã hội, ngang nhiên hô hào chống chế độ và Nhà nước Xô-viết. Đây là một trong những nhân tố trực tiếp dẫn đến sự tan rã của Liên Xô. 
Tại Ðông Âu ngay từ những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ở một số nước đã hình thành các công đoàn, hội có xu hướng tách khỏi quản lý của nhà nước, đối lập với chính quyền, hoạt động với danh nghĩa là “tổ chức XHDS” nhân danh bảo vệ công nhân, bảo vệ các quyền dân sự. Thông qua việc lôi kéo quần chúng, với sự hỗ trợ từ nước ngoài, một số tổ chức Công giáo, được kích hoạt thêm bởi các chính sách “công khai hóa”, “dân chủ hóa” và chính sách đối ngoại với đồng minh của M. Goóc-ba-chốp, những tổ chức này nhanh chóng chuyển hóa thành tổ chức chính trị đối lập, đóng vai trò trọng yếu trong việc hạ bệ uy tín của nhà nước, thúc đẩy hình thành chế độ đa đảng và giành chính quyền thông qua cái gọi là “bầu cử dân chủ”. Các cuộc “cách mạng đường phố” tại các nước khu vực Trung Ðông - Bắc Phi hay “cách mạng nhung”, “cách mạng màu” ở một số nước thuộc không gian hậu Xô-viết thời gian qua cũng cho thấy vai trò của các cơ quan đặc biệt nước ngoài, các NGO trong việc hỗ trợ các tổ chức XHDS trong nước lôi kéo, kích động quần chúng lật đổ các chính thể hợp pháp, gây nên tình trạng khủng hoảng chính trị, thậm chí có nước còn lâm vào cảnh chia rẽ, xung đột triền miên, lãnh thổ bị chia cắt lâu dài.
Chúng ta không phủ nhận vai trò nhất định của các tổ chức xã hội, hiệp hội, quỹ, diễn đàn,... nhất là khả năng tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội tại cộng đồng hay nhóm xã hội cụ thể; tập hợp nguyện vọng đa dạng của các tầng lớp trong xã hội phản ánh đến Đảng và Nhà nước; trực tiếp đứng ra cung ứng một số dịch vụ xã hội do Nhà nước ủy quyền, hoạt động trong khuôn khổ quy định pháp luật. Trên thực tế, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng thiết lập các tổ chức xã hội đa dạng theo ngành nghề, lợi ích, nhu cầu, nhân đạo, hữu nghị, sở thích... và không ngừng hoàn thiện quy định pháp luật để phát huy vai trò của các tổ chức này thật sự có ích cho xã hội, cho người dân. Các tổ chức NGO nước ngoài hoạt động tại nước ta thật sự có đóng góp cho cộng đồng, phát triển xã hội, tôn trọng pháp luật Việt Nam đều được tôn trọng, khuyến khích. 
Nhưng cần thấy rõ rằng, ở nhiều quốc gia, nhất là những nước đang phát triển, sự hình thành các tổ chức của “XHDS” thường chịu sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó có các lực lượng chính trị từ bên ngoài thông qua nhiều hình thức và con đường khác nhau. Vậy chúng ta cần nhận thức về “XHDS” như thế nào?
Cùng với thực tế tồn tại và phát triển ngày càng phong phú của các tổ chức hội quần chúng, thuật ngữ “XHDS”, “tổ chức XHDS” được thảo luận, bàn luận khá sôi nổi ở nước ta. Tuy nhiên, đây là vấn đề chính trị, xã hội rất phức tạp, còn nhiều nhận thức khác biệt, thậm chí đối lập nhau, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận. Hiện nay, đang tồn tại hai khuynh hướng nhận thức phổ biến về vấn đề XHDS: Một là, tuyệt đối hóa, đề cao quá mức vai trò của “XHDS”, cho rằng cần đẩy nhanh sự phát triển của “XHDS” ở Việt Nam, đồng nhất quá trình này với thực hiện dân chủ hóa, xem đây là “liều thuốc vạn năng” cho khắc phục những giới hạn của quản lý nhà nước và giải quyết tiêu cực trong đời sống xã hội phát sinh từ cơ chế thị trường; hai là, coi “XHDS” mang tính tiêu cực, “đối lập” với Nhà nước XHCN, là vấn đề nhạy cảm, nên né tránh, ngại đề cập và không khuyến khích nghiên cứu, tìm hiểu, thậm chí dựa vào các tổ chức xã hội hoạt động theo kiểu “bất tuân dân sự”, gây nên tình trạng vô chính phủ, bất ổn chính trị - xã hội ở nhiều nước trên thế giới rồi bài xích, phủ nhận sạch trơn vai trò các hội, quỹ, diễn đàn trong tham gia quản lý phát triển xã hội. Việc chưa thống nhất nhận thức khiến cho cách tiếp cận, ứng xử đối với vấn đề XHDS hiện nay của các cơ quan chức năng đang khá lúng túng. 
Bản chất và những đặc điểm của “xã hội dân sự” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thường lợi dụng để chống phá
Khái niệm “xã hội dân sự” gây nên nhiều tranh cãi tại Việt Nam, có người đặt nó đối nghĩa với “xã hội chính trị”, có người lại xem nó đối lập với “xã hội quân sự”. Nhiều người không thừa nhận khái niệm này vì nội hàm và ngoại diên không tường minh, bởi khó có thể định nghĩa một “xã hội” (dân sự) trong “xã hội” (tổng thể) mà nhân loại lâu nay đã phân định thành các phân hệ - lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường. Có người xem các hiệp hội, tổ chức xã hội chính, quỹ, diễn đàn... là những biểu hiện cụ thể của “XHDS”, nhưng người khác lại cho rằng đó chính là các thiết chế xã hội gắn với các thể chế tương ứng, đâu phải là một “xã hội”. Một định nghĩa về XHDS được chia sẻ rộng rãi: “XHDS là không gian xã hội công cộng nằm ngoài nhà nước, thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các định chế xã hội độc lập tương đối với nhà nước và hoạt động tự nguyện trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội...”. 
Điều đó cho thấy, không có định nghĩa thống nhất về “XHDS” mà nó thường bị giải thích một cách chủ quan bởi ý chí của người muốn sử dụng khái niệm này. Các thế lực thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng tính không rõ ràng, thiếu tính lịch sử - cụ thể của khái niệm này để giải thích nội hàm “XHDS” theo tiêu chí của các nước phương Tây. Trong các nền dân chủ đa đảng, ranh giới giữa một tổ chức của XHDS và đảng chính trị rất mong manh. Một tổ chức xã hội khi đủ điều kiện và đăng ký tham gia tranh cử vào nghị viện, nếu giành được một tỷ lệ phiếu nhất định trong các cuộc bầu cử (theo quy định của các nước rất khác nhau), thì được xếp vào đảng chính trị và nhận được hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước để hoạt động. Thậm chí nếu giành được số phiếu cao có thể trở thành đảng chính trị có vị thế trong đời sống chính trị đất nước. Còn các tổ chức xã hội không hội đủ số phiếu cần thiết, cùng với các hiệp hội, quỹ, diễn đàn, viện nghiên cứu độc lập... được xem là thành tố cấu thành của “XHDS”. Ngay bản thân tài chính của các tổ chức xã hội, viện nghiên cứu độc lập, quỹ, diễn đàn này, một mặt, dựa vào khả năng tự huy động; mặt khác, nhận đấu thầu các gói dịch vụ có nguồn gốc tài chính ngân sách để thực hiện các mục tiêu của chính phủ. Những tổ chức của “XHDS” có vị thế lớn đều có lực lượng chính trị này hay lực lượng chính trị khác đứng sau chi phối, gây ảnh hưởng, thông qua cung cấp tài chính và định hướng mục tiêu hoạt động. 
Trong các nước chuyển đổi chế độ chính trị ở Đông Âu, không gian hậu Xô-viết, Bắc Phi - Trung Đông, cũng như ở nhiều nơi khác, đã từng diễn ra các trường hợp một tổ chức của “XHDS” bằng các chiêu trò dân túy và sự hà hơi, tiếp sức từ bên ngoài, chỉ trong một thời gian ngắn chuyển hóa thành đảng chính trị thực hiện “cách mạng nhung”, “cách mạng màu” rồi trở thành đảng cầm quyền. Các NGO nước ngoài nhân danh “XHDS” hoạt động trên lãnh thổ nước khác hoạt động rất ráo riết để cổ vũ cho thúc đẩy các hoạt động “cách mạng đường phố”, mà đứng sau đều chịu sự chi phối bởi các chính phủ đã cung cấp tài chính. Vì vậy, Tổng thống Nga V. Pu-tin rất mạnh tay với các tổ chức NGO nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước Nga; nhiều nước khác cũng rất cảnh giác, thận trọng, tìm cách quản lý, kiểm soát các tổ chức này nếu không muốn gây nên nguy cơ bất ổn xã hội. 
Do các tổ chức xã hội có vai trò tích cực nhất định, nên các đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã ra sức lợi dụng, tuyệt đối hóa đặc điểm này để tranh thủ quần chúng, tập hợp lực lượng một cách công khai nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước. Họ lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, các vấn đề tiêu cực trong xã hội, vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khi thời cơ chín muồi sẽ hình thành tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam. Có thể nhận dạng mấy điểm sau đây của XHDS:
Thứ nhất, dù những người cổ vũ cho XHDS tự cho rằng XHDS có tính “độc lập” với Nhà nước và không mang bản chất giai cấp, nhưng thực tế cho thấy, XHDS (bao gồm các tổ chức hội, hiệp hội, đoàn thể, tổ chức phi chính phủ, quỹ, diễn đàn...) đều mang tính chính trị, luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng để tiến hành các hoạt động chống Đảng và Nhà nước. “Xã hội dân sự” chính là môi trường mà trong chính bản thân các thành tố cấu thành cũng diễn ra cuộc đấu tranh giữa các nhóm lợi ích trên mọi phương diện, từ chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa... Do đó, các lực lượng, phe phái, đảng phái chính trị luôn tìm cách chi phối, vận động, lôi kéo lực lượng XHDS hoặc chính các thành tố của XHDS (hội, hiệp hội, đoàn thể, quỹ, diễn đàn...) để đạt được mục tiêu, lợi ích của mình đều bị chi phối bởi các thế lực chính trị hoặc bị chính trị hóa ở các mức độ, hình thức khác nhau. Thực tế cho thấy, thời gian qua, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng, thúc đẩy hình thành XHDS đối lập với Đảng, hoạt động ngoài sự quản lý của Nhà nước, tạo tiền đề cho can thiệp, lật đổ dưới danh nghĩa “chuyển hóa dân chủ”, đưa các lực lượng chống đối lên nắm chính quyền. 
Thứ hai, vốn mang tính đa dạng về lợi ích, thành phần, do đó XHDS cũng mang tính đa dạng, đa nguyên về tư tưởng. Đặc trưng này phản ánh tính phức tạp về tư tưởng, văn hóa trong đời sống XHDS. Đối với Việt Nam, sự hình thành của XHDS còn chứa đựng nguy cơ xuất hiện, hình thành hoặc du nhập những khuynh hướng tư tưởng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản, tiền đề trực tiếp dẫn đến đa nguyên về chính trị. 
Thứ ba, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, ý thức công dân, ý thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế; hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, quản lý của chính quyền còn nhiều lỗ hổng; lại có những đặc điểm phức tạp, đa dạng về tôn giáo, dân tộc, di tồn lịch sử của chế độ thực dân... Do đó, sự hình thành và phát triển các yếu tố của XHDS luôn tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng dẫn đến chia rẽ, xung đột, hỗn loạn, vô chính phủ, mất ổn định chính trị, xã hội của đất nước.
Thứ tư, XHDS bao hàm nhiều tổ chức xã hội có tính đa dạng về thành phần, mục đích hoạt động, lợi ích, thiếu tính tổ chức chặt chẽ, do đó nó dễ bị các cá nhân, tổ chức có điều kiện chi phối, lợi dụng để thực hiện các mục đích riêng và tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự, ổn định xã hội. Tính chất đa dạng, phức tạp của XHDS cho thấy đây là khu vực không thuần nhất, tính đồng thuận không cao và thiếu tính nhất quán. Tổ chức XHDS hình thành chủ yếu dựa trên những mối quan hệ và liên kết mềm, tự nguyện, tự quản, tính thống nhất không cao nên dễ xảy ra nguy cơ các tổ chức này chỉ chạy theo lợi ích cục bộ mà không quan tâm đến lợi ích chung, toàn xã hội, tạo ra các “lệ” riêng, có thể gây cản trở đến việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí có trường hợp bị biến tướng phục vụ cho lợi ích của cá nhân, tổ chức có điều kiện chi phối. Thực tế cho thấy, tuyệt đối hóa vai trò các tổ chức của XHDS, xem nhẹ quản lý của Nhà nước, chỉ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tiền đề cho rối loạn, bất ổn. Do tính chất đa dạng và phức tạp này mà XHDS luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các đối tượng, tổ chức thù địch cả trong và ngoài nước mua chuộc, chi phối, lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối.
Thứ năm, một số tổ chức xã hội có vai trò, ảnh hưởng xã hội nhất định, số lượng thành viên đông đảo luôn trở thành mục tiêu tác động, chi phối, lợi dụng của các thế lực thù địch nhằm biến các tổ chức này thành các tổ chức chính trị đối lập với Đảng, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước Việt Nam. Một bộ phận các tổ chức xã hội, đặc biệt là các hội, liên hiệp hội, tổng hội có tổ chức mang tính hệ thống cả theo chiều dọc lẫn chiều ngang, với số lượng thành viên đông, có ảnh hưởng nhất định đối với quần chúng. Các tổ chức này trở thành mục tiêu lợi dụng của các thế lực thù địch để tìm cách tác động đến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua các hoạt động “vận động hành lang”, hội thảo, kiến nghị, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, như chế độ sở hữu đất đai, an ninh mạng, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc... Do đó, nếu không có những quy định pháp lý đủ mạnh, thiếu hiệu lực quản lý của các cơ quan chức năng để các hoạt động “vượt rào” thì các tổ chức này rất dễ bị lợi dụng, biến thái và biến tướng thành các lực lượng hỗ trợ tích cực cho thúc đẩy “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, thậm chí chuyển hóa thành tổ chức đối lập về chính trị. 
Một số vấn đề đặt ra trong đấu tranh với các quan điểm, âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự”
Một là, cần nhận thức đầy đủ về XHDS và có cách “ứng xử” phù hợp với vấn đề “XHDS”. Phải thẳng thắn bác bỏ và phê phán, đấu tranh kiên quyết với các quan điểm khuyến khích, cổ vũ XHDS với ý đồ thúc đẩy hình thành các tổ chức chính trị đối lập. Hiện nay, nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến XHDS chưa được nghiên cứu thấu đáo, hiệu lực và công cụ quản lý của Nhà nước, ý thức pháp luật của người dân còn có những hạn chế. Do đó, nếu chúng ta buông lỏng, thả nổi cho sự hình thành, phát triển “XHDS” sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy phức tạp, khó kiểm soát, nhất là dưới góc độ quản lý nhà nước, cũng như bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và bảo vệ an ninh quốc gia. 
Hai là, kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách, biện pháp hạn chế đến mức thấp nhất những hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực của XHDS mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam. Cần tổ chức nghiên cứu bài bản, có hệ thống về XHDS, các yếu tố của XHDS, nhất là làm rõ khái niệm, bản chất của XHDS; XHDS và các yếu tố cấu thành, biểu hiện cụ thể của XHDS; các hình thức của XHDS gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể, nhất là chế độ chính trị, truyền thống văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội; cấu trúc của XHDS và quan hệ của XHDS với nhà nước, thị trường, tôn giáo, mạng xã hội, gia đình; vai trò, ưu thế và giới hạn, mặt tiêu cực của XHDS; yếu tố ngoại sinh và nội sinh của XHDS; các hình thức lợi dụng XHDS của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị. Từ những kết quả nghiên cứu này sẽ giúp cho Đảng, Nhà nước chủ động có chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm quản lý các tổ chức xã hội, các NGO, vừa phát huy mặt tích cực, vừa định hướng hoạt động lành mạnh phù hợp với thể chế chính trị, đặc điểm về kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước, triệt tiêu các yếu tố có thể bị lợi dụng để hình thành lực lượng chính trị đối lập, gây bất ổn chính trị - xã hội. Đồng thời, làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân không bị các thế lực thù địch kích động, lôi kéo thông qua danh nghĩa tổ chức XHDS. 
Ba là, trong điều kiện có sự tồn tại khách quan của một số loại tổ chức có tính chất “XHDS”, cần tham mưu cho Đảng, Nhà nước xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức này, hạn chế những tác động tiêu cực của nó và có các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước, phù hợp với cơ chế vận hành của thể chế chính trị, giữ vững bản chất của chế độ. Sự quản lý và định hướng có hiệu quả, bằng pháp luật của Nhà nước sẽ tạo ra một môi trường dân chủ, lành mạnh cho sự phát triển hài hòa của toàn xã hội. Mặt khác, cần củng cố, đổi mới, phát huy tính tích cực và chủ động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để làm tốt chức năng đoàn kết, tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giám sát và phản biện xã hội, bảo vệ quyền lợi của nhân dân trước tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa. 
Đồng thời, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(1), định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, hiệp hội, đoàn thể ở Việt Nam phải gắn liền với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; gắn với đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện nền dân chủ XHCN. 
Bốn là, các lực lượng nòng cốt các cấp căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ cụ thể được giao, vận dụng các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Trong đó, vấn đề cấp bách hiện nay là tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các tổ chức hội và NGO Việt Nam, không để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng tác động, chuyển hóa thành tổ chức XHDS theo tiêu chí phương Tây. 
Đồng thời phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng khác đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, ngăn chặn hoạt động truyền bá tư tưởng, thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của XHDS theo mô hình, tiêu chí của phương Tây, cổ vũ thành lập các tổ chức chính trị đối lập, các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc của tổ chức “XHDS”; phối hợp tuyên truyền, vận động các nhân sĩ, trí thức, học giả đang sinh hoạt tại các hội, liên hiệp hội, tổng hội nâng cao cảnh giác trước luận điệu của các thế lực thù địch về cái gọi là “hình mẫu lý tưởng” của “XHDS” phương Tây, cũng như tích cực tham gia đấu tranh tư tưởng - lý luận. Đồng thời, vạch rõ những điểm không phù hợp (cả về lý luận và thực tiễn) của “XHDS” theo hình mẫu phương Tây đối với xã hội Việt Nam; vạch rõ mưu đồ chính trị của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thông qua việc lợi dụng vấn đề “XHDS” để tác động, chuyển hóa chế độ chính trị tại Việt Nam. Bên cạnh đó, sử dụng các biện pháp, phương tiện ngăn chặn, vô hiệu hóa các con đường, cách thức truyền bá vấn đề “XHDS” theo hình mẫu phương Tây vào Việt Nam, đặc biệt là thông qua các phương tiện truyền thông xã hội, hợp tác, trao đổi về văn hóa, khoa học, giáo dục - đào tạo... Đấu tranh, ngăn chặn, xử lý kịp thời hoạt động của các thế lực thù địch bên ngoài câu kết, hậu thuẫn cho số đối tượng chống đối trong nước thành lập các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc XHDS./.
-----------------------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 149