Thứ Hai, 16 tháng 3, 2020

Nhận diện, đấu tranh với những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trước thềm đại hội Đảng


Cứ trước thềm các kỳ đại hội Đảng là các thế lực thù địch lại tập trung công kích, chống phá bằng nhiều thủ đoạn nham hiểm và quyết liệt. Bản chất, mục đích của chúng không thay đổi, nhưng thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh với những thủ đoạn của chúng trước thềm Đại hội XIII của Đảng là việc làm hết sức quan trọng hiện nay.
Trước hết, chúng phê phán chế độ xã hội chủ nghĩa, cổ súy cho “xã hội dân sự”. Dưới chiêu bài xưa cũ là ca ngợi nền dân chủ phương Tây và dẫn chứng những mặt trái của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta, họ kích động, thúc đẩy sự xuất hiện các tổ chức chính trị đối lập nhằm hướng tới mục tiêu đa nguyên, đa đảng. Về vấn đề này, trước đây các thế lực thù địch không ngừng rêu rao sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu; đồng thời, kêu gọi các phần tử cực đoan tập hợp lực lượng, sẵn sàng cho ra đời một bộ lý thuyết mới, dẫn dụ thành công một số cuộc cách mạng màu làm minh chứng cho một sự thay đổi. Luận điệu “món trứng ốp la không thể không đập vỡ một số quả trứng” có vẻ như đã tác động đến tâm lý một bộ phận mơ hồ, mất cảnh giác và a dua theo chúng. Nhưng họ không ngờ rằng, bản chất của các hoạt động đó đã đi ngược lại truyền thống, trái với nguyện vọng và tình cảm của tuyệt đại đa số nhân dân. Sau thời gian dài chống phá không hiệu quả, đất nước ta vẫn ngày càng phát triển mạnh mẽ, Đảng ta ngày càng giữ vững bản chất, truyền thống cách mạng và vị thế của mình, các thế lực thù địch đã thay đổi nội dung và hình thức chống phá mới. Họ ra sức cổ súy cho một xã hội mới với mô hình “độc lập về chính trị”. Về thủ đoạn, họ đánh vào tâm lý của một số trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng dao động hoặc có sự bất mãn về thời cuộc; lợi dụng và cổ súy cho các tổ chức nhập nhèm, như: “Văn đoàn độc lập”, “Tổ chức phóng viên không biên giới”, “Trung tâm Văn bút Việt Nam”,… được đám “dân chủ” trong và ngoài nước tung hô như một thứ vũ khí lợi hại trong thời kỳ mới. Điều dễ nhận thấy là, những nội dung này vẫn là cách họ chủ quan áp đặt và chẳng có một cơ sở khoa học nào khả dĩ. Đặc biệt là, họ gắn mác cho một số phần tử là “Nhà hoạt động chính trị”, hoặc “Nhà báo độc lập” để tung tin rằng, ở Việt Nam người dân không được tự do tiếp cận thông tin, hoặc tình hình tự do báo chí ở Việt Nam đang xuống dốc tệ hại (!).
Thiết nghĩ, trong thời đại 4.0 hiện nay, chẳng ai còn ngây thơ tới mức tin vào những luận điệu nêu trên. Bởi, hằng ngày, hằng giờ mọi người dân đều có thể đọc, truy cập hàng trăm ấn phẩm báo chí in hoặc điện tử từ Trung ương đến địa phương, cũng như các cấp, các ngành. Cái cớ của “xã hội dân sự” chính là tung hô những phần tử phản động chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dưới chiêu bài bất đồng chính kiến. Việc đánh tráo khái niệm giữa ý kiến phản biện được bảo lưu và các hoạt động chống phá đã được các thế lực thù địch khoét sâu lợi dụng. Họ ra sức kích động giới trí thức vào cuộc để vu cáo Đảng và Nhà nước ta đàn áp những người bất đồng chính kiến, kêu gọi phong trào đấu tranh thả “tù nhân lương tâm”. Khi thời cơ chín muồi, các thế lực thù địch sẽ hình thành tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam. Họ đã sử dụng bộ lý thuyết “xã hội dân sự” để chỉ trích, vu khống Đảng, Nhà nước ta, biến phản biện xã hội trở thành một quá trình không kiểm soát được, âm mưu trở thành một hoạt động dưới dạng câu lạc bộ vô chính phủ. Nếu chúng ta không tỉnh táo phát hiện và đấu tranh trực diện với luận điệu này, các tổ chức tiền thân của “xã hội dân sự” sẽ nhanh chóng tiến hành những hoạt động “diễn biến hòa bình” theo kiểu xét lại lịch sử, chỉ trích lịch sử cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Như thế, tư tưởng chính trị của đảng viên và nhân dân trở nên dao động, lòng tin vào sự nghiệp cách mạng sẽ sụt giảm nghiêm trọng. Do đó, chúng ta phải hết sức cảnh giác, chủ động đấu tranh nhận rõ bản chất của tư tưởng phản động này, nhằm vô hiệu hóa quá trình can thiệp thô bạo từ bên ngoài với những luận điệu sai trái, nguy hiểm, khó dự báo.
Hai là, lợi dụng công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta hiện nay để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Ở tất cả các quốc gia với bất kỳ thể chế chính trị nào, nếu không dẹp bỏ được nạn tham nhũng thì đều dẫn tới suy vong. Bài học từ lịch sử cho thấy, phòng, chống tham nhũng là quyết sách chiến lược mang ý nghĩa tồn vong của chế độ ta. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Kỷ luật một vài người để cứu muôn người”. Và thực tế, từ sự cương quyết của Đảng ta trong việc xử lý các đại án tham nhũng, nhiều vị lãnh đạo, trong đó có không ít vị lãnh đạo cao cấp đã vướng vòng lao lý. Lòng tin của nhân dân với Đảng ngày một tăng cao; uy tín của chế độ chính trị được củng cố. Tuy nhiên, các thế lực thù địch cũng căn cứ vào đây để tăng cường xuyên tạc, chống phá. Chúng cho rằng, nếu một xã hội độc đảng cầm quyền thì sẽ thủ tiêu đấu tranh; Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch”, với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị, v.v. Theo họ, “muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi lại thiết chế và xã hội để làm sao cho dân chủ hơn”!
Tựu trung lại vẫn là những luận điệu “bình mới rượu cũ” với thủ đoạn thâm độc hơn. Các thế lực thù địch đang xoáy sâu vào các đại án tham nhũng để qua đó nói xấu, bôi nhọ danh dự của cán bộ, đảng viên, cũng như kích động dư luận lung lạc niềm tin vào sự phát triển của đất nước. Trước thềm đại hội Đảng, chúng tung tin đồn thổi nhiều đồng chí lãnh đạo các cấp với những nghi án tham nhũng, sân sau, v.v. Chúng ví von hành động bỉ ổi này như một mũi tên trúng hai con nhạn: (1). Làm suy giảm uy tín cá nhân lãnh đạo, gây mất đoàn kết nội bộ; (2). Làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang dư luận, để cho người dân nhìn vào đâu cũng thấy tham nhũng. Từ những “đại án” tham nhũng, các thế lực thù địch chớp ngay cơ hội, tăng cường thông tin trên mạng xã hội, ra sức công kích hòng làm giảm sút uy tín của Đảng, lung lạc niềm tin của nhân dân đối với chế độ và hệ thống chính trị.
Chúng ta cần nhận thấy, muốn chống tham nhũng triệt để cần phải có nền pháp trị nghiêm minh, không một ai ở ngoài và ở trên luật cả. Thực tế trong thời gian gần đây, công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta đã đạt kết quả toàn diện; nhiều bị can, trong đó có nhiều trường hợp là cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý tiếp tục được điều tra, khởi tố. Qua đó, đã khẳng định quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” trong chống tham nhũng. Tinh thần chỉ đạo quyết liệt của người đứng đầu hệ thống chính trị đã cho thấy quyết tâm của toàn Đảng ta đang ra sức chỉnh đốn, làm trong sạch nội bộ. Tuy nhiên, các thế lực thù địch thì luôn rình rập để thổi bùng lên làn sóng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, không loại trừ trong thời gian diễn ra Đại hội XIII của Đảng, họ tung tin thất thiệt về hậu xử lý các vụ đại án, hoặc tiếp tục chiêu bài phủ nhận kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta, gây ra các luồng tư tưởng khác biệt không ngoài mục đích hạ thấp vai trò, tiến tới mục tiêu đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đây thực chất là nội dung chống phá xuyên suốt của chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trước vận mệnh quốc gia - dân tộc, sự tồn vong của chế độ và đặc biệt là bảo vệ an toàn, thành công của Đại hội XIII của Đảng, chúng ta phải tuyệt đối đề cao cảnh giác, đấu tranh không khoan nhượng với các phần tử cơ hội, quyết tâm giữ vững an ninh chính trị, an toàn cho Đại hội và bảo vệ danh dự cho Đảng ta.
Ba là, xuyên tạc, bôi nhọ danh dự, uy tín cán bộ, nhất là cán bộ có khả năng là ứng viên cho cấp ủy khóa mới của các cấp. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Đại hội Đảng là dịp để lựa chọn, sàng lọc củng cố đội ngũ cán bộ. Không sợ thiếu cán bộ, bởi không thiếu cán bộ tâm huyết với Đảng, trách nhiệm với nhân dân, với đất nước. Không sợ mất uy tín, chỉ khi không làm, không xử lý cán bộ vi phạm mới tự đánh mất uy tín của mình”. Theo đó, các cấp ủy, tổ chức Đảng đã thực hiện nghiêm quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ; việc quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm,… đã căn cứ sát tiêu chuẩn, điều kiện (cơ cấu, số lượng, độ tuổi, tín nhiệm,…) theo đúng quy định hiện hành. Tuy nhiên, một số trang mạng nước ngoài đang tung tin thất thiệt về nhiều vấn đề của công tác cán bộ, đặc biệt cái gọi là dự đoán nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Chúng khẳng định, trong tay nhiều tổ chức nghiên cứu A, B, C… có danh sách đề cử nhân sự chủ chốt của Đại hội. Vấn đề bầu bán chỉ là hình thức! Và rằng, những người có tên trong bản danh sách này sẽ định hướng toàn bộ tương lai của thể chế chính trị Việt Nam. Chiêu bài nham hiểm của các thế lực thù địch là tung ra dư luận mâu thuẫn phe phái trong Đảng ta một cách trắng trợn hòng hạ thấp ý nghĩa của Đại hội. Do vậy, trước thềm Đại hội, chúng ta cần nhận thức rõ âm mưu này, kiên quyết đấu tranh, chủ động phát hiện sớm và kịp thời xử lý các tình huống nảy sinh, bảo đảm cho sự thành công Đại hội.
Bốn là, lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để tung tin thất thiệt làm giảm sút ý chí, niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Đây là chiêu bài không mới, nhưng đứng trước những diễn biến mới phát sinh thực tế trên thềm lục địa của nước ta hiện nay, thủ đoạn này trở nên nham hiểm hơn lúc nào hết. Các trang mạng có máy chủ đặt ở nước ngoài đồng loạt cập nhật diễn tiến tình hình Biển Đông, mà cơ bản là xoáy sâu vào tàu nước ngoài hoạt động trái phép trong thềm lục địa của nước ta với những hình ảnh, bài viết thật giả lẫn lộn. Trước hết phải khẳng định rằng, sự việc trên là có thật, song các thế lực thù địch đánh vào tâm lý nhẹ dạ cả tin của một bộ phận cộng đồng mạng, thổi bùng lên nguy cơ bị xâm lược và chỉ trích vai trò lãnh đạo của Đảng, quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Nhà nước, Quân đội. Trắng trợn hơn, họ còn dựng chuyện phân tích các hệ phái trong Đảng ta, đưa ra các quan điểm giữ gìn chủ quyền biển, đảo hay là lựa chọn thể chế chính trị. Từ đó, chúng hà hơi tiếp sức cho một số đối tượng phản động trong nước, kích động xuống đường biểu tình, chống đối chính quyền các cấp. Trước thềm Đại hội Đảng, họ đưa ra tư tưởng “đổi mới hay là mất nước”. Và không loại trừ các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sẽ điên cuồng chống phá, tạo ra những “thư ngỏ, góp ý”,… để gây xáo trộn dư luận quần chúng, đưa vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Thực chất ẩn ý đằng sau những việc làm này nhằm lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin sẽ mắc mưu bằng nghệ thuật sử dụng ngôn từ chau chuốt, nhưng không ngoài mục đích xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong xử lý các mối quan hệ quốc tế và khu vực hiện nay là phải luôn tỉnh táo, bình tĩnh, khôn khéo, không bị kích động, xúi giục gây xung đột vũ trang, chiến tranh. Chúng ta chủ trương giải quyết mọi vấn đề bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực. Đáng tiếc là, một số ít người do thiếu thông tin chính thống nên đã tin vào những thông tin thất thiệt, xấu độc, gây tâm lý hoài nghi, dao động. Nói cách khác đó là, lòng yêu nước, yêu biển, đảo của một số ít người đã bị lợi dụng cho mưu đồ chính trị xấu xa của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, sự thật vẫn luôn là sự thật, kẻ xấu chỉ lợi dụng nói ra một nửa sự thật để lừa phỉnh dư luận, công kích chống phá ta trước thềm Đại hội XIII của Đảng, nhằm gây rối loạn, chia rẽ, suy giảm uy tín của Đảng. Chúng ta cần nhận thức rõ âm mưu thâm độc này, chủ động tuyên truyền tới mọi cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân, kiên quyết đấu tranh bảo vệ an toàn và thành công Đại hội, bảo vệ Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa./.
Nguồn: https://hcma.vn

Nguyễn - kẻ phản quốc xảo trá


Gần đây, trên trang mạng xuất hiện bài viết của Jackhammer Nguyễn với tựa đề “Virus Corona và biến dị cộng sản”, đã đưa ra những lời bịa đặt xuyên tạc trắng trợn về con đường và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Bài viết đã cho thấy nhận thức lệch lạc của y với chủ đích làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Theo Jackhammer Nguyễn, hệ thống cộng sản là một “hệ thống hủy diệt”, trong khi một sự thật lịch sử không thể phủ nhận là chủ nghĩa cộng sản mới chính là tương lai của nhân loại. Từ hơn 160 năm về trước, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa luôn vấp phải sự chống đối quyết liệt của giai cấp tư sản. Điều này không đáng ngạc nhiên bởi lý tưởng về một xã hội không còn chế độ người bóc lột người sẽ động chạm đến những quyền lợi căn bản nhất của giai cấp bóc lột. Lo sợ về sự tồn tại và những ảnh hưởng tích cực của chủ nghĩa xã hội, chúng ra sức bôi nhọ, phủ nhận các thành tựu và đóng góp lớn lao của hệ thống chủ nghĩa xã hội đối với nhân loại trong thế kỷ XX.
Tuy nhiên, sự thật lịch sử là trên con đường đấu tranh gian khổ được soi sáng bởi lý tưởng cộng sản, những người cộng sản của đất nước Xô Viết và một số dân tộc khác đã tập hợp được các tầng lớp nhân dân xung quanh mình, đứng lên đánh bại chủ nghĩa phát xít, cứu nhân loại khỏi thảm họa diệt chủng. Không những vậy, công cuộc đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam và Trung Quốc đã và đang đạt được nhiều thành tựu ấn tượng. Ở nhiều quốc gia Mỹ Latinh, lực lượng cánh tả đang được dân chúng ủng hộ. Một số giá trị xã hội chủ nghĩa đang phục hồi ở Nga và trong các nước tư bản. Chính A.Dinôviép, một người Nga không đứng về phe cộng sản đang sống lưu vong đã khẳng định: “Những thành tựu của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới trong suốt thế kỷ XX đã thấm vào máu thịt của loài người”. Con người luôn mơ ước đến một xã hội tốt đẹp. Nhưng nếu chỉ là ước mơ dựa trên tình cảm thì không thể nào thực hiện được. Sự phát triển hàng trăm năm của chủ nghĩa tư bản không thể giải quyết được sự bất công, bất bình đẳng giữa các dân tộc và giai cấp trong xã hội. Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác ra đời, vạch ra quy luật khách quan của sự phát triển xã hội đi tới chủ nghĩa cộng sản – một chế độ xã hội xây dựng trên cơ sở giải phóng triệt để xã hội và con người. Mặc dù chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức nhưng chúng ta hoàn toàn tin tưởng chủ nghĩa xã hội mới là chìa khóa duy nhất đúng cho khát vọng cháy bỏng của nhân loại về một xã hội bình đẳng, bác ái. Đó mới là tương lai của nhân loại, là sự vận động đúng với quy luật tiến hóa của lịch sử.
Jackhammer Nguyễn còn trắng trợn tuyên bố rằng “chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam là biến dị”. Thực chất, mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có những đặc trưng phù hợp với bối cảnh và điều kiện của đất nước. Thực tiễn đã chứng minh đây là mô hình đúng đắn duy nhất tại Việt Nam vào thời điểm này. Đi lên chủ nghĩa xã hội, cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản, là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân Việt Nam lựa chọn là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Hiện nay, có nhiều quan điểm cho rằng “quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa là sai lầm, trái quy luật”. Sự thật con đường mà Việt Nam đã lựa chọn do tính tất yếu về chính trị và kinh tế quy định. Bản chất của con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn là một cuộc cách mạng nhằm tạo ra một sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để “khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh”. Thực tế đã chỉ rõ, không có mô hình chính trị xã hội nào là toàn vẹn. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta tuy có những sai lầm, vấp váp trong nhận thức lý luận và tổ chức thực tiễn. Song, Đảng ta với bản lĩnh vững vàng của một đảng mácxít chân chính, đã dám nhìn thẳng vào sự thật, kiên quyết sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm; biến những sai lầm, vấp váp đó thành bài học để nước ta thêm vững bước trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trước những sự thật hiển nhiên như vậy, cớ sao Jackhammer Nguyễn , kẻ tự nhận mình “quan tâm đến vận mệnh quốc gia” lại có những phát ngôn vô căn cứ, xuyên tạc sự thật như vậy? Tất cả điều đó khẳng định, y là một kẻ phản quốc thiếu cả lý trí lẫn tình cảm, kẻ không ngại ngần đưa ra những phát ngôn trơ trẽn để đạt được mưu đồ chính trị cá nhân, sẵn sàng bán nước cầu vinh.
Tóm lại Jackhammer Nguyễn đã cố tình xuyên tạc sự thật nhằm phủ nhận công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng ta phải hết sức cảnh giác với luận điệu này đồng thời kiên quyết đấu tranh vạch trần và bác bỏ./.

Ngăn chặn chiêu trò lợi dụng góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội đảng để chống phá


Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang trong quá trình chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Đây cũng là thời điểm mà các thế lực thù địch, phản động cùng những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị gia tăng các hoạt động tuyên truyền kích động, xuyên tạc, chống phá một cách quyết liệt. Đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng chủ trương lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng để chống phá.
Nhận diện âm mưu, thủ đoạn
Trong lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội XIII của Đảng, một trong những nội dung quan trọng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh đó là, phải chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin không chính thức, thông tin giả, xấu độc, bịa đặt, xuyên tạc trên internet, mạng xã hội… Đặc biệt trong việc tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần yêu cầu cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác của nhân dân trong cuộc đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái nhằm phá hoại đại hội đảng của các thế lực thù địch...
Sở dĩ người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta nhấn mạnh vấn đề này bởi trên thực tế có một số phần tử cơ hội chính trị, được các thế lực thù địch, phản động hà hơi, tiếp sức, lợi dụng công việc hệ trọng này để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng cho rằng thời điểm diễn ra đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là thời cơ cần lợi dụng tối đa để chống phá. Thông qua mạng xã hội, các trang web của bọn phản động lưu vong, một số báo mạng xưa nay vốn thiếu thiện chí với Việt Nam ở hải ngoại, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc, tác động nhằm "nắn dòng dư luận" tiến tới mục tiêu làm chệch hướng đường lối, chủ trương của Đảng ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.
Những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc, phản động ấy không chỉ là “lời nói gió bay” mà còn được họ soạn thảo thành những tài liệu mạo danh, nặc danh dài hàng trăm trang chứa đựng thông tin xấu độc... rồi tán phát trên một số trang mạng. Bằng những thủ đoạn rất tinh vi, các thế lực thù địch, phản động còn móc nối, lôi kéo và dùng chính những phần tử thoái hóa, biến chất ngay trong nội bộ ta lợi dụng việc đóng góp vào dự thảo các văn kiện đại hội đảng để xuyên tạc sự thật, công kích, chống phá ta, dưới nhiều hình thức như: “Thư ngỏ”, “thư trao đổi”; “thư góp ý”… Nội dung mà chúng tập trung là xuyên tạc tình hình đất nước; làm lu mờ những thành quả cách mạng, thổi phồng những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh... của đất nước, rồi quy kết đổ lỗi nguyên nhân của những hạn chế ấy là do thể chế chính trị, sự yếu kém trong thực hiện vai trò lãnh đạo, từ đó làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng ta; xuyên tạc, bịa đặt những thông tin liên quan đến công tác nhân sự đại hội;... Chúng cho rằng đại hội lần này là thời cơ để Việt Nam đổi mới thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng lập luận rằng nếu Việt Nam vẫn chỉ có độc nhất một đảng lãnh đạo thì không thể nói tới một nền dân chủ chân chính... Nhìn vào những bản góp ý được chuẩn bị công phu, lập luận không kém phần logic với những câu từ được trau chuốt bóng bẩy ấy, nếu ai đó non kém về nhận thức chính trị, sẽ rất dễ lầm tưởng và cho đấy là sự góp ý trách nhiệm, tâm huyết. Nhưng thực chất đó là những luận điệu hết sức sai trái và cực kỳ nguy hiểm.
Mục tiêu của những giọng điệu ấy vẫn không gì khác là hòng đánh lừa dư luận, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính trị của chúng, sâu xa hơn là phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ XHCN mà nhân dân ta đang dày công xây dựng. Cách thức thể hiện những nội dung ấy cũng không có gì mới, có chăng chỉ là sự thay đổi cách diễn đạt bằng những “xảo ngữ”, ngôn từ hoa mỹ, bóng bẩy nhằm tăng thêm độ tinh vi, thâm hiểm trong mưu đồ chống phá để dễ bề đánh lừa dư luận... Nhưng mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc ấy đã và đang bị vô hiệu hóa, bởi cùng với phát huy dân chủ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không mơ hồ, ảo tưởng trước mọi chiêu trò chống phá.
Góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội đảng - công việc hệ trọng
Cần khẳng định rằng mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ, tâm huyết, sự sáng tạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, các tầng lớp nhân dân góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện của Đảng, là chủ trương đúng đắn và là việc làm cụ thể khẳng định bản chất của chế độ ta. Phát huy dân chủ, huy động sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân cũng là bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến"; "thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn". Phát huy dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với tinh thần ấy, Đảng ta xác định tổ chức lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp, đặc biệt là Đại hội XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là công việc rất hệ trọng, mang tính quyết định đến tương lai phát triển của đất nước.
Bởi vậy, trong Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, yêu cầu rõ: “Công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng phải thực hiện phương châm kế thừa, ổn định, đổi mới, sáng tạo và phát triển; phát huy dân chủ đi đối với giữ vững nguyên tắc, siết chặt kỷ luật, kỷ cương...”. Tại các kỳ họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương và nhiều cuộc làm việc với lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng luôn nhấn mạnh: "Việc lấy ý kiến đóng góp tại đại hội đảng bộ các cấp và của các tầng lớp nhân dân là hết sức quan trọng, thể hiện ý Đảng, lòng dân, có giá trị thực tiễn phong phú, sinh động để Trung ương nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo các văn kiện...". Vì vậy, việc lấy ý kiến của các cấp ủy, tổ chức đảng và nhân dân phải vừa sâu, vừa rộng; các ý kiến phải đóng góp thiết thực, nâng cao chất lượng các dự thảo văn kiện, thể hiện rõ sự tâm huyết, trách nhiệm với Đảng, với đất nước. Tổ chức tốt việc xin ý kiến nhân dân vào các dự thảo văn kiện của Đảng cũng là biện pháp thiết thực nhằm ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng công việc ý nghĩa này để chống phá.
Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh
Thực tế đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng cần phải quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nghiên cứu; thể hiện quan điểm, thái độ, chính kiến của mình đối với từng nội dung trong dự thảo các văn kiện. Mặt khác, tổ chức đảng, từng cơ quan, đơn vị, địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền cung cấp cho người dân đầy đủ thông tin cần thiết, định hướng để người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này. Cần coi việc giúp cán bộ, đảng viên và người dân hiểu đúng, nhận thức đầy đủ về dự thảo các văn kiện là phương cách tốt nhất để nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động phát hiện, đấu tranh kịp thời với mọi tư tưởng, quan điểm sai trái.
Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân, khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu tán phát trên mạng cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu là thông tin xuyên tạc, bịa đặt; tránh bị cuốn theo những giọng điệu mỹ miều, xảo trá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội mà dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng và chế độ.
Cùng với tổ chức chặt chẽ việc đóng góp ý kiến, cần tổ chức tốt việc tổng hợp, tiếp thu ý kiến của đại hội đảng bộ các cấp để hoàn thiện, nâng cao chất lượng các dự thảo văn kiện, trình Trung ương xem xét thông qua, sau đó xin ý kiến nhân dân trước khi trình Đại hội XIII của Đảng. Trong tổng hợp và ghi nhận những ý kiến đóng góp của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, các cơ quan chức năng cần có sự nhìn nhận, đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, tuyệt đối không để kẻ xấu lợi dụng công việc ý nghĩa này để thực hiện những mục đích cá nhân, kích động chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; chống phá Đảng, nhà nước và nhân dân ta.
Bằng các biện pháp nghiệp vụ, nhất là những biện pháp kỹ thuật công nghệ, các lực lượng chức năng cần chủ động phát hiện những nội dung xấu độc trên mạng xã hội, những trang mạng tán phát thông tin, tài liệu xấu độc, mạo danh, nặc danh, lợi dụng việc góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội đảng để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, từ đó tổ chức đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những tổ chức, cá nhân liên quan theo pháp luật.
                                                                                                                 Nguồn: www.qdnd.vn

Nhận diện, phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội


Thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội là âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trong tình hình hiện nay. Vì thế, nhận diện đúng và đấu tranh phòng ngừa có hiệu quả là trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng và mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng trong toàn quân.
Nhận rõ vai trò quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các thế lực thù địch đã và đang ráo riết chống phá hòng làm cho Quân đội ta rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chệch phương hướng và mục tiêu lý tưởng chiến đấu, phai nhạt bản chất giai cấp, trượt sang chính trị tư sản. Thực chất đó là phá bỏ và chuyển hóa cái “gốc” chính trị của Quân đội ta. Họ triệt để lợi dụng phương tiện truyền thông hiện đại, mạng xã hội, thực hiện nhiều hình thức, thủ đoạn chống phá cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Nội dung tập trung vào những vấn đề chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; những vấn đề lịch sử, truyền thống, đạo đức, lối sống, các mối quan hệ của Quân đội với Đảng, Tổ quốc, dân tộc, với Nhà nước, Nhân dân, quan hệ quốc tế, quan hệ nội bộ, v.v. Ở mỗi giai đoạn khác nhau, chúng dùng thủ đoạn khác nhau với những biểu hiện cụ thể riêng. Hiện nay, có thể khái quát trên một số vấn đề sau:
1. Xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, bản chất, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội. Đây là một hướng mà các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc, chống phá thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Quân đội ta, cho rằng Quân đội “không còn là quân đội cách mạng nữa”, “không còn tốt đẹp như trước”. Họ đưa ra luận điệu: Quân đội “không cần dựa vào hệ tư tưởng nào”, “không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng chính trị nào”; “Quân đội chỉ phục vụ Tổ quốc, dân tộc và nhân dân”, “chỉ có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ đất nước, không có nhiệm vụ xây dựng kinh tế”, v.v. Họ hy vọng, những vấn đề cơ bản đó khi đã bị xuyên tạc, bóp méo, bị công kích mạnh mẽ, làm cho lung lay, thì sẽ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ Quân đội, thậm chí sẽ làm cho Quân đội ta rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
2. Lợi dụng sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” nội bộ Quân đội. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã nhận diện, chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thậm chí chỉ về lối sống (tách riêng ra mà nói) cũng có thể dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, biến chất về chính trị. Điều đó, không phải là khoảng cách quá xa và không phải là không thể không xảy ra. Sự suy thoái dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là “một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”. Những biểu hiện suy thoái, những hạn chế, khuyết điểm, vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước của một số cán bộ, chiến sĩ Quân đội, đặc biệt là sĩ quan cao cấp được họ triệt để lợi dụng xuyên tạc, kích động. Thậm chí, họ còn “ca ngợi”, cổ súy những biểu hiện trái với quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội của một số phần tử suy thoái để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Họ cố tình thúc đẩy, làm cho “bước rất ngắn” từ sự suy thoái tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bị vượt qua.
3. Bóp méo, xuyên tạc các mối quan hệ của Quân đội, đặc biệt là mối quan hệ với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Họ ra sức xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng, với dân tộc và Nhân dân, nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; cố tình cắt xén nội hàm phẩm chất trung thành của Quân đội ta, đối lập sự trung thành với Đảng, với Nhân dân và dân tộc. Họ bịa đặt, xuyên tạc sự thật, thóa mạ, bôi nhọ lãnh đạo Quân đội; xuyên tạc mối quan hệ trong nội bộ, rằng quan hệ cấp trên - cấp dưới, cán bộ - chiến sĩ đã “không còn như trước nữa, vì mức sống đã quá chênh lệch”, rằng cán bộ, sĩ quan “chỉ biết lo cho bản thân”. Họ triệt để lợi dụng khuyết điểm, hạn chế, những hiện tượng tiêu cực ở một số ít cán bộ, chiến sĩ để xuyên tạc mối quan hệ máu thịt quân - dân; rêu rao “Quân đội không còn gần gũi, gắn bó với nhân dân nữa”; đã “không thực hiện đúng” nhiệm vụ bảo vệ nhân dân, “chỉ lo bảo vệ Đảng, Nhà nước”. Dùng ngón đòn này, các thế lực thù địch cố tình làm biến dạng, méo mó bản chất các mối quan hệ của Quân đội, hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội ta.
Những biểu hiện trên chưa phải là tất cả, nhưng đó là những âm mưu, thủ đoạn cơ bản của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ; chống phá toàn diện Quân đội ta, đặc biệt là về chính trị, hòng làm cho Quân đội suy yếu, biến chất. Thủ đoạn đó, tạo ra “nguy hiểm khôn lường”, gây cho chúng ta khó khăn, phức tạp trong nhận biết và đấu tranh phòng, chống. Đây là khó khăn mang tính tổng hợp, chúng ta khó “nhận mặt chỉ tên” cụ thể, đâu là “diễn biến hòa bình”, đâu là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đâu là hạn chế, khuyết điểm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Sự khó khăn này dễ dẫn đến lúng túng trong xác định quan điểm, nội dung, biện pháp đấu tranh, sao cho đúng và trúng, cũng như trong thực tiễn tổ chức đấu tranh ngăn ngừa, làm phá sản sự thúc đẩy đó, khắc phục có hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội.
Hiện nay, đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội phải gắn chặt với đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Đó là phương pháp luận cơ bản, là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu chủ yếu trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Quân đội ta trước sự chống phá của các thế lực thù địch. Theo đó, các cơ quan, đơn vị Quân đội cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một là, tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận rõ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội của các thế lực thù địch. Đặc biệt, cần thấy rõ tính nguy hiểm, tác hại của nó đối với Quân đội ta và yêu cầu, biện pháp phòng, chống. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ Quân đội. Qua đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ; luôn kiên định vững vàng nền tảng tư tưởng của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; không dao động trước mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sự tác động của tình hình và những quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xuyên tạc, xấu độc, nhất là trên mạng xã hội.
Hai là, ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Các cơ quan, đơn vị cần phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, quần chúng trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng; thực hiện tốt tự phê bình và phê bình; đề cao tính nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, chính ủy, chính trị viên. Kiên quyết ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tình trạng quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong đơn vị. Đồng thời, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững kỷ cương, giữ nghiêm kỷ luật; xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, để tăng “sức đề kháng”, nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi quân nhân và từng cơ quan, đơn vị. Từng cán bộ, chiến sĩ phải biết tự bảo vệ mình, nâng cao trình độ, năng lực, tình cảm và lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh và lý do nào đó mà “vô tình” hay “cố ý” rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, biến chất, từ bỏ, chống đối con đường cách mạng của Đảng, của dân tộc.
Ba là, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Trọng tâm là nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Đảng bộ Quân đội, “Đảng bộ Quân đội phải tiên phong, gương mẫu thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và các chủ trương, quy định của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng”1. Đặc biệt là nêu cao tính tiền phong gương mẫu của đảng viên, cán bộ, sĩ quan Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ, giải quyết các mối quan hệ và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống. Hiệu quả phòng, chống âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phụ thuộc vào sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng và sự mẫu mực của cán bộ, đảng viên, sĩ quan Quân đội. Nếu cán bộ, đảng viên, sĩ quan, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, sĩ quan cao cấp không gương mẫu rèn luyện, tu dưỡng, thì việc phòng, chống âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không thể có sự tiến triển, mà chỉ như kiểu “đánh vào bị bông” mà thôi.
Chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị, góp phần giữ vững bản chất cách mạng, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
                                                                                            Nguồn: http://tapchiqptd.vn
___________
1 - Xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương tại Hội nghị Tổng kết công tác quân sự, quốc phòng năm 2018, triển khai nhiệm vụ năm 2019, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, ngày 11-01-2019.


Bước tiến về tự do tín ngưỡng, tôn giáo dưới sự lãnh đạo của Đảng


Các thế lực thù địch luôn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm một trong những mũi tiến công để chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Họ cho rằng, Đảng, Nhà nước ta không quan tâm đến đời sống tinh thần của nhân dân. Vì thế, làm rõ bước tiến về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng để bác bỏ sự xuyên tạc của kẻ xấu là việc cần thiết.
I. Bước tiến trong tư duy, nhận thức của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn có chính sách về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp để tập hợp, phát huy vai trò của đồng bào có đạo trong xây dựng và phát triển đất nước. Điểm nổi bật của hệ thống chính sách đó là: tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời, nhận thức về vai trò của tôn giáo cũng có sự phát triển, từ nhìn nhận giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo đến việc giữ gìn, phát huy giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo và coi tôn giáo là nguồn lực trong quá trình phát triển đất nước. Quan điểm coi tôn giáo là nguồn lực phát triển đất nước vừa mới, vừa là bước đột phá tiếp theo của Việt Nam trên con đường đổi mới nhận thức về vai trò của tôn giáo trong hội nhập quốc tế. Thật vậy, đến tháng 9-2019, các tôn giáo ở nước ta có khoảng 500 cơ sở y tế, phòng khám chữa bệnh từ thiện; 300 trường mầm non, 2.000 lớp học tình thương; 12 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn giáo, bao gồm: 02 trường trung cấp nghề và 10 trung tâm dạy nghề, tuyển sinh, đào tạo hệ trung cấp và dạy nghề ngắn hạn; gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội của các tổ chức Phật giáo, Công giáo, Cao Đài... đang nuôi dưỡng trên 12.000 trẻ em mồ côi, trẻ tàn tật, người già cô đơn, bệnh nhân tâm thần, HIV/AIDS, tiếp nhận nhiều nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn góp phần chia sẻ với Nhà nước trong việc chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội.
Quan điểm trên được thể hiện rõ nét từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước (năm 1986) đến nay. Điều đó được thể hiện ở việc Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ ban hành các nghị quyết, chỉ thị, pháp lệnh, luật, nghị định đồng bộ để việc thực hành tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng được thuận lợi hơn. Nghị quyết 24/NQ-TW, ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị (khóa VI) về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”; Nghị quyết 25-NQ/2003/TW, ngày 12-3-2003 của Hội nghị lần thứ Bảy, Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về công tác tôn giáo; Chỉ thị 18-CT/TW, ngày 10-01-2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 25 về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Chính phủ ban hành Nghị định 69/HĐBT, ngày 21-3-1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định về các hoạt động tôn giáo, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động tôn giáo và quản lý các hoạt động tôn giáo trong giai đoạn đầu những năm đổi mới; Nghị định 26/1999/NĐ-CP về các hoạt động tôn giáo thay thế Nghị định 69. Ngày 18-6-2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Nghị định 22/NĐ-CP, ngày 01-3-2005 về hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, sau đó được thay thế bằng Nghị định 92/2012/NQ-CP, ngày 08-11-2012 của Chính phủ quy định chi tiết và một số biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Ngày 18-11-2016, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, ngày 30-12-2017, Chính phủ ban hành Nghị định 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Đặc biệt, việc Nhà nước ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã khẳng định: Việt Nam tích cực hội nhập quốc tế, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể hóa chủ trương nhất quán về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Luật này không chỉ quy định chung như Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”, mà còn quy định chi tiết, rõ hơn tại Điều 6: Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Đối với người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Đối với người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định này đã thể hiện rõ hơn tính nhân văn trong chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho những người bị hạn chế quyền công dân. Không những thế, Luật này còn quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp ở Việt Nam, tại Điều 8. Điều đó cho thấy, ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là quyền công dân mà còn là quyền của mọi người, không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi.
Như vậy, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc đảm bảo quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; là minh chứng để chống mọi luận điệu của các thế lực xấu xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
II. Bước tiến tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện trong thực tiễn
Bước tiến về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta không chỉ thể hiện trong tư duy, nhận thức mà còn thể hiện trong thực tiễn sinh động, phong phú của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, trên các nội dung cơ bản sau:
Một là, sự hình thành và phát triển các tổ chức và tín đồ tôn giáo là minh chứng Việt Nam đảm bảo tốt quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các tôn giáo. Trước khi Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo được ban hành (năm 2003), cả nước có 15 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận thuộc 06 tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa Hảo và Hồi giáo. Đến tháng 9-2019, đã có 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Trong 02 năm (2018 và 2019) thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có thêm 03 tổ chức tôn giáo được cấp phép hoạt động, là Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam, Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam và Hội thánh Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam.
Cùng với việc phát triển về tổ chức, số lượng tín đồ cũng không ngừng gia tăng. Trước năm 2003, cả nước có khoảng 17,4 triệu tín đồ/hơn 80 triệu dân, chiếm 21,8% dân số; đến tháng 9-2019, đã có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, cùng 55 ngàn chức sắc, 145 ngàn chức việc, 29 ngàn cơ sở thờ tự đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Hiện nay, cả nước có khoảng 95% dân số có niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo và hằng năm có gần 08 ngàn lễ hội.
Hai là, việc đa dạng các hoạt động tôn giáo là minh chứng cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã và đang được bảo đảm. Quy mô và hoạt động tôn giáo ngày càng tăng và diễn ra sôi động, đời sống tâm linh của người dân luôn được chính quyền quan tâm. Bên cạnh các sinh hoạt thường nhật, các ngày lễ trọng đại, lễ hội truyền thống của tôn giáo được tổ chức trang nghiêm thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia, như: Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành, Đại lễ Vía Đức Chí Tôn, Lễ Thượng ngươn của đạo Cao Đài, v.v. Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo in ấn, phát hành kinh sách bằng nhiều ngôn ngữ và đồ dùng việc đạo. Phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.
Cùng với đó, các tổ chức tôn giáo thường xuyên duy trì tốt các hoạt động: đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, phong chức, phong phẩm và bổ nhiệm chức sắc, chức việc nhà tu hành tôn giáo. Từ năm 2015 đến 2017, Việt Nam đã thành lập mới 05 cơ sở đào tạo tôn giáo: Học viện Công giáo, Đại Chủng viện Đức Mẹ Vô nhiễm Bùi Chu, Học viện Truyền giáo Cao Đài, Trung cấp Phật giáo Hòa Hảo, Trường Thánh kinh Thần học Cơ đốc. Nhiều cơ sở tôn giáo được chính quyền quan tâm cấp phép xây dựng, sửa chữa, nâng cấp, cải tạo khang trang, đáp ứng nhu cầu chính đáng về cơ sở thờ tự của tín đồ và tổ chức tôn giáo, góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước và giáo hội.
Ba là, hoạt động đối ngoại tôn giáo giúp các tổ chức quốc tế hiểu rõ hơn về một Việt Nam luôn đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là một trong những hoạt động quan trọng và thường xuyên của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam. Hoạt động này diễn ra ở nhiều lĩnh vực, từ đào tạo, hội nghị, hội thảo đến việc chia sẻ kinh nghiệm cũng như vấn đề truyền giáo, v.v. Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu vào đời sống thế giới, hoạt động quốc tế của các tôn giáo Việt Nam cũng diễn ra đa dạng, phong phú, số lượng đoàn trong nước và nước ngoài đi, đến nghiên cứu tìm hiểu về tình hình tôn giáo ngày càng tăng. Từ năm 2012 đến tháng 9-2019, có khoảng 370 đoàn (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài...) với hơn 1.000 lượt cá nhân, tổ chức nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo; khoảng hơn 1.200 lượt chức sắc tín đồ, nhà tu hành của các tôn giáo Việt Nam ra nước ngoài. Các tổ chức, cá nhân tôn giáo Việt Nam xuất cảnh tham dự hội nghị, hội thảo, diễn đàn, đào tạo nâng cao đã trở thành việc bình thường (hiện có khoảng 250 tăng ni và 250 linh mục đang du học tại các nước châu Á, Hoa Kỳ, Pháp, Italia…). Các tôn giáo ở Việt Nam cũng đã phát huy vai trò và vị thế của mình trên thế giới qua việc đăng cai tổ chức các sự kiện tôn giáo quốc tế: Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội dòng Đa Minh thế giới, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Đại lễ Phật đản Vesak…, góp phần giới thiệu về hình ảnh đất nước con người Việt Nam.
Hoạt động quốc tế của các tôn giáo Việt Nam diễn ra rất sôi động, thường xuyên. Đây là kết quả của chính sách cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo hoạt động của Đảng và Nhà nước ta. Tại Việt Nam, nhiều hội nghị, lễ hội tôn giáo lớn được tổ chức trọng thể, thành công được dư luận đánh giá cao, như: Việt Nam đã phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Hà Nội, Viện Liên kết toàn cầu IGE (Hoa Kỳ) tổ chức Hội thảo quốc tế chia sẻ kinh nghiệm về chính sách, pháp luật đối với tôn giáo, đóng góp của các tôn giáo đối với xã hội. Đồng thời, tham gia hiệu quả các cuộc Đối thoại nhân quyền (trong đó có vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo) với Úc, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Na Uy, EU; đón làm việc với Báo cáo viên đặc biệt về tự do tôn giáo của Liên hợp quốc, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Mỹ, Đại sứ lưu động về tự do tôn giáo Mỹ; xây dựng và bảo vệ trước Liên hợp quốc “Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ chu kỳ III” (UPR) và “Báo cáo thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” (ICCPR); trả lời khuyến nghị của các cơ quan Liên hợp quốc về nhân quyền, trong đó có vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo.
Quan hệ Việt Nam - Vatican tiếp tục được duy trì và có những bước tiến mới: nâng cấp quan hệ từ mức Đặc phái viên không thường trú lên mức Đặc phái viên thường trú; tiếp tục trao đổi đoàn cấp cao, chuẩn bị tốt các vòng đàm phán và những hoạt động khác thúc đẩy quan hệ hai bên.
Đảng, Nhà nước luôn chăm lo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ cho đồng bào trong nước mà còn cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Ban Tôn giáo Chính phủ đã thành lập nhiều đoàn hoặc kết hợp các chuyến công tác nước ngoài để gặp gỡ cộng đồng người Việt tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của bà con, trao đổi với chính quyền sở tại đề nghị giúp đỡ cộng đồng người Việt được tự do sinh hoạt tôn giáo, tạo sự phấn khởi, thêm gắn bó với quê hương, đất nước. Nhờ đó, có 07 Hội Phật tử Việt Nam tại các nước: Pháp, Nga, Đức, Séc, Ba Lan, Hungary, Ucraina; một Ban đại diện tăng sinh du học ở Ấn Độ. Tháng 11-2018, Chính phủ Lào cho phép thành lập Ban điều phối của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào. Giáo hội Phật giáo Việt Nam có nhiều hoạt động Phật giáo tại 22 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Hoạt động đối ngoại tôn giáo ở Việt Nam không chỉ thực hiện theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn được tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tôn giáo nâng cao vai trò, vị thế trong hoạt động quốc tế, cũng như tạo điều kiện để các tổ chức nước ngoài có dịp tiếp cận với thực tế đời sống tôn giáo ở các vùng miền của Việt Nam, góp phần vào công tác bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức tôn giáo.
Tổng quan một số vấn đề trên cho thấy, chính sách nhất quán tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta và người dân Việt Nam không hề bị ngăn cản hay gây khó trong việc thực hành tín ngưỡng, tôn giáo. Điều đó bác bỏ luận điệu xuyên tạc, bóp méo tình hình thực tế khách quan về tôn giáo của các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trên lĩnh vực tôn giáo dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ta.
                                                                                                                Nguồn: http://tapchiqptd.vn


MÀN KỊCH VỤNG VỀ TRÊN SÂN KHẤU CHÍNH TRỊ HẢI NGOẠI


Cứ mỗi năm khép lại, một số tổ chức phản động ở hải ngoại lại diễn trò trao “Giải thưởng nhân quyền”. Mới đây, cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” ở California (Hoa Kỳ) đã trao cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2019” cho 3 nhân vật: Nguyễn Trung Tôn, Nguyễn Đặng Minh Mẫn và Lê Công Định. Đây thực chất chỉ là màn kịch vụng về trên sân khấu chính trị hải ngoại, ngày càng phơi bày bộ mặt chống phá Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch và những kẻ phản động lưu vong.

Chân dung những kẻ phản bội
Để hiểu mục đích việc trao “Giải thưởng nhân quyền” của cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” chúng ta hãy xem chân dung của 3 nhân vật mà tổ chức này đề xướng trao giải.
Đối tượng Nguyễn Trung Tôn sinh năm 1972, trú tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, hiện đang thụ án 12 năm tù giam về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo quy định tại Điều 79, Khoản 1, Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân (KSND) tại phiên tòa ngày 6-4-2018, từ tháng 3-2013 đến tháng 7-2017, Nguyễn Trung Tôn cùng nhóm đối tượng là Nguyễn Văn Đài, Phạm Văn Trội, Nguyễn Bắc Truyển đã khởi xướng, thành lập tổ chức, xây dựng cương lĩnh, điều lệ, quy chế và chỉ đạo, điều hành hoạt động của tổ chức “Hội anh em dân chủ”. Nguyễn Trung Tôn và các bị cáo đã liên kết với các tổ chức bất hợp pháp trong nước, tìm sự hậu thuẫn, tài trợ về tài chính từ nước ngoài để tiến hành các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Mục đích sâu xa của Nguyễn Trung Tôn và nhóm đối tượng trong tổ chức “Hội anh em dân chủ” là khi lực lượng đủ mạnh, chờ thời điểm phù hợp sẽ công khai hoạt động, đối đầu với chính quyền, hòng thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam để xây dựng chế độ “đa nguyên, đa đảng”, tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân…
Tương tự, đối tượng Nguyễn Đặng Minh Mẫn cũng từng bị phạt tù về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Ngày 9-1-2013, Nguyễn Đặng Minh Mẫn đã bị Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử cùng 13 bị cáo khác. Theo cáo trạng của Viện KSND, từ đầu năm 2009 đến cuối năm 2011, Nguyễn Đặng Minh Mẫn cùng nhóm 13 bị cáo đã nhiều lần ra nước ngoài dự các khóa huấn luyện về “đấu tranh bất bạo động" của tổ chức khủng bố Việt Tân và gia nhập đảng Việt Tân. Sau các khóa huấn luyện ở nước ngoài, các đối tượng được giao nhiệm vụ trở về Việt Nam để thực hiện các hoạt động tuyên truyền chống phá, phát triển lực lượng, kích động quần chúng gây rối làm mất ổn định tình hình chính trị-xã hội trong nước; viết bài xuyên tạc quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; lợi dụng chiêu bài đấu tranh dân chủ, nhân quyền, chống tham nhũng, bảo vệ chủ quyền biển, đảo... để thực hiện các mưu đồ chính trị nhằm lật đổ chính quyền Nhà nước Việt Nam. Ngày 2-8-2019 vừa qua, Nguyễn Đặng Minh Mẫn đã mãn hạn 8 năm tù. Ngay sau khi ra tù, tổ chức khủng bố Việt Tân đã móc nối trở lại với Nguyễn Đặng Minh Mẫn hòng tiếp tục sử dụng đối tượng này làm công cụ chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Còn đối với Lê Công Định thì chúng ta chẳng lạ. Đối tượng này cũng từng bị TAND TP Hồ Chí Minh tuyên phạt 5 năm tù giam, 3 năm quản chế sau mãn hạn tù. Trước đó, Lê Công Định đã bị cơ quan công an bắt giam về "tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam" theo Điều 88 Bộ luật Hình sự. Sau hơn 3 năm thụ án, Lê Công Định được ra tù trước thời hạn do chấp hành tốt nội quy trại giam. Trở về với gia đình, với xã hội những tưởng Lê Công Định sẽ “cải tà quy chính” nhưng không, hắn vẫn “ngựa quen đường cũ”. Mặc dù trước tòa Lê Công Định đã nói: “Tôi thấy những việc làm trên của tôi đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Tôi rất ân hận với những hành vi sai trái của mình. Tôi mong được Nhà nước xem xét cho tôi hưởng lượng khoan hồng”, thế nhưng hiện nay, Lê Công Định đã lộ nguyên hình là kẻ phản bội chuyên hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Pháp luật Việt Nam luôn phù hợp với công ước quốc tế
Điểm qua vài nét vậy đủ thấy rất rõ 3 nhân vật nói trên là những đối tượng đã và đang vi phạm pháp luật Việt Nam. Không chỉ vậy, những người này còn vi phạm Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16-12-1966; có hiệu lực ngày 23-3-1976; Việt Nam gia nhập ngày 24-9-1982). Theo công ước này, các quốc gia thành viên cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền pháp lý của mình các quyền đã được công nhận... Nhưng việc thực hiện các quyền đã được công nhận trong công ước này có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác.
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam luôn giữ đúng nguyên tắc, sát với thực tế đất nước, phù hợp và không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên. Ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác... Hành vi tuyên truyền xuyên tạc, bịa đặt, kích động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam; âm mưu tổ chức hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân của các đối tượng rõ ràng đã gây bất ổn cho an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm quyền tự do cơ bản của người khác... và phải chịu những hình phạt nghiêm minh của pháp luật là tất yếu.
"Vải xô" không che nổi mặt trời
Luôn rêu rao rằng, mục đích hoạt động là nhằm đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ nhân quyền trên thế giới để thúc đẩy dân chủ, nhân quyền cho người dân Việt Nam dựa trên tinh thần của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và các văn kiện quốc tế khác về nhân quyền, vậy mà cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” lại đi trao giải cho những nhân vật đã vi phạm pháp luật Việt Nam, vi phạm Công ước quốc tế thì quả là việc làm không thể chấp nhận được.
Nhìn vào việc làm của cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” dư luận có thể thấy ngay cái mục đích mỹ miều mà tổ chức này đặt ra chỉ là dối trá, lừa bịp để nhận những đồng đô la bố thí từ một vài tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam. Họ ngày càng lộ nguyên hình là tổ chức “phản động lưu vong”, một tập hợp của những phần tử “dân chủ cuội” không hơn không kém. Với một tổ chức ô hợp như thế thì chỉ những người mù quáng mới tin rằng họ sẽ thúc đẩy quyền con người, đem lại những điều tốt đẹp cho đất nước Việt Nam.
Mục đích hành động trao “Giải thưởng nhân quyền” của cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” không nhằm gì khác là hà hơi tiếp sức, kích động cho những phần tử phản động trong nước ngày càng liều lĩnh chống Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Nhìn bề ngoài việc trao “Giải thưởng nhân quyền” là do cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” tiến hành, nhưng nhìn sâu kỹ hơn chúng ta sẽ thấy đứng sau mỗi “giải thưởng nhân quyền” ấy đều có hình bóng trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành của một số nước phương Tây và đồng minh. Xét cho đến cùng, những việc làm ấy đều nằm trong âm mưu, thủ đoạn chống phá nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình" với cách mạng Việt Nam. Nhưng “vải xô” không che nổi mặt trời. Mọi âm mưu và thủ đoạn ấy dù có nham hiểm, tinh vi, xảo trá đến mấy cũng sẽ bị phơi bày và đập tan bởi tinh thần cảnh giác cao độ của nhân dân Việt Nam.

KHÔNG ĐỂ KẺ XẤU LỢI DỤNG "BẤT TUÂN DÂN SỰ" ĐỂ KÍCH ĐỘNG, CHỐNG PHÁ



Những năm qua, nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" đối với Việt Nam, các thế lực thù địch đã sử dụng tổng hợp các phương pháp, cách thức chống phá trên mọi lĩnh vực xã hội, trong đó, chúng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn mới là "bất tuân dân sự" nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT-TTATXH), tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Bản chất "bất tuân dân sự" là coi thường kỷ cương phép nước
Thuật ngữ "bất tuân dân sự" (hay còn gọi là chống đối chính phủ dân sự) lần đầu tiên xuất hiện trong một bài luận với nhan đề "Dân sự bất hợp tác" của nhà văn người Mỹ, Henry David Thoreau vào tháng 5-1849. Nội dung cơ bản của bài luận bàn về mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước. 
Đến thế kỷ 20, quan điểm của Thoreau về "bất tuân dân sự" phát triển thành phương thức đấu tranh bất bạo động và trở thành một mũi tiến công quan trọng trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc nhằm lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó có Việt Nam và những nước không cùng phe với họ. “Phương thức hoạt động” này được áp dụng trong cuộc "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ 20; làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, phong trào biểu tình nhằm lật đổ chính phủ ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Công (Trung Quốc) năm 2019...
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, "bất tuân dân sự" có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức “xã hội dân sự”. Với lập luận, “xã hội dân sự” là “đối quyền của quyền lực nhà nước” để tập trung đòi thực hiện trách nhiệm xã hội, chia sẻ quyền lực chính trị cho “xã hội dân sự”; thực chất là cổ vũ tư tưởng coi nhà nước đối lập với “xã hội dân sự”; kích động thái độ vô chính phủ hòng từng bước đưa “xã hội dân sự” thành lực lượng đối trọng với nhà nước; chủ nghĩa đế quốc coi hình thành “xã hội dân sự” là điều kiện, tiền đề cho việc cổ xúy tự do cá nhân, lấy "bất tuân dân sự" làm phương thức cơ bản để lật đổ chính quyền nhà nước.
Bản chất và phương thức của "bất tuân dân sự"
Xét trên phương diện đó, có thể thấy "bất tuân dân sự" có một số đặc điểm cơ bản như sau: 
Là hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý các quy định của pháp luật hoặc cản trở việc thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước; gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, pháp luật. Những người tham gia “bất tuân dân sự" thể hiện sự phản kháng, không tuân thủ pháp luật thông qua hình thức đấu tranh “ôn hòa, bất bạo động”. Tuy nhiên, tính chất “bất bạo động” có thể chuyển hóa thành bạo động rất nhanh chóng trong những hoàn cảnh cụ thể; khi gặp thời cơ thuận lợi và đủ điều kiện chín muồi. 
Mục đích và hình thức thể hiện: Thông qua việc từ chối tuân theo hay cản trở việc thực thi pháp luật, gây áp lực đối với nhà nước, các đối tượng thực hiện “bất tuân dân sự" nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản. Để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những vỏ bọc khác nhau, như: Tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa”, “phản kháng bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”. Đối với Việt Nam, chúng triệt để lợi dụng các vấn đề “dân chủ, nhân quyền”,“dân tộc, tôn giáo” hoặc lợi dụng các sự kiện chính trị-xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của con người để lôi kéo, kích động, thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động, như: Đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, phản đối đặt trạm thu phí, bảo vệ chủ quyền biển, đảo... thực chất là để thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Chủ thể tiến hành là những cá nhân, tổ chức phản động như: “Việt Tân”, “Hội anh em dân chủ”, “Hội văn đoàn độc lập Việt Nam”, “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”... giữ vai trò chỉ đạo, tài trợ kinh phí, chỉ đạo đường lối, đào tạo, huấn luyện phương thức hoạt động cho các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, đối tượng hình sự trong nước... trở thành cộm cán thu hút, lôi kéo, tập hợp người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự”. Số đối tượng trong nước ráo riết thu thập tình hình, phát triển lực lượng, hình thành các hội nhóm hoạt động “bất bạo động”. Chúng thông qua mạng xã hội, internet, rải truyền đơn, tờ rơi... để tuyên truyền, vận động thu hút, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động do chúng chỉ đạo.
Hậu quả của “bất tuân dân sự” để lại rất nặng nề, kéo dài không chỉ về kinh tế-xã hội mà còn gây ảnh hưởng đến ANCT-TTATXH, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền. Điển hình như vụ người dân phản đối trạm BOT Cai Lậy (Tiền Giang) năm 2017, vụ người dân tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai... xuống đường phản đối Dự thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc và Luật An ninh mạng năm 2018... các đối tượng đã kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân và xã hội.
Thực tế ở Việt Nam những năm qua đã cho thấy, để thực hiện “bất tuân dân sự”, các thế lực thù địch ra sức cổ xúy quyền tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực xã hội và liên kết hình thành các hội, nhóm “xã hội dân sự” với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ... thu hút các tầng lớp xã hội tham gia, như: “Hội phụ nữ nhân quyền”,“Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”… Chúng lợi dụng sơ hở của chính quyền trong thực thi pháp luật để lôi kéo người tham gia phát triển lực lượng hoạt động theo kiểu “bất bạo động” xâm phạm ANCT-TTATXH. Đặc biệt, các đối tượng thù địch tìm cách lôi kéo, mua chuộc cán bộ, đảng viên và người dân tích cực tham gia phản biện chính sách, phản biện xã hội, tác động và gây sức ép đòi thay đổi chính sách, hệ thống pháp luật và lĩnh vực tư pháp nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Không để kẻ xấu lợi dụng, chống phá
Cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền của người dân được bày tỏ quan điểm một cách công khai đối với các chủ thể khác mà đặc biệt là với Nhà nước trên cơ sở pháp luật; đồng thời, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm hoạt động lợi dụng quyền và tự do cơ bản của con người để gây mất ổn định. Mọi công dân đều phải chịu sự quản lý của Nhà nước, không cá nhân nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm và xử lý nghiêm bất kỳ ai tham gia “bất tuân dân sự” cản trở thực thi pháp luật, chống đối chính quyền, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân.Để đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả với hoạt động này, cần thực hiện các giải pháp trọng tâm sau:
Một là, công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” xâm phạm ANCT-TTATXH nước ta luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng; sự quản lý, điều hành của Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động lợi dụng phương thức này chống phá Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất của “bất tuân dân sự”, về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động “bất tuân dân sự” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội Việt Nam, coi đó là trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này.
Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... kích động, lôi kéo nhân dân tham gia "bất tuân dân sự" để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện, phối hợp giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp. Trong xử lý các vấn đề nhạy cảm về dân chủ, nhân quyền phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, bảo đảm yêu cầu đặt ra theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế, kiên quyết không làm phức tạp thêm tình hình, không gây sơ hở để địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.
Ba là, tăng cường công tác quản lý báo chí, xuất bản; kiểm soát chặt chẽ an ninh thông tin, quản lý internet, tích cực đấu tranh ngăn chặn việc tán phát tài liệu, tin tức xuyên tạc, thù địch về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... ở nước ta. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới, trang bị các phương tiện thiết bị hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác quản lý, kiểm duyệt, kiểm tra trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, internet… đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động "bất tuân dân sự".
Bốn là, cần quán triệt tinh thần giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, đình công theo đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài. Khi phát hiện có tuần hành, tụ tập đông người hay biểu tình, đình công, cần nhanh chóng đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân của vụ việc; thực hiện phân hóa số đối tượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo; tuyên truyền vận động, thuyết phục quần chúng giải tán; kiên quyết xử lý theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu, cốt cán kích động, lôi kéo người dân tham gia "bất tuân dân sự".
Năm là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo… kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nhằm góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích của người dân trên cơ sở pháp luật; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh bảo đảm ổn định ANCT-TTATXH. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, vì nhân dân; tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc của nhân dân trên cơ sở pháp luật.