Thứ Năm, 4 tháng 12, 2025

QUAN ĐIỂM SAI LỆCH CỦA KINI YANG VỀ NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM

 

Trên Baoquocdan đăng bài: “Hậu quả của nền giáo dục” của Kini Yang. Với thủ đoạn sâu chuỗi một vài vụ việc vi phạm pháp luật xảy ra trong ngành giáo dục, y đã suy diễn rằng, nguyên nhân chính của những vụ việc đó là do Đảng, Nhà nước nhồi nhét tư tưởng mác xít đã lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với văn minh nhân loại. Cần khẳng định, luận điệu của Kini Yang là phản động, nhằm chống phá nền tảng tư tưởng, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, làm xói mòn niềm tin của Nhân dân vào nền giáo dục. Vì vậy, chúng ta cần phải đấu tranh phản bác luận điệu sai trái này.

1. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn mãi là ánh sáng soi đường cách mạng, là kim chỉ nam cho nhận thức và hành động thực tiễn của Đảng.

Những nguyên lý, khái niệm, phạm trù, quy luật và phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin đã vượt lên trên giới hạn của không gian và thời gian, tiếp tục là “chìa khóa” giải đáp những vấn đề tư tưởng, soi sáng những nhiệm vụ lịch sử chín muồi của nhân loại, đó là giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, mọi sự tha hóa. Chủ nghĩa Mác – Lênin có giá trị bền vững và tính thời đại bởi bản thân nó là một học thuyết phát triển và nhân văn, luôn hướng tới sự tiến bộ của xã hội. Những giá trị cơ bản đó được thể hiện sinh động, nhất quán từ C.Mác, Ph.Ăngghen đến V.I.Lênin và trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA TRẦN VĂN

 

Trên trang baotiengdan đăng bài “Sự nghiệp số ở Việt Nam càng chuyển càng … nhọ!” của blogger Trần Văn. Bài viết đã xuyên tạc chủ trương “chuyển đổi số” của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Do đó, cần được đấu tranh bác bỏ như sau:

Thứ nhất, “chuyển đổi số” thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

“Chuyển đổi số” không phải là phong trào tự phát, mà là chủ trương chiến lược được Đảng, Nhà nước Việt Nam hoạch định bài bản, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cải thiện quản trị, phục vụ Nhân dân trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0. Theo đó, ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nghị quyết 52-NQ/TW của Bộ Chính trị nêu rõ quan điểm chỉ đạo và yêu cầu về hạ tầng, nhân lực, chính sách để tham gia Cách mạng công nghiệp 4.0. Điều này cho thấy, Đảng ta nhất quán xác định “chuyển đổi số” là một yếu tố chiến lược, cần lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất.

 Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, làm cơ sở triển khai thực hiện Nghị quyết 52-NQ/TW của Bộ Chính trị. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định 749 của Thủ tướng Chính phủ xác định tầm nhìn đến 2030 và mục tiêu cụ thể xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.

Tiếp đó, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc”. Vì vậy, “chuyển đổi số” ở Việt Nam là chủ trương chiến lược, được thực hiện có lộ trình, với mục tiêu rõ ràng, không phải như sự xuyên tạc của Trần Văn.

KỲ HỌP THỨ MƯỜI, QUỐC HỘI KHÓA XV THỂ HIỆN Ý CHÍ, NIỀM TIN VÀ SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 

Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XV diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021-2025, đồng thời chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng. Đây là kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tinh thần đổi mới, đoàn kết, trách nhiệm, sáng tạo của Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XV tập trung xem xét, thảo luận và quyết định nhiều nội dung quan trọng liên quan đến phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước, công tác lập pháp, giám sát tối cao, nhân sự và các vấn đề khác của đất nước.

Thứ nhất, công tác xây dựng pháp luật – hoàn thiện thể chế, kiến tạo phát triển. Một trong những trọng tâm của kỳ họp là xem xét, thông qua và cho ý kiến đối với nhiều dự án luật quan trọng, tạo hành lang pháp lý thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Nhiều dự án luật lớn được trình ra kỳ họp, như: Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý, sử dụng đất, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, tạo động lực phát triển đất nước; Luật Nhà ở (sửa đổi) và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), góp phần ổn định thị trường bất động sản, thúc đẩy an sinh xã hội, đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho nhân dân; Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), mở rộng đối tượng tham gia, bảo đảm quyền lợi người lao động, thể hiện tinh thần nhân văn của Nhà nước ta; cùng nhiều dự án luật khác như Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi), Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi), Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Luật Quản lý công trình quốc phòng, khu quân sự, Luật Lưu trữ (sửa đổi),…

Những dự luật này đều có ảnh hưởng sâu rộng, tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân, thể hiện rõ quyết tâm của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NỖ LỰC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA TRONG PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI

 

Trên trang “anhemdanchu”, Nguyễn Anh Thư đăng bài viết: “Lũ lụt ở Hà Nội và các thành phố khác không phải thiên tai, mà là Đảng tai”. Nội dung bài viết đã thổi phồng, xuyên tạc, đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước Việt Nam gây nên tình trạng thiên tai, lũ lụt ở một số tỉnh, thành phố trong thời gian qua. Đây là luận điệu hết sức phi lý, cần được đấu tranh bác bỏ như sau:

Thứ nhất, cần khẳng định rằng, ngập lụt là vấn đề lịch sử và địa lý của đất nước ta chứ không phải là “sản phẩm” mới của quy hoạch hiện đại. Thực tế lịch sử Hà Nội đã ghi nhận những thảm họa lũ lụt kinh hoàng trong quá khứ. Các trận lũ các năm 1913, 1915, 1945, 1971, đã gây vỡ đê hàng chục điểm trên các hệ thống sông lớn, khiến hàng trăm nghìn héc-ta đất đai bị ngập lụt trên diện rộng toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ, thiệt hại sinh kế hàng triệu người dân. Điều đáng chú ý là vào thời điểm đó, quá trình đô thị hóa chưa diễn ra và cũng chưa có sự xuất hiện của các công trình thủy điện. Thậm chí, nhiều vùng đất ngày nay là đô thị, trước đây được gọi là “chiêm trũng”, chỉ có thể trồng một vụ lúa vì ngập sâu. Ngày nay, khái niệm đất chiêm trũng gần như đã biến mất, đất đai được canh tác hai đến ba vụ. Điều này chứng minh rằng, công tác quản lý đê điều và kiểm soát lũ lụt tổng thể đã được cải thiện đáng kể so với quá khứ. Việc quy nguyên nhân ngập lụt hiện nay hoàn toàn cho việc lấp ao hồ, đô thị hóa hay xây dựng thủy điện không có sức thuyết phục và đi ngược lại với thực tế lịch sử.

Thứ hai, việc đổ lỗi cho các công trình thủy điện là vô căn cứ và bỏ qua vai trò quan trọng của chúng. Theo quy trình vận hành liên hồ chứa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tất cả các hồ chứa thủy điện lớn đều phải duy trì mực nước thấp trong mùa lũ để tham gia cắt giảm lũ cho hạ du khi có yêu cầu. Chỉ khi mưa kéo dài, lượng nước đổ về hồ tăng mạnh và mực nước đạt ngưỡng, hồ mới bắt buộc phải xả với lưu lượng bằng đúng lượng nước đổ về để đảm bảo an toàn đập. Điều này có nghĩa là, ngay cả khi không có đập thủy điện, lượng nước lũ chảy về hạ du vẫn sẽ không đổi, thậm chí còn nguy hiểm hơn do không có công trình điều tiết. Trên thực tế, thủy điện có vai trò rất lớn trong việc phòng chống vỡ đê và cắt giảm đỉnh lũ xuống mức an toàn cho hạ du. Minh chứng rõ nhất là trong trận bão lớn gần đây, dù lượng mưa kỷ lục, các tuyến đê lớn vẫn được giữ vững, ngay cả trong trận bão kỷ lục Yagi 2024.

ĐOÀN KẾT NỘI BỘ – SỨC MẠNH CỦA ĐẢNG QUA MỖI KỲ ĐẠI HỘI

 

Trên trang Thoibao, Huỳnh Tú đăng bài viết “Game quyền lực, 3 chống 1 và kết quả sau cuộc chiến”. Nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phản động nhằm kích động, gây chia rẽ nội bộ trong Đảng khi cho rằng trong mỗi kỳ Đại hội của Đảng nội bộ lại chia thành phe này, nhóm kia. Do đó, cần phải đấu tranh bác bỏ như sau:

Một là, đoàn kết trong Đảng vừa là nhiệm vụ lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách.

Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó vừa là mục tiêu vừa là nguồn sức mạnh quyết định thắng lợi sự nghiệp cách mạng. Đảng luôn xác định giữ vững đoàn kết nội bộ là nguyên tắc sống còn trong công tác xây dựng Đảng”1. Chính vì vậy, ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã gắn bó với dân tộc, hòa mình cùng dân tộc, sinh tồn trong dân tộc; Đảng đã đoàn kết, tập hợp trong hàng ngũ của mình là những người xuất thân từ nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau nhưng cùng chung lý tưởng, mục tiêu và lợi ích là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chính lý tưởng chung, mục tiêu chung và lợi ích chung là cơ sở của sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đoàn kết, thống nhất thực sự là động lực chủ yếu của sự phát triển của Đảng. Đoàn kết, thống nhất là một yêu cầu cơ bản, một nguyên tắc tổ chức và hoạt động quan trọng hàng đầu của Đảng, quyết định sức mạnh của Đảng, nhằm bảo đảm giành được những thắng lợi to lớn. Đoàn kết, thống nhất trong Đảng không phải là “đoàn kết một chiều”, “bằng mặt mà không bằng lòng”,… mà đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải là một chiến lược lâu dài, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam, đoàn kết phải trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, có lý, có tình, bằng tình cảm cách mạng trong sáng, tình thương yêu đồng chí, đồng bào. Nhờ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng mà sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử. Uy tín, niềm tin của Đảng trong lòng nhân dân ngày càng được củng cố, giữ vững, tăng cường thông qua những hành động, việc làm cụ thể, thiết thực nói đi đôi với làm, ban hành nhiều cơ chế, chính sách để chăm lo tốt hơn cho đời sống của nhân dân và góp phần quan trọng vào việc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ nội bộ của các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

ĐẢNG LUÔN VÌ LỢI ÍCH CỦA NHÂN DÂN, DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Trên trang Thongluan-rdp, Chu Tuấn Anh có bài “Đảng Cộng sản Việt Nam đang trong tuyệt vọng”. Bài viết đưa ra nhiều thông tin thiếu khách quan, bịa đặt để đánh lừa dư luận, như kinh tế – xã hội mất kiểm soát, nhiều đảng viên, lãnh đạo cấp cao của Đảng suy thoái, tham nhũng, tiêu cực là tất yếu bởi đường lối lãnh đạo độc đoán, độc quyền của Đảng. Mục đích của Chu Tuấn Anh nhằm làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng; xóa bỏ sự lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng một đất nước đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thay đổi toàn bộ thể chế chính trị ở Việt Nam. Luận điệu xuyên tạc, sai trái này của Chu Tuấn Anh cần phải được đấu tranh bác bỏ. Bởi lẽ:

Thứ nhất, bản chất, mục tiêu, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc Việt Nam, Đảng không có lợi ích nào khác. Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức ưu tú nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của giai cấp công nhân, toàn thể dân tộc Việt Nam. Đảng một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự dân tộc. Với bản chất, mục tiêu, đường lối như vậy thì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới là chính đảng duy nhất lãnh đạo đất nước và nhân dân Việt Nam tiến tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Thứ hai, về thực tiễn, lịch sử cách mạng Việt Nam sẽ là lời khẳng định đanh thép và là minh chứng sống động nhất về tính tất yếu khách quan về vai trò lãnh đạo của Đảng trong các giai đoạn của tiến trình cách mạng. Không có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò này của Đảng ta. Từ một đất n­ước bị tàn phá nặng nề bởi nhiều cuộc chiến tranh, Việt Nam đã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội; đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động không ngừng đ­ược cải thiện; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Với những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nư­ớc, Việt Nam trở thành một trong những nư­ớc xã hội chủ nghĩa đầu tiên tiến hành đổi mới thắng lợi theo định h­ướng xã hội chủ nghĩa. Trải qua gần 40 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quy mô GDP đã tăng hơn 100 lần, từ con số 4 tỷ USD lên hơn 470 tỷ USD năm 2024. Năm 2024, tốc độ tăng trưởng đạt 7, 09% (thuộc nhóm số ít các nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới); kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát; GDP bình quân đầu người năm 2024 theo giá hiện hành đạt 114 triệu đồng/người, tương đương 4.700 USD, tăng 377 USD so với năm 2023. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tình hình chính trị ổn định, kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, an ninh, quốc phòng giữ vững, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng nâng lên trên trường quốc tế. Nhờ đó, đời sống về vật chất, tinh thần nhân dân ngày càng cao, có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, an ninh, an toàn. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo đất nước Đảng cũng gặp những khó khăn, thách thức.

NHÂN DÂN LUÔN TIN TƯỞNG VÀO CHỦ TRƯƠNG TINH GỌN BỘ MÁY HÀNH CHÍNH CỦA ĐẢNG

 

Trên trang “Boxitvn”, Tô Văn Trường có bài viết “Cải cách không thể chỉ là cuộc di chuyển ghế ngồi”, cho rằng: “Thực chất cuộc cải cách bộ máy ở nước ta hiện nay là cuộc di chuyển ghế, giành ghế, giữ ghế, họp hành triền miên. Một bộ máy cồng kềnh không chỉ kìm hãm tốc độ phát triển của đất nước mà còn làm xói mòn niềm tin của nhân dân, tài sản vô giá của thể chế”. Đây là quan điểm sai trái, xuyên tạc có chủ đích, nhằm phủ nhận chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, gieo rắc hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, cần được đấu tranh bác bỏ.

Một là, cải cách bộ máy nhà nước ở Việt Nam không phải “cuộc di chuyển ghế ngồi” mà là bước đi chiến lược, có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc.

Chủ trương cải cách tổ chức bộ máy được Đảng ta xác định rõ trong Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) và tiếp tục cụ thể hóa trong Nghị quyết Đại hội XIII, hướng tới mục tiêu: “Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; giảm tầng nấc trung gian; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân”. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy không phải là sự “di chuyển ghế”, mà là tái cơ cấu toàn diện để khắc phục chồng chéo, trùng lặp chức năng, tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Thực tiễn cho thấy, quá trình thực hiện mô hình chính quyền hai cấp và sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp đã giảm hàng chục nghìn đầu mối trung gian, tinh giản hơn 150.000 biên chế, tiết kiệm ngân sách hàng trăm nghìn tỷ đồng mỗi năm, đồng thời tăng hiệu quả điều hành, phối hợp trong hệ thống. Đây là kết quả thực chất, có thể đo đếm được, không phải “họp hành triền miên” như luận điệu xuyên tạc.

Hai là, cải cách gắn liền với đổi mới phương thức lãnh đạo, đề cao trách nhiệm, không hề tạo ra tâm lý “né tránh” hay “chồng chéo”.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, CHỐNG PHÁ DỰ THẢO CÁC VĂN KIỆN TRÌNH ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG

 

Cứ mỗi kỳ Đại hội Đảng toàn quốc diễn ra, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị lại tăng cường tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Một trong những trọng tâm mà các thế lực thù địch tập trung tấn công là dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV – những văn bản có ý nghĩa chiến lược, định hướng đường lối phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Chúng xuyên tạc rằng “dự thảo văn kiện chỉ là hình thức”, “thiếu dân chủ”, “xa rời thực tiễn”, hoặc “duy trì mô hình chính trị cũ kỹ, kìm hãm đổi mới”. Những luận điệu này không chỉ sai lệch về bản chất mà còn nhằm mục tiêu chính trị: Phủ nhận thành quả lãnh đạo của Đảng, gây mất niềm tin trong nhân dân, tạo “điểm nóng” về tư tưởng chính trị để phá hoại Đại hội XIV.

1. Để kịp thời phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá hoại Đại hội XIV của Đảng, chúng ta cần khẳng định: Một là, dự thảo các văn kiện được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đây không phải là sản phẩm của một nhóm cá nhân, mà là kết quả của quá trình nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn sâu sắc trong suốt nhiệm kỳ XIII, trên cơ sở kế thừa tinh hoa của 13 kỳ đại hội trước. Các quan điểm, mục tiêu, định hướng trong dự thảo đều hướng đến phát triển nhanh, bền vững đất nước; nâng cao đời sống nhân dân; xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.

“KHÔNG CÓ TỰ DO INTERNET” – THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ HÓA KHÔNG GIAN MẠNG Ở VIỆT NAM

 

Trên trang RFA xuất hiện bài viết “Việt Nam không có tự do internet: hệ lụy của chế độ độc đảng” – một sản phẩm quen thuộc của kiểu tuyên truyền chống phá, khoác áo “nghiên cứu” và “báo cáo quốc tế” để gieo rắc nghi ngờ về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Bài viết dẫn báo cáo của Freedom House, rồi liệt kê hàng loạt cáo buộc rằng Việt Nam “bắt bớ blogger”, “bịt miệng người dân”, “đánh sập trang web lề trái”, “chặn tường lửa” nhằm “bóp nghẹt không gian tự do internet”. Thực chất, đây là một luận điệu cũ kỹ, được lặp lại với mục tiêu duy nhất: Chính trị hóa vấn đề quản lý internet, xuyên tạc chính sách bảo đảm quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin của Việt Nam, từ đó cổ xúy cho mô hình “tự do tuyệt đối” – vốn không tồn tại ở bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào.

1. Cần khẳng định rằng, “tự do internet” không phải là tự do vô giới hạn, càng không phải là tự do chống phá, xâm phạm lợi ích cộng đồng và an ninh quốc gia. Ngay cả các nước phương Tây – nơi Freedom House đặt trụ sở – đều có hệ thống luật pháp chặt chẽ điều chỉnh hoạt động trên không gian mạng. Mỹ có Đạo luật Gián điệp, Đạo luật Yêu nước; Anh có Đạo luật An ninh trực tuyến; Đức có Luật Thực thi mạng (NetzDG) – tất cả đều cho phép kiểm soát, chặn hoặc xử lý những nội dung gây nguy hại đến an ninh, trật tự, hoặc vi phạm pháp luật. Ở Việt Nam, Luật An ninh mạng năm 2018 ra đời với tinh thần tương tự: bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân và Nhà nước, giữ gìn không gian mạng an toàn, lành mạnh, không để bị lợi dụng để kích động bạo lực, thù hận hay phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Nói Luật An ninh mạng là biện pháp “bịt miệng người dân” là một sự xuyên tạc trắng trợn, cố tình đánh đồng giữa bảo vệ an ninh quốc gia với ngăn cản quyền tự do cá nhân.

2. Chưa bao giờ người dân Việt Nam có điều kiện tiếp cận, bày tỏ ý kiến và lan tỏa thông tin rộng rãi như hiện nay. Việt Nam hiện có hơn 80 triệu người dùng internet, đứng trong nhóm 10 quốc gia có số người dùng mạng xã hội lớn nhất thế giới; hàng trăm nghìn trang tin, diễn đàn, blog, fanpage hoạt động sôi nổi, nhiều nội dung phê bình, phản biện được đăng tải công khai, không bị kiểm duyệt hay xóa bỏ. Chính phủ Việt Nam chủ trương phát triển chính phủ điện tử, chính phủ số, công dân số, mở các kênh tương tác trực tuyến với người dân – đó là biểu hiện sinh động của một môi trường thông tin cởi mở, năng động và hiện đại. Nếu “không có tự do internet”, liệu có thể có những hoạt động báo chí, nghiên cứu, phản biện, tranh luận xã hội phong phú như vậy?

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ NỀN TƯ PHÁP VIỆT NAM

 

Trên trang Thongluan-rdp, Đặng Đình Mạnh đã có bài viết “Học gì và làm gì trong một nền tư pháp giả vờ”. Bài viết chứa đựng những luận điệu hồ đồ, thiếu hiểu biết về nền tư pháp Việt Nam, khi cho rằng nền tư pháp Việt Nam là “Một nền tư pháp tàn tạ”, “công lý chỉ còn là một vở diễn vụng về”. Song, cả lý luận và thực tiễn đã bác bỏ luận điệu sai trái này của Đặng Đình Mạnh.

Thứ nhất, tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong ba nhánh quyền lực nhà nước (cùng với lập pháp và hành pháp); có vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Tư pháp Việt Nam không phải là sản phẩm hình thức, mà là thiết chế quyền lực nhà nước độc lập, có vị trí đặc biệt quan trọng trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi bổ sung năm 2025), quyền tư pháp được thực hiện bởi Tòa án nhân dân – cơ quan xét xử cao nhất của Nhà nước, nhân danh công lý để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội. Hệ thống tư pháp Việt Nam hoạt động dựa trên nguyên tắc độc lập xét xử, tuân thủ pháp luật, bảo đảm quyền bào chữa và tranh tụng bình đẳng giữa các bên, xét xử công khai, minh bạch và chịu sự giám sát của Nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2030: “Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.” Đó không chỉ là mục tiêu chính trị mà còn là cam kết hiến định nhằm bảo đảm mọi quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được bảo vệ bằng công lý, bằng pháp luật, chứ không phải bằng cảm tính hay quyền lực. Một trong các đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được thể hiện trong khoản 2, Điều 103, Hiến pháp năm 2025 đó là quyền lực tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”. Điều này khẳng định rõ rằng tư pháp không bị chi phối tùy tiện bởi các lực lượng bên ngoài mà là xét xử theo đúng quy định pháp luật. Ở mỗi thời điểm, cùng với sự phát triển của đất nước, tư pháp Việt Nam có sự điều chỉnh phù hợp với Hiến pháp theo nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, kỷ nguyên số, công tác chuyển đổi số trong tư pháp cũng được điều chỉnh thích ứng kịp thời, thuận lợi cho việc công khai bản án, tiếp nhận hồ sơ trực tuyến, hỗ trợ người dân tra cứu tiến độ vụ việc… Điều đó cho thấy nền tư pháp nước ta luôn luôn phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại, liêm chính, minh bạch, thượng tôn pháp luật, gần dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Qua đó, phản bác luận điệu sai trái về “Một nền tư pháp tàn tạ”, “công lý chỉ còn là vở diễn vụng về” của Đặng Đình Mạnh.