Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

 

Trên trang Vietnamthoibao đăng bài viết: “Mười năm nhìn lại: Vẫn một nỗi chờ đợi” của Đặng Xương Hùng nhằm chống phá thành công rất tốt đẹp của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Với luận điệu sai trái, xuyên tạc rằng: Đại hội không có gì thay đổi, vẫn là các nội dung được chuẩn bị sẵn, nghị quyết đầy mĩ từ với những lời hứa hẹn thành công. Từ đó, suy diễn nguyên nhân là do một đảng lãnh đạo dẫn đến độc quyền chính trị, mất dân chủ, thiếu tiếng nói phản biện xã hội. Đây là thủ đoạn lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ để chống phá, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước, kêu gọi đấu tranh thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

1. Bảo đảm quyền tự do, dân chủ là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam

Bảo đảm quyền tự do, dân chủ luôn là quan điểm nhất quán của Đảng,  đồng thời là bản chất, mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được xác định trong Cương lĩnh, Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp của Nhà nước qua các thời kỳ. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định phải coi trọng việc bảo vệ  dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, sửa đổi năm 2025, khoản 1, điều 14 khẳng định rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước đều hướng tới việc ghi nhận và bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền của mọi người dân…

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, xác định Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Nghị quyết nhấn mạnh phải xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả quyền làm chủ của Nhân dân và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Thực tiễn Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là kết tinh của tình cảm, tâm huyết, trí tuệ của hàng triệu cán bộ, đảng viên, Nhân dân, điều đó cho thấy quyền tự do, dân chủ ở Việt Nam được thực hiện một cách đầy đủ, thực chất, bởi mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều hướng đến phục vụ Nhân dân. Việc nhìn nhận một cách thiển cận, hằn học, định kiến của Đặng Xương Hùng cũng không thể phủ nhận được những quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do, dân chủ ở Việt Nam.

CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM – SỰ LỰA CHỌN TẤT YẾU CỦA LỊCH SỬ

 

Trên trang Saigonnhonew đăng bài viết “Thực dân, Phát xít và cộng sản – chủ nghĩa nào tệ hại hơn” của Đào Tăng Dực, người thường xuyên lợi dụng danh xưng “luật sư” để phát tán các quan điểm sai trái, thù địch đối với Đảng và Nhà nước ta. Trong bài viết, tác giả cố tình đánh đồng chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phát xít với chủ nghĩa cộng sản, coi đó là “ba thảm họa” đối với các quốc gia kém phát triển; từ đó suy diễn rằng “các quốc gia bị thực dân và phát xít thống trị thường đạt đến dân chủ và thịnh vượng nhanh hơn các quốc gia cộng sản, trong đó có Việt Nam”; và quy kết “độc tài cộng sản là hiểm họa lớn nhất”. Đây là một thủ đoạn chính trị nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn.

1. Không thể đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít

Về phương diện lý luận và thực tiễn lịch sử, việc xếp chủ nghĩa cộng sản vào cùng nhóm “thảm họa” với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít là một sự tráo đổi khái niệm có chủ ý, phản khoa học và phi lịch sử. Chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít là những hình thái thống trị phản dân chủ, phản nhân văn và phản tiến bộ nhất mà lịch sử nhân loại từng sản sinh. Bản chất của chúng là bạo lực có tổ chức, áp bức dân tộc và bóc lột con người, gắn liền với việc tước đoạt có hệ thống quyền sống, quyền tự do và quyền phát triển của các dân tộc bị trị. Trong suốt hàng trăm năm tồn tại, chủ nghĩa thực dân đã gây ra những tội ác không thể phủ nhận như bóc lột tàn bạo và giết chóc nhân dân châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Thảm họa Chiến tranh thế giới thứ hai, với hàng chục triệu người thiệt mạng là minh chứng không thể phủ nhận cho bản chất phản động, phi nhân tính của chế độ này. Đó không phải là “hệ quả ngoài ý muốn”, mà là kết quả tất yếu của bản chất xâm lược và bóc lột của chủ nghĩa thực dân, phát xít.Việc nhân loại tiến bộ lên án chủ nghĩa phát xít như tội ác chống loài người đã trở thành sự đồng thuận phổ quát.

TỪ BIỂU TÌNH IRAN ĐẾN SỰ XUYÊN TẠC CÓ CHỦ ĐÍCH VỀ VIỆT NAM

 

Những biến động chính trị – xã hội ở một quốc gia luôn là đề tài được quan tâm trong đời sống quốc tế. Tuy nhiên, khi các sự kiện đó bị lợi dụng để áp đặt những so sánh khập khiễng, đánh tráo bối cảnh lịch sử và xuyên tạc tình hình của một quốc gia khác, thì câu chuyện không còn dừng ở bình luận thời sự, mà trở thành một thủ pháp chính trị có chủ đích. Bài viết “Từ những cuộc biểu tình ở Iran nhìn về Việt Nam” của Việt Thịnh đăng trên Baotiengdan là một ví dụ điển hình cho kiểu lập luận: Mượn hình ảnh biểu tình ở Iran để bôi vẽ, quy chụp và gieo rắc những nhận định sai lệch về Việt Nam. Do đó, cần được vạch trần và bác bỏ như sau:

1. Trọng tâm lập luận của Việt Thịnh là đặt chế độ thần quyền Hồi giáo Iran và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam lên cùng một mặt phẳng, cho rằng cả hai “lên cầm quyền sau những cuộc bạo loạn, lật đổ chế độ cũ” và dựa vào đó để tạo ra “tính chính danh”. Việc cố tình gọi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là “bạo loạn” không chỉ là sự sai lệch về thuật ngữ, mà còn xuyên tạc thô bạo lịch sử Việt Nam, nhằm phủ nhận tính chính danh lịch sử của Nhà nước Việt Nam XHCN. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là một cuộc “bạo loạn” vô tổ chức, càng không phải là hành động cướp chính quyền trong hỗn loạn, mà là kết quả của cả một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, có tổ chức, có đường lối, có sự lãnh đạo và được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ. Đó là cuộc đấu tranh lật đổ chế độ thực dân, phong kiến để giành độc lập dân tộc, chứ không phải là sự thay thế quyền lực giữa các phe phái tôn giáo hay chính trị như cách Việt Thịnh cố tình diễn giải.

2. So sánh Việt Nam với Iran cũng cho thấy một sự ngụy biện điển hình của Việt Thịnh, đó là: Cố tình bỏ qua sự khác biệt căn bản về lịch sử, văn hóa, cấu trúc xã hội và mô hình nhà nước. Iran là một nhà nước thần quyền, trong đó quyền lực chính trị gắn chặt với giáo lý tôn giáo và giới tăng lữ. Việt Nam là một nhà nước xã hội chủ nghĩa, nơi quyền lực nhà nước được tổ chức và vận hành dựa trên Hiến pháp, pháp luật. Cách lập luận của Việt Thịnh là sự cố tình bóp méo bản chất của con đường phát triển Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam lựa chọn không phải là sự sao chép giáo điều từ bất kỳ quốc gia nào, mà là kết quả của quá trình vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến, gắn liền với tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và quyền làm chủ của nhân dân. Việc gán ghép rằng Việt Nam “dựa vào chủ thuyết cộng sản độc hại và phụ thuộc vào Nga, Trung Quốc” không chỉ là một nhận định võ đoán, mà còn phủ nhận trắng trợn thực tế đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa mà Việt Nam kiên trì theo đuổi nhiều thập kỷ qua.

XUYÊN TẠC ĐỐI NGOẠI – MỘT THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ KHÔNG MỚI NHƯNG NGUY HIỂM

 

Đối ngoại là một trong những trụ cột chiến lược của đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gắn trực tiếp với môi trường hòa bình, ổn định, vị thế quốc gia và điều kiện phát triển bền vững của đất nước. Chính vì vậy, đây cũng là lĩnh vực mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đặc biệt tập trung chống phá. Dưới vỏ bọc “phân tích”, “góp ý”, “phản biện chính sách”, chúng tung ra hàng loạt luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, cố tình phủ nhận thành tựu đã đạt được, hạ thấp uy tín quốc gia, làm xói mòn niềm tin của Nhân dân, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Những luận điệu này không mới, nhưng ngày càng tinh vi, nguy hiểm và cần được nhận diện, phản bác một cách trực diện, không khoan nhượng.

1. Lật tẩy luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng

Một thủ đoạn xuyên suốt của các thế lực thù địch là cố tình bóp méo bản chất đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam, gán ghép một cách võ đoán rằng Việt Nam “lệ thuộc”, “đu dây thất bại”, “ngả theo nước lớn”, thậm chí xuyên tạc rằng Đảng “đánh đổi chủ quyền để lấy quan hệ đối ngoại”. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn. Bởi lẽ, trên thực tế, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc bất di bất dịch: Độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết. Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại không phải là sự “mập mờ lập trường” như các luận điệu thù địch rêu rao, mà là biểu hiện sinh động của bản lĩnh chính trị, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong bối cảnh thế giới đa cực, đa trung tâm.

NHÂN DANH “NHÂN QUYỀN” ĐỂ BÓP MÉO SỰ THẬT- CHIÊU TRÒ CŨ RÍCH

 

Mới đây, trên Vietnamthoibao có một nhóm người mang danh “phóng viên độc lập” của Việt Nam thời báo dẫn nguồn HRW tung ra các cáo buộc quen thuộc về cái gọi là “đàn áp bất đồng chính kiến” ở Việt Nam nhân dịp Đại hội XIV của Đảng. Thoạt nhìn thì có vẻ “nhân văn”, đọc kỹ mới thấy đầy rẫy định kiến, cắt ghép và suy diễn có chủ ý. Vấn đề không phải là họ nói nhiều, mà là họ nói sai – và nói sai có hệ thống.

1. Ở Việt Nam không có “đàn áp chính kiến” mà chỉ có xử lý hành vi vi phạm pháp luật

Luận điệu chính của nhóm Phóng viên Việt Nam thời báo trong bài viết là: Việt Nam “gia tăng bắt bớ các nhà hoạt động dân chủ, blogger độc lập” trước Đại hội Đảng, nhằm “bịt miệng” tiếng nói phê phán. Đây là một sự đánh tráo khái niệm có chủ đích.

Ở Việt Nam cũng như ở mọi quốc gia có chủ quyền, tự do ngôn luận không đồng nghĩa với quyền đứng trên pháp luật. Các trường hợp bị xử lý hình sự mà bài viết nêu, từ Hoàng Thị Hồng Thái đến Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài…, đều không bị bắt vì “suy nghĩ trong đầu” hay “ý kiến cá nhân”, mà vì hành vi cụ thể: sản xuất, phát tán thông tin có nội dung xuyên tạc, vu khống, kêu gọi chống Nhà nước, gây hoang mang xã hội, vi phạm các điều khoản rõ ràng của Bộ luật Hình sự, đặc biệt là Điều 117 và 331.

CƠ CHẾ ĐẢNG LÃNH ĐẠO – SỰ THỐNG NHẤT GIỮA HIẾN PHÁP, PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

 

Trên trang Baotiengdan, Trương Nhân Tuấn đăng bài viết “Tính chính danh và sự mâu thuẫn pháp lý trong cơ chế vận hành của Đảng CSVN” nhằm, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; khi cho rằng các quyết định nhân sự về cấp cao và đường lối quốc gia thường được quyết định trong các hội nghị kín của Đảng, trước khi được hợp thức hoá bởi cơ quan nhà nước. Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái, phản động cần phải phê phán, bác bỏ.

CƠ CHẾ ĐẢNG LÃNH ĐẠO – SỰ THỐNG NHẤT GIỮA HIẾN PHÁP, PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

 

Trên trang Baotiengdan, Trương Nhân Tuấn đăng bài viết “Tính chính danh và sự mâu thuẫn pháp lý trong cơ chế vận hành của Đảng CSVN” nhằm, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; khi cho rằng các quyết định nhân sự về cấp cao và đường lối quốc gia thường được quyết định trong các hội nghị kín của Đảng, trước khi được hợp thức hoá bởi cơ quan nhà nước. Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái, phản động cần phải phê phán, bác bỏ.

Một là, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là tất yếu khách quan, được quy định trong Hiến pháp.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương; Nhà nước thể chế hóa và tổ chức thực hiện bằng pháp luật, chính sách; Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và gián tiếp. Các quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước không phải là sản phẩm của sự áp đặt chủ quan hay “thỏa thuận ngầm”, mà được nghiên cứu công phu, tổng kết thực tiễn sâu sắc và lấy ý kiến rộng rãi trong Đảng và trong xã hội. Các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, các luật quan trọng đều được công bố để Nhân dân góp ý, phản biện trước khi ban hành.  Cơ chế đó bảo đảm sự thống nhất giữa định hướng chính trị và tổ chức thực thi, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội.Trên cơ sở đó, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục thảo luận, quyết định theo đúng trình tự hiến định và pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và khả thi. Đây chính là biểu hiện sinh động của dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong đó quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và được thực hiện thông qua các thiết chế đại diện hợp pháp. Các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước đều do Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc phê chuẩn theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Việc Đảng giới thiệu nhân sự là thực hiện vai trò lãnh đạo chính trị, bảo đảm sự thống nhất trong định hướng phát triển đất nước và sự ổn định của hệ thống chính trị, hoàn toàn không phải là sự áp đặt hay “hợp thức hóa hình thức”.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, THÙ ĐỊCH SAU ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG

 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa định hướng chiến lược đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, cũng như các kỳ Đại hội trước, ngay sau Đại hội XIV thành công rất tốt đẹp, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phản động lại gia tăng hoạt động chống phá bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, tung ra các luận điệu xuyên tạc về kết quả Đại hội, công tác nhân sự, đường lối phát triển đất nước và vai trò lãnh đạo của Đảng. Việc nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn và kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái đó là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân.

1. Nhận diện và làm rõ thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch

Trước hết, các thế lực thù địch thường lợi dụng việc phân tích Đại hội XIV để xuyên tạc nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Chúng cố tình bóp méo quá trình chuẩn bị Đại hội, công tác nhân sự cấp cao, quy chụp rằng các quyết định quan trọng được “áp đặt”, “thiếu minh bạch” hoặc là kết quả của “đấu đá phe phái”. Đây là thủ đoạn cũ nhưng được “khoác áo mới” bằng những từ ngữ tưởng chừng khách quan, học thuật, nhằm đánh lừa một bộ phận công chúng thiếu thông tin đầy đủ.

Hai là, các đối tượng chống phá phủ nhận tính chính danh và vai trò lãnh đạo của Đảng, cho rằng Đảng không còn đại diện cho lợi ích của Nhân dân, từ đó kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Chúng cố tình tách rời Đảng khỏi Nhân dân, phủ nhận mối quan hệ máu thịt đã được lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh bằng thực tiễn đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, trên lĩnh vực kinh tế – xã hội, các luận điệu xuyên tạc thường phiến diện hóa những khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển, đặc biệt là tác động của bối cảnh thế giới phức tạp, biến động khó lường, để quy kết sai trái rằng đường lối phát triển do Đại hội XIV đề ra là “không khả thi”, “mang tính khẩu hiệu”. Chúng cố tình né tránh hoặc phủ nhận những thành tựu to lớn, toàn diện mà đất nước đã đạt được, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan trong xã hội.

Có thể thấy, điểm chung của các thủ đoạn này là lập lờ đánh lận bản chất vấn đề, trộn lẫn đúng – sai, thật – giả, sử dụng thông tin một chiều nhằm gây nhiễu loạn nhận thức, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ – NỀN TẢNG CHO ĐỐI NGOẠI VÀ HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM

 

Trên trang Baotiengdan, bút danh Hoàng Trường đăng tải bài viết “Đại hội XIV của Đảng và nghịch lý đối ngoại của Việt Nam trong kỷ nguyên an ninh hóa”. Với giọng điệu có vẻ phân tích học thuật nhưng thực chất Hoàng Trương công kích, phủ nhận đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ. Luận điệu sai trái này cần được vạch trần và bác bỏ.

1. Ổn định chính trị – xã hội là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho đối ngoại và hội nhập quốc tế

Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội, đặc biệt trong các văn kiện gần đây, đều khẳng định rõ: Giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh: “Giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia”; đồng thời xác định: “Đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc; kiên định độc lập, tự chủ; chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; kết hợp chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế…”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa nội trị và ngoại giao, giữa sức mạnh bên trong và vị thế bên ngoài của quốc gia với tư tưởng nổi tiếng: “trong ấm, ngoài êm”. Muốn làm bạn với thế giới, trước hết phải giữ vững độc lập, chủ quyền, giữ vững kỷ cương, trật tự trong nước. Tuy nhiên, Hoàng Trường lại xuyên tạc rằng Việt Nam “an ninh hóa” đời sống chính trị để duy trì ổn định, từ đó cản trở hội nhập. Đây thực chất là sự đánh tráo giữa bảo đảm an ninh quốc gia với việc hạn chế hội nhập, nhằm tạo ra nhận thức sai lệch rằng ổn định chính trị là lực cản của phát triển và đối ngoại.

HÃY NHÌN THẲNG VÀO SỰ THẬT Ở VIỆT NAM ĐỂ THẤY ĐIỀU TÍCH CỰC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

 

Trên trang Vietnamthoibao, Hoàng Hồng Thái đăng bài “Một góc nhìn về sự phát triển ở Việt Nam CS!!!” với loạt câu hỏi mỉa mai về “hạnh phúc”, “quyền con người”, “tiếng nói của Nhân dân”. Đây là thủ pháp ngụy biện quen thuộc nhằm gieo rắc hoài nghi, phủ nhận hiện thực phát triển của Việt Nam và bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Những câu hỏi mang tính quy chụp, cảm tính này cố tình né tránh các bằng chứng pháp lý, thực tiễn sinh động và sự ghi nhận ngày càng rõ ràng của cộng đồng quốc tế, qua đó bóp méo bản chất chế độ. Trước các luận điệu xuyên tạc đó, câu trả lời dứt khoát và thuyết phục nhất chỉ có một: Hãy nhìn thẳng vào sự thật khách quan ở Việt Nam hôm nay.

1. Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Điều 3, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đã được quốc tế đánh giá khách quan. Tại phiên họp toàn thể Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 14/10/2025 đã bầu 14 nước thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 – 2028 gồm Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan, Iraq, Ai Cập, Nam Phi, Mauritius, Angola, Estonia, Slovenia, Chile, Ecuador, Italy và Anh. Việt Nam đạt 180 phiếu ủng hộ, cao nhất trong nhóm châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời là nước châu Á-Thái Bình Dương duy nhất là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025 tái đắc cử nhiệm kỳ 2026 – 2028. Việc Việt Nam tái đắc cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 – 2028 là sự ghi nhận xứng đáng của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người. Đó cũng là minh chứng rõ ràng, ở Việt Nam, con người luôn được tôn trọng và được bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân. Đồng thời chứng tỏ uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong việc tham gia các cơ chế đa phương về nhân quyền.

2. Mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định quan điểm “dân là gốc”, coi người dân là thước đo của mọi quyết sách, lấy hạnh phúc của người dân làm mục tiêu, làm chuẩn mực đánh giá, trong mọi công việc, phải luôn đặt lợi ích chung của Đảng, của nhân dân lên trên hết. Người dân tham gia giám sát và người dân thụ hưởng thành quả phát triển.