
Trên nhiều diễn đàn phản động xuất hiện bài viết “Cải cách chống tham nhũng: Động lực cải cách hay giới hạn cấu trúc?” của Vũ Đức Khanh với nhiều nhận định mang tính suy diễn, phiến diện nhằm phủ nhận những thành tựu và nỗ lực của Việt Nam trong công tác phòng, chống tham nhũng. Y trắng trợn cho rằng, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam còn tồn tại nhiều “khoảng trống bảo hiến và ràng buộc pháp lý chưa hoàn chỉnh”, “giám sát xã hội là mắt xích còn thiếu”. Tuy nhiên, thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta là bằng chứng đanh thép, phủ nhận hoàn toàn những luận điệu sai trái đó.
Thứ nhất, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam được triển khai trên cơ sở chính trị – pháp lý vững chắc.
Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã xác lập đầy đủ nền tảng hiến định cho việc kiểm soát quyền lực nhà nước và phòng, chống tham nhũng. Điều 2 quy định quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là cơ chế quan trọng nhằm ngăn ngừa lạm quyền, tha hóa quyền lực – nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tham nhũng. Điều 8 của Hiến pháp cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong việc chịu sự giám sát của Nhân dân và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Những quy định này cho thấy không hề tồn tại cái gọi là “khoảng trống bảo hiến” như các đối tượng chống đối cố tình xuyên tạc.
Trên cơ sở các nguyên tắc hiến định, hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng không ngừng được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cùng các văn bản hướng dẫn đã thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực toàn diện thông qua các quy định về công khai, minh bạch, kê khai và kiểm soát tài sản, thu nhập, kiểm soát xung đột lợi ích, trách nhiệm giải trình và xử lý các hành vi tham nhũng. Đồng thời, các luật như Luật Thanh tra, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Tố cáo, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã tạo nên hành lang pháp lý thống nhất, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng.
Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống tham nhũng. Chỉ riêng năm 2025, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành hơn 130 văn bản về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; các bộ, ngành, địa phương ban hành, sửa đổi gần 12.000 văn bản phục vụ quản lý kinh tế – xã hội và kiểm soát quyền lực. Những kết quả đó thể hiện quyết tâm chính trị rất cao trong xây dựng cơ chế “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng”, “không muốn tham nhũng”, hoàn toàn trái ngược với luận điệu cho rằng Việt Nam thiếu cơ sở pháp lý hoặc buông lỏng kiểm soát quyền lực.
Thứ hai, giám sát xã hội đã và đang phát huy vai trò quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng.
Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của đất nước; đồng thời có quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhân dân tham gia giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, phát hiện và đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực.
Thực tế cho thấy nhiều vụ việc tham nhũng, sai phạm nghiêm trọng đã được phát hiện từ đơn thư tố cáo, phản ánh của người dân hoặc thông tin do quần chúng cung cấp cho các cơ quan chức năng. Điều này khẳng định giám sát xã hội không phải là “mắt xích còn thiếu” mà đã trở thành một kênh quan trọng trong phát hiện, ngăn chặn và xử lý tham nhũng.
Cùng với vai trò của Nhân dân, hệ thống giám sát thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội ngày càng được phát huy hiệu quả. Pháp luật hiện hành trao cho Mặt trận Tổ quốc quyền giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên. Thông qua các chương trình giám sát chuyên đề, hoạt động tiếp xúc cử tri, lấy ý kiến Nhân dân và phản biện chính sách, Mặt trận đã kịp thời phát hiện nhiều bất cập trong quản lý, kiến nghị xử lý các biểu hiện vi phạm.
Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị – xã hội như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng tích cực tham gia giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên và Nhân dân. Có thể thấy, cơ chế giám sát xã hội ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện cả về cơ sở pháp lý và phương thức tổ chức thực hiện, tạo điều kiện để người dân tham gia sâu rộng vào công tác phòng, chống tham nhũng.
Tóm lại, những luận điệu mà Vũ Đức Khanh đưa ra chỉ là sự suy diễn, bóp méo thực tế nhằm phủ nhận những kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, gieo rắc tâm lý hoài nghi và làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao cảnh giác, nhận diện đúng bản chất của các luận điệu xuyên tạc, chủ động đấu tranh, phản bác các thông tin sai trái trên không gian mạng và các phương tiện truyền thông; giữ vững niềm tin và bảo vệ thành quả của công cuộc phòng, chống tham nhũng và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét