
Thứ nhất, không thể lấy những hạn chế trong quá trình vận hành để phủ nhận chủ trương tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy
Một trong những điểm cần nhấn mạnh là Kết luận 76-KL/TW không hề né tránh những khó khăn, bất cập phát sinh trong quá trình triển khai mô hình mới. Trung ương đã thẳng thắn đánh giá kết quả, chỉ ra những hạn chế liên quan đến thể chế, phân cấp, phân quyền, nguồn lực, đội ngũ cán bộ, chuyển đổi số và năng lực thực thi, nhất là ở cấp cơ sở. Đồng thời, Kết luận xác định rõ yêu cầu tiếp tục hoàn thiện, “tinh chỉnh” mô hình để bảo đảm hoạt động thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Điều đó cho thấy đây là một quá trình đổi mới có kiểm nghiệm thực tiễn, có tổng kết, đánh giá và điều chỉnh, chứ không phải một mô hình được áp đặt cứng nhắc. Vì vậy, việc lấy một số khó khăn, vướng mắc trong giai đoạn chuyển tiếp để kết luận rằng “bộ máy không phải để phục vụ người dân mà để cai trị” là cách suy diễn thiếu căn cứ.
Mọi cuộc cải cách tổ chức quy mô lớn đều có thể phát sinh những vấn đề cần xử lý. Khi địa giới, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, nhân sự và phương thức vận hành được sắp xếp lại, việc xuất hiện những điểm chưa đồng bộ trong thời gian đầu là điều cần được nhận diện để khắc phục. Vấn đề quan trọng không phải là bộ máy có còn hạn chế hay không, mà là hệ thống có nhìn thẳng vào hạn chế, xác định nguyên nhân và có giải pháp khắc phục hay không. Kết luận 76-KL/TW chính là minh chứng rõ cho quá trình đó.
Đáng chú ý, luận điệu cho rằng việc sắp xếp bộ máy “tạo cơ hội để tham nhũng vặt phát triển” đã cố tình đảo ngược bản chất của chủ trương. Tinh gọn tổ chức, giảm tầng nấc trung gian, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình không phải để dung dưỡng tiêu cực, mà nhằm khắc phục những khoảng trống, chồng chéo và cơ chế xin – cho có thể phát sinh tiêu cực. Nếu ở đâu còn tình trạng nhũng nhiễu, tham nhũng, tiêu cực thì phải xác định rõ trách nhiệm, tăng cường kiểm tra, giám sát, hoàn thiện thể chế và xử lý nghiêm vi phạm. Không thể vì một số vụ việc hoặc biểu hiện tiêu cực mà quy kết thành bản chất của toàn bộ bộ máy nhà nước. Đây là phép suy luận đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, giữa sai phạm cá biệt và mục tiêu của một chủ trương cải cách.
Mục tiêu của việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy không phải để duy trì một hệ thống cồng kềnh, mà hướng tới xây dựng bộ máy tinh, gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; sử dụng nguồn lực hợp lý hơn và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Vì vậy, đánh giá chủ trương phải dựa trên mục tiêu, phương thức tổ chức, kết quả thực tế và quá trình hoàn thiện, chứ không thể chỉ dựa vào những khó khăn nhất thời để phủ nhận toàn bộ.
Một thủ pháp khác trong bài viết “Vươn mình hay thu mình” là gắn những khó khăn trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy với cái gọi là “đấu đá nội bộ trong Đảng”, từ đó hướng tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là sự suy diễn chủ quan, thiếu căn cứ.
Trong bất kỳ quá trình đổi mới nào, việc xuất hiện những quan điểm khác nhau, những vấn đề cần điều chỉnh hoặc thậm chí những biểu hiện cục bộ ở một số nơi là điều có thể xảy ra. Nhưng không thể lấy những hiện tượng đó để quy kết toàn bộ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thành “đấu đá nội bộ”. Muốn đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng phải căn cứ vào năng lực hoạch định đường lối, tổ chức thực hiện, tổng kết thực tiễn, nhận diện vấn đề và điều chỉnh chính sách. Kết luận 76-KL/TW thể hiện rõ năng lực đó. Sau thời gian triển khai mô hình mới, Trung ương tiến hành đánh giá thực tiễn, chỉ ra những mặt làm được, những hạn chế, nguyên nhân và xác định các nhiệm vụ, giải pháp tiếp theo. Đây chính là biểu hiện của năng lực tự đổi mới, tự điều chỉnh và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, chứ không phải bằng chứng của sự “bất ổn” hay “đấu đá” như cách quy chụp.
Cũng cần khẳng định, tinh gọn bộ máy không đồng nghĩa với làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng; đổi mới không đồng nghĩa với phủ nhận chế độ; cải cách tổ chức không đồng nghĩa với làm giảm quyền làm chủ của Nhân dân. Ngược lại, đổi mới phương thức lãnh đạo, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả quản trị là yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước trong điều kiện mới.
Không thể đặt ra một sự lựa chọn giả tạo rằng muốn “vươn mình” thì phải phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, còn tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đồng nghĩa với “thu mình”. Thực tiễn đổi mới của Việt Nam cho thấy hai yêu cầu đó không đối lập. Vấn đề cốt lõi là phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền lực, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Kết luận số 76-KL/TW vì vậy cần được nhìn nhận đúng với bản chất là bước tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức và phương thức vận hành của hệ thống chính trị trên cơ sở tổng kết thực tiễn. Việc Trung ương đồng thời khẳng định những kết quả đạt được, thẳng thắn chỉ ra hạn chế và đề ra giải pháp khắc phục cho thấy tinh thần thực tế, cầu thị và trách nhiệm.
Tóm lại, đổi mới tổ chức bộ máy là để bộ máy hoạt động tốt hơn; tinh gọn là để sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn; phân cấp, phân quyền là để nâng cao trách nhiệm và tính chủ động; kiểm soát quyền lực là để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; và mục tiêu cuối cùng là xây dựng hệ thống chính trị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn. Đó mới là bản chất cần được nhận thức đầy đủ của Kết luận 76-KL/TW, không như luận điệu xuyên tạc của Lý Trần./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét