Trên trang Vietnamthoibao xuất hiện bài viết “Tự do là gì và nó đáng giá thế nào?” của Nhật Ngôn. Với cái nhìn phiến diện, Y viện dẫn những quan điểm của Viktor Frankl, Immanuel Kant, Benjamin Franklin về quyền tự do tư tưởng, ngôn luận để xuyên tạc, phủ nhận thực tiễn về quyền tự do ở Việt Nam.
Thứ nhất, không thể đồng nhất tự do với quyền hành động theo ý chí cá nhân
Mặc dù thừa nhận tự do không phải là “muốn gì làm nấy”, mà phải gắn với lý trí và trách nhiệm; trước khi hành động, con người phải cân nhắc sự phù hợp với đạo đức và pháp luật. Nhưng nguyên tắc đúng ấy lại không được nhất quán trong phần lập luận của Nhật Ngôn khi phân biệt “Freedom” tự do nội tại, tự do tư tưởng, ý chí với “Liberty” tự do bên ngoài, trong đó có tự do về quan điểm chính trị, cách sống, tài sản. Đây không thể là thước đo duy nhất để phán xét tự do của mọi quốc gia. Bởi, tự do của con người bao giờ cũng tồn tại trong đời sống xã hội. Cá nhân không sống tách khỏi cộng đồng; quyền của người này luôn có quan hệ với quyền của người khác. Vì vậy, mọi nền pháp luật đều phải xác lập những giới hạn nhất định đối với việc thực hiện quyền, nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, cộng đồng và quốc gia.
Không ai có quyền nhân danh tự do ngôn luận để vu khống, bịa đặt, xúc phạm người khác. Không thể nhân danh tự do hành động để xâm phạm tài sản của cá nhân, tổ chức, quốc gia. Không thể nhân danh tự do chính trị để kích động bạo lực, phá hoại trật tự an toàn xã hội hoặc xâm phạm lợi ích quốc gia. Nếu phủ nhận những giới hạn đó thì “tự do” sẽ bị biến thành sự tùy tiện, còn quyền cá nhân bị đẩy lên thành đặc quyền đứng trên pháp luật.
Tự do phải gắn với khả năng tự làm chủ và hành động theo lý trí, không phải làm nô lệ cho ham muốn. Vì vậy, không thể vừa đề cao lý trí và trách nhiệm, vừa sử dụng một quan niệm gần với “tự do tuyệt đối” để phủ nhận vai trò của pháp luật và những giới hạn cần thiết trong đời sống xã hội. Cũng không thể lấy một số quan niệm, thiết chế hoặc kinh nghiệm chính trị của phương Tây làm chuẩn mực duy nhất cho toàn thế giới. Tự do là giá trị phổ quát, nhưng cách thức bảo đảm và thực hiện tự do luôn gắn với điều kiện lịch sử, pháp luật, văn hóa và thể chế của mỗi quốc gia. Phổ quát không có nghĩa là đồng nhất.
Thứ hai, từ tuyệt đối hóa tự do đến phủ nhận thực tiễn Việt Nam là một bước suy diễn thiếu căn cứ của Nhật Ngôn.
Cần hiểu rằng, một xã hội còn tồn tại những vấn đề cần khắc phục không có nghĩa xã hội đó không có tự do. Một hành vi bị pháp luật xử lý không đồng nghĩa với việc quyền tự do bị phủ nhận. Muốn đánh giá một quốc gia có bảo đảm quyền hay không phải xem xét đầy đủ hệ thống pháp luật, cơ chế thực thi, thiết chế bảo vệ quyền, điều kiện kinh tế – xã hội và thực tiễn đời sống, chứ không thể chỉ dựa vào một vài hiện tượng rồi suy diễn thành bản chất của cả chế độ. Cách đặt câu hỏi: người dân có được tự do suy nghĩ, thể hiện chính kiến, phản biện công khai hay không; có thực sự làm chủ cuộc sống, tài sản, đất đai hay không; rồi đặt vấn đề con người sẽ “im lặng hay đứng lên hành động”, cho thấy, Nhật Ngôn vừa không biết về thực tiễn Việt Nam, vừa không biết phân biệt giữa quyền tự do và hành vi lợi dụng quyền tự do; giữa phản biện chính sáchvà phủ nhận thể chế; giữa thực hiện quyền công dân và vi phạm pháp luật.
Ở Việt Nam quyền con người, quyền công dân và các quyền tự do khác được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật và được bảo đảm trên thực tế, điều này không chỉ người dân Việt Nam cảm nhận được và được bảo đảm thực hiện trong đời sống xã hội, mà còn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền ấy phải gắn với nghĩa vụ, trách nhiệm và lợi ích chung của đất nước, và xã hội. Trong quá trình phát triển, những cơ chế bảo đảm quyền tự do tiếp tục được hoàn thiện. Lịch sử cho thấy mỗi dân tộc có quyền lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình và xu thế của thời đại. Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một vấn đề thuộc quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, không thể vì thế mà tùy ý suy diễn chủ quan rồi đi đến phủ nhận thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm các quyền tự do. Tự do thực sự không đối lập với kỷ cương. Dân chủ không đối lập với pháp luật. Quyền con người không đứng ngoài chủ quyền quốc gia. Ngược lại, pháp luật, kỷ cương và ổn định chính trị – xã hội là những điều kiện quan trọng để quyền tự do được bảo đảm và thực hiện trên thực tế.
Tóm lại, tự do đáng quý, nhưng tự do không phải đặc quyền đứng trên pháp luật. Dân chủ đáng trân trọng, nhưng dân chủ không phải cái cớ để phủ nhận lợi ích quốc gia, dân tộc. Nhân quyền có giá trị phổ quát, nhưng không thể bị biến thành công cụ áp đặt mô hình chính trị từ bên ngoài. Nhận thức đúng về tự do cũng chính là cách bảo vệ tự do khỏi sự xuyên tạc. Và đấu tranh với những luận điệu đánh tráo khái niệm về tự do không phải là phủ nhận tự do, mà là bảo vệ bản chất chân chính, trách nhiệm và nhân văn của chính giá trị ấy./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét