Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

GIÁO DỤC VIỆT NAM KHÔNG ÁP ĐẶT MỘT KHUÔN MẪU THÀNH CÔNG

 

Bài viết “Đừng dạy trẻ thích nghi với một xã hội không tử tế” của Trung Ngôn đăng trên Baotiengdan nêu một số vấn đề như áp lực điểm số, bệnh thành tích, chạy đua trường lớp và kỳ vọng quá mức đối với trẻ em. Tuy nhiên, từ những hiện tượng còn tồn tại trong thực tiễn, tác giả quy kết giáo dục Việt Nam “ép tất cả trẻ em đi về cùng một hướng”, “giáo dục vì thành tích chứ không vì con người”. Cách nhìn này phiến diện, đánh đồng hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện với bản chất, mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam.

Thứ nhất, không thể từ một số biểu hiện lệch lạc để quy kết giáo dục Việt Nam “ép tất cả trẻ em đi về cùng một hướng”.

Về lý luận, giáo dục là quá trình hình thành và phát triển con người, nhằm giúp mỗi cá nhân phát triển phẩm chất, năng lực, phát huy tiềm năng và chuẩn bị khả năng thích ứng với đời sống xã hội. Một nền giáo dục tiến bộ không thể tạo ra một khuôn mẫu thành công duy nhất cho mọi người, bởi mỗi cá nhân có năng lực, sở trường, hoàn cảnh và định hướng khác nhau. Do đó, mục tiêu của giáo dục Việt Nam không phải buộc mọi trẻ em phải có cùng một lựa chọn về học tập, nghề nghiệp hay cách thức thành công.

Quan điểm đó được thể hiện trong chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng, Nhà nước. Giáo dục hướng tới phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học; chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển khả năng vận dụng kiến thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề và thích ứng. Chương trình giáo dục phổ thông mới cũng chú trọng cá thể hóa quá trình học tập, tăng cường hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và tạo điều kiện để học sinh phát huy sở trường.

Thực tiễn hệ thống giáo dục hiện nay cho thấy người học có nhiều con đường phát triển khác nhau. Bên cạnh giáo dục phổ thông và đại học, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và nhiều hình thức đào tạo linh hoạt ngày càng được quan tâm. Học sinh có thể lựa chọn học thuật, kỹ thuật, nghề nghiệp hoặc những lĩnh vực phù hợp với năng lực và điều kiện của bản thân. Thành công vì thế không chỉ được đo bằng điểm số, bằng cấp hay việc vào một trường đại học danh tiếng.

Nếu ở một số nơi còn tình trạng chạy theo điểm số, sính bằng cấp, ép học hoặc đặt kỳ vọng quá mức đối với trẻ em thì đó là những vấn đề cần được nhận diện và khắc phục. Nhưng không thể lấy những biểu hiện đó làm căn cứ để phủ nhận mục tiêu và định hướng chung của nền giáo dục. Cần phân biệt rõ bản chất, mục tiêu của chính sách giáo dục với những hạn chế trong quá trình thực hiện.

Thứ hai, phê phán bệnh thành tích là cần thiết, nhưng không thể vì thế phủ nhận tính nhân văn và những đổi mới của giáo dục Việt Nam.

Không thể phủ nhận áp lực học tập, bệnh thành tích, chạy đua trường lớp hay tâm lý coi trọng điểm số vẫn tồn tại ở một bộ phận nhà trường, gia đình và xã hội. Đây là những vấn đề thực tế cần tiếp tục giải quyết. Tuy nhiên, từ đó kết luận giáo dục Việt Nam “vì thành tích chứ không vì con người” là sự suy diễn thiếu căn cứ. Đánh giá một nền giáo dục phải dựa trên mục tiêu, chính sách, phương thức tổ chức và kết quả tổng thể, không thể chỉ nhìn vào một số hiện tượng tiêu cực.

Trên thực tế, giáo dục Việt Nam ngày càng được đặt trong chiến lược phát triển con người. Các chính sách phổ cập giáo dục, hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giáo dục hòa nhập, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho các nhóm yếu thế thể hiện rõ mục tiêu bảo đảm quyền học tập và tạo cơ hội phát triển cho mọi người. Nội dung giáo dục cũng ngày càng chú trọng đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, thể chất, thẩm mỹ, ý thức công dân và trách nhiệm xã hội, chứ không chỉ tập trung vào kiến thức và điểm số.

Cùng với đó, giáo dục nghề nghiệp, STEM, chuyển đổi số, hoạt động trải nghiệm và hướng nghiệp đang mở rộng không gian phát triển cho người học. Những thay đổi này cho thấy quan niệm về thành công trong giáo dục đang chuyển theo hướng toàn diện hơn: coi trọng năng lực, khả năng sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng thích ứng và đóng góp cho cộng đồng. Cũng cần nhìn nhận, rằng áp lực học tập và tâm lý chạy đua bằng cấp chịu tác động từ nhiều yếu tố: kỳ vọng của gia đình, môi trường xã hội, nhu cầu thị trường lao động và tâm lý coi trọng bằng cấp. Vì vậy, giải quyết vấn đề không thể chỉ quy trách nhiệm cho nhà trường hay ngành giáo dục, mà cần sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

Giáo dục Việt Nam vẫn cần tiếp tục đổi mới để giảm áp lực không cần thiết, hạn chế bệnh thành tích, đổi mới kiểm tra, đánh giá và tạo môi trường học tập lành mạnh, tôn trọng sự khác biệt của người học. Nhưng đổi mới không đồng nghĩa với phủ nhận sạch trơn. Phê phán những hạn chế để giáo dục tiến bộ hơn là cần thiết; song lấy một số hiện tượng tiêu cực để quy kết bản chất của cả nền giáo dục là cách nhìn phiến diện, thiếu khách quan.

Trẻ em cần được tôn trọng, được phát triển theo năng lực và có cơ hội lựa chọn con đường phù hợp với mình. Đó cũng chính là hướng mà giáo dục Việt Nam đang từng bước hướng tới. Vì vậy, thay vì gán ghép giáo dục Việt Nam “ép tất cả trẻ em đi về cùng một hướng”, cần nhìn nhận đầy đủ cả những kết quả, những đổi mới và những vấn đề đang được khắc phục. Phê phán đúng để xây dựng giáo dục tốt hơn là cần thiết; nhưng phủ nhận toàn bộ nền giáo dục từ những hạn chế cục bộ là không phù hợp với lý luận và thực tiễn, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét