Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

TÌNH YÊU TỔ QUỐC KHÔNG ĐỐI LẬP VỚI VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 


Trên trang blog Tiếng Dân đăng bài “Tổ quốc trong tim – Hay một đảng trong tim?”, đặt vấn đề về lòng yêu nước và mối quan hệ giữa tình cảm với Tổ quốc với sự ủng hộ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài viết cho rằng người Việt Nam có thể yêu nước nhưng không nhất thiết ủng hộ Đảng lãnh đạo, đồng thời cổ xúy các quan điểm đa đảng, “tam quyền phân lập”, qua đó tạo cách nhìn đối lập giữa Tổ quốc, Nhân dân với Đảng. Cách lập luận sai lệch này cần được nhìn nhận và bác bỏ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.

1. Không thể đối lập tình yêu Tổ quốc với vai trò lãnh đạo của Đảng; mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là một chỉnh thể thống nhất

Yêu nước là giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam, còn sự lãnh đạo của Đảng là vấn đề thuộc tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực chính trị. Hai vấn đề có quan hệ với nhau nhưng không thể bị giản lược thành một phép lựa chọn đối lập. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đồng thời, Hiến pháp xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Như vậy, trong khuôn khổ hiến định của Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng không đứng ngoài Tổ quốc và Nhân dân, mà được đặt trong mục tiêu bảo vệ độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia – dân tộc và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân.

Điểm cốt lõi của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” là sự phân định chức năng trong một chỉnh thể thống nhất, chứ không phải sự thay thế hay triệt tiêu lẫn nhau. Đảng định hướng bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương và phương thức lãnh đạo phù hợp; Nhà nước thể chế hóa, tổ chức thực hiện và quản lý xã hội bằng pháp luật; Nhân dân là chủ thể của quyền lực, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển. Các nghiên cứu chính trị gần đây cũng nhấn mạnh sự thống nhất giữa ba thành tố này vì mục tiêu chung, đồng thời chỉ rõ yêu cầu phải bảo đảm đúng chức năng, trách nhiệm của từng chủ thể. Do đó, lập luận “yêu nước thì có thể chống Đảng” đã tạo ra một sự đối lập giả tạo. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, yêu nước không đồng nghĩa với đồng nhất mọi chủ trương, chính sách hoặc hành động của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào với lợi ích quốc gia. Người dân có quyền góp ý, phản biện, giám sát, phê bình những hạn chế, bất cập trong quản lý và thực thi quyền lực. Nhưng từ quyền góp ý, phản biện chính sách đến phủ nhận nền tảng hiến định và kích động đối lập Đảng với Tổ quốc là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Chính yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, nâng cao hiệu lực quản lý và phát huy dân chủ cho thấy cơ chế hiện hành không phủ nhận phản biện, mà đòi hỏi phản biện phải hướng tới hoàn thiện chế độ và phục vụ lợi ích của Nhân dân.

2. Thực tiễn lịch sử và đổi mới chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng gắn với lợi ích dân tộc, đồng thời bác bỏ cách nhìn muốn tách Đảng khỏi Tổ quốc và Nhân dân

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn gắn với vai trò tổ chức, lãnh đạo của Đảng. Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, vai trò lãnh đạo của Đảng được thực hiện trong mối quan hệ với Nhà nước và Nhân dân. Đặc biệt, thành tựu của công cuộc đổi mới cho thấy sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại đã tạo điều kiện để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân và vị thế quốc tế của Việt Nam.

Tuy nhiên, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng không có nghĩa phủ nhận những hạn chế, khuyết điểm trong tổ chức và vận hành hệ thống chính trị. Thực tế còn những vấn đề về quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chất lượng cán bộ, hiệu lực quản lý và việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Chính các hạn chế đó đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng Nhà nước pháp quyền, kiểm soát quyền lực, nâng cao trách nhiệm giải trình và phát huy dân chủ. Vì vậy, yêu cầu đúng đắn không phải là kích động “đối lập Đảng với Tổ quốc”, cũng không phải lấy mô hình chính trị của nước khác làm khuôn mẫu áp đặt cho Việt Nam, mà là tiếp tục hoàn thiện cơ chế để Đảng thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, Nhà nước quản lý có hiệu lực, pháp luật được thượng tôn và Nhân dân thực sự làm chủ. Quan điểm cho rằng muốn yêu nước phải lựa chọn giữa “Tổ quốc” và “một đảng” đã bỏ qua chính đặc điểm của mô hình chính trị Việt Nam: Đảng, Nhà nước và Nhân dân có những vị trí, chức năng khác nhau nhưng cùng hướng tới lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân.

Tóm lại, cần bác bỏ cách đặt vấn đề “Tổ quốc trong tim hay một đảng trong tim?” như một sự lựa chọn bắt buộc. Tổ quốc là giá trị thiêng liêng, là lợi ích tối cao của cộng đồng dân tộc; còn vai trò lãnh đạo của Đảng là một thành tố của thể chế chính trị đã được xác lập trong Hiến pháp và được kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng, đổi mới của Việt Nam. Lòng yêu nước chân chính không đòi hỏi con người phải im lặng trước khuyết điểm; trái lại, yêu nước phải gắn với trách nhiệm xây dựng, bảo vệ và làm cho đất nước ngày càng phát triển. Phê bình, góp ý và giám sát để hệ thống chính trị hoạt động tốt hơn là cần thiết; nhưng xuyên tạc, chia rẽ Đảng với Nhân dân, đối lập Đảng với Tổ quốc và kích động chuyển hóa thể chế là một hướng đi hoàn toàn khác. Không thể nhân danh lòng yêu nước để biện minh cho quan điểm sai lệch đó./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét