Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, Việt Nam Quốc dân Đảng đã tán phát trên không gian mạng bài viết Tuyên cáo về Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị Đảng cộng Sản Việt Nam về công tác người Việt Nam ở nước ngoài,cho rằng Đảng, Nhà nước thực hiện chính sách đối với kiều bào nhằm “trục lợi chính trị”, “tận thu kiều hối”, coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài chủ yếu như một nguồn tiền để khai thác. Đây là cách diễn giải cố tình bóp méo bản chất của Nghị quyết, đánh tráo mục tiêu chính trị – xã hội với lợi ích kinh tế thuần túy, qua đó gieo rắc tâm lý nghi ngờ, đối lập giữa đồng bào trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài.
Trước hết, luận điệu “trục lợi chính trị” đã cố tình đảo ngược bản chất của công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết 23-NQ/TW xác định rõ: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, đồng thời là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và trực tiếp đồng hành với sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm này được đặt trong tổng thể chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghị quyết nhấn mạnh không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xuất thân, địa vị xã hội; đề cao những điểm tương đồng, khơi dậy ý thức dân tộc, lòng yêu nước, niềm tự hào và khát vọng phát triển. Đảng, Nhà nước khẳng định tinh thần trân trọng, cầu thị, lắng nghe những ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt, nếu không phương hại đến lợi ích quốc gia – dân tộc; đồng thời đề cao hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Như vậy, nếu mục tiêu thực sự là “trục lợi chính trị” theo cách như luận điệu xuyên tạc của Việt Nam Quốc dân Đảng, thì không thể có một hệ quan điểm nhất quán về hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, lắng nghe ý kiến khác biệt và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài như Nghị quyết đã xác định.
Thứ hai, luận điệu “tận thu kiều hối” thiếu cơ sở cả về lý luận lẫn thực tiễn. Kiều hối trước hết là dòng tiền thuộc về cá nhân và gia đình, được chuyển về Việt Nam theo quyết định của người gửi, được sử dụng cho những mục đích hợp pháp của người nhận. Nhà nước không thể tùy ý biến toàn bộ lượng kiều hối thành nguồn thu ngân sách hay “thu giữ” nguồn tiền này. Chính thực tiễn dòng kiều hối vào Việt Nam cho thấy đây là nguồn lực xã hội được hình thành từ thu nhập của người Việt Nam ở nước ngoài, từ hỗ trợ thân nhân, tiết kiệm, đầu tư và các hoạt động kinh tế hợp pháp khác. Lượng kiều hối chuyển về cả nước năm 2025 đạt mức kỷ lục gần 18 tỷ USD, trong đó riêng tại TP. Hồ Chí Minh con số này vượt hơn 10,34 tỷ USD, tăng khoảng 8,3% so với năm 2024. Các nguồn chính gồm tiền kiều bào gửi hỗ trợ thân nhân và tiền của người Việt Nam lao động ở nước ngoài gửi về để đầu tư, tiết kiệm. Những con số này phản ánh quy mô của một nguồn lực kinh tế – xã hội quan trọng, nhưng hoàn toàn không phải bằng chứng cho cái gọi là “tận thu”. Nhà nước tạo điều kiện để nguồn lực được sử dụng hiệu quả, chứ không đồng nghĩa với việc biến nguồn lực tư nhân thành tài sản của Nhà nước.
Thứ ba, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với kiều bào trong những năm qua cho thấy một quá trình chuyển từ vận động, tập hợp sang đồng hành, kiến tạo cơ chế và phát huy nguồn lực. Đây chính là điểm mới được Nghị quyết 23-NQ/TW nhấn mạnh; đặt ra yêu cầu nâng tầm tư duy, tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn vào quá trình hội nhập, xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời khẳng định trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, bảo đảm an ninh, an toàn cho cộng đồng. Nếu chỉ nhằm “tận thu kiều hối”, tại sao Nghị quyết lại đặt trọng tâm vào việc phát huy tri thức, khoa học – công nghệ, đội ngũ chuyên gia, doanh nhân, mạng lưới quan hệ quốc tế, kinh nghiệm quản trị và các nguồn lực mềm của cộng đồng? Hơn nữa luận điệu “trục lợi chính trị” còn cố tình phủ nhận một thực tế quan trọng: quan hệ giữa Tổ quốc và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không thể chỉ được đo bằng tiền bạc. Kiều bào đóng góp cho đất nước bằng nhiều hình thức: đầu tư, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu khoa học, giáo dục, kết nối thị trường, thúc đẩy quan hệ đối ngoại, quảng bá văn hóa, hoạt động nhân đạo, thiện nguyện và tham gia các chương trình phát triển cộng đồng. Nghị quyết 23-NQ/TW đánh giá đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập tốt, giữ gìn bản sắc văn hóa, hướng về Tổ quốc và có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước. Bởi vậy, việc quy toàn bộ chính sách kiều bào thành một phép tính “tiền – đổi lấy chính trị” không chỉ sai về thực tiễn mà còn thể hiện cách nhìn phiến diện, thực dụng về quan hệ dân tộc. Mưu đồ dùnglợi ích kinh tế để phủ định tình cảm, trách nhiệm dân tộc; lấy một dòng nguồn lực để phủ nhận hệ thống chính sách đại đoàn kết và đối ngoại nhân dân là mưu đồ thấp hèn, không thể dung thứ.
Tóm lại, Nghị quyết 23-NQ/TW thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài: từ nhận thức về cộng đồng sang nhận thức về một nguồn lực chiến lược; từ vận động, tập hợp sang đồng hành, kiến tạo; từ xử lý quan hệ riêng lẻ sang củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Do đó, cần kiên quyết bác bỏ luận điệu cho rằng với Nghị quyết 23-NQ/TW, Đảng, Nhà nước đang “trục lợi chính trị”, “tận thu kiều hối”; đồng thời khẳng định nhất quán quan điểm phát huy nguồn lực của kiều bào phải được đặt trên nền tảng tôn trọng, đồng hành, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, củng cố niềm tin và tăng cường gắn bó giữa người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét