Trên trang Việt Tân đăng bài “Chuyện thật như bịa: Việt Cộng ‘tiếp đạn’ cho Việt Tân” của Trần Văn, xuyên tạc hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan chức năng Việt Nam, cho rằng việc xử lý một số cá nhân đang tạo điều kiện để Việt Tân vận động quốc tế gây sức ép đối với Việt Nam. Thực chất, bài viết đã đánh tráo giữa thực thi pháp luật với “đàn áp”, giữa người bị xử lý theo pháp luật với “nạn nhân nhân quyền”, qua đó tìm cách quốc tế hóa những vấn đề thuộc phạm vi pháp luật và thẩm quyền tư pháp của Việt Nam. Cách lập luận này cần được nhìn nhận khách quan trên cơ sở quyền con người, thượng tôn pháp luật và chủ quyền quốc gia.
Thứ nhất, gán việc Việt Nam xử lý hành vi vi phạm pháp luật thành “đàn áp xuyên quốc gia” là sự đánh tráo khái niệm, phủ nhận quyền chính đáng của một quốc gia có chủ quyền trong bảo vệ an ninh, trật tự và thực thi pháp luật.
Điểm thiếu thuyết phục trong lập luận của Trần Văn là đồng nhất việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ với quyền thực hiện mọi hành vi mà không chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Trong một nhà nước pháp quyền, quyền con người và quyền công dân phải được tôn trọng, bảo đảm, nhưng việc thực hiện các quyền đó phải trong khuôn khổ pháp luật và không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích chung của xã hội hoặc an ninh, trật tự quốc gia. Vì vậy, việc một người tự nhận là “nhà hoạt động”, “người bất đồng chính kiến” hay đang ở nước ngoài không thể tự thân trở thành căn cứ để phủ nhận trách nhiệm pháp lý đối với hành vi cụ thể của họ.
Cứ vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại gia tăng hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta, tập trung xuyên tạc lịch sử, bịa đặt sự thật, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và uy tín, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Gần đây, trên một số diễn đàn phản động, Nguyễn Văn Đài phát tán bài viết “Hồ Chí Minh – hình tượng được thần thánh hóa nhưng mất quyền lực vào tay Lê Duẩn và trách nhiệm đối với chế độ toàn trị”, với nhiều luận điệu xuyên tạc, quy chụp nhằm phủ nhận vai trò, công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là sự bóp méo lịch sử, phủ nhận sự thật khách quan, cần được nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ bằng cơ sở khoa học, thực tiễn.
Thứ nhất, phủ nhận vai trò lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự xuyên tạc có chủ ý, trái với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Luận điệm quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh là người “sáng lập và đặt nền móng cho chế độ độc tài cộng sản tại Việt Nam”, thậm chí là “nguồn gốc của hơn 80 năm độc tài và đàn áp” là cách cố tình bóp méo lịch sử, tách Người khỏi hoàn cảnh cụ thể của dân tộc đầu thế kỷ XX. Khi đất nước mất độc lập, nhân dân chịu ách áp bức của chủ nghĩa thực dân, các phong trào yêu nước theo nhiều khuynh hướng lần lượt thất bại, Nguyễn Ái Quốc đã tìm tòi, khảo nghiệm nhiều con đường cứu nước, tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin và xác định con đường giải phóng dân tộc phù hợp với điều kiện Việt Nam. Người có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức và sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra bước ngoặt căn bản của cách mạng Việt Nam.
Trên trang Baotiengdan, Nguyễn Tư Tiếu đăng bài viết “Gen Z Việt Nam và những chuyện lớn hơn phía trước”; nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận hệ tư tưởng Mác – Lênin, cho rằng: Chủ nghĩa Mác-Lênin ngày nay không còn chủ yếu là một học thuyết phát triển. Nó đã trở thành giấy phép chính trị cho sự độc quyền. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động, cần phê phán, bác bỏ:
Một là,chủ nghĩa Mác– Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng về sự phát triển xã hội, không phải là “giấy phép chính trị” để hợp thức hóa sự độc quyền quyền lực.
Việc quy kết chủ nghĩa Mác – Lênin là “giấy phép chính trị” để hợp thức hóa sự độc quyền quyền lực là cách nhìn phiến diện, đánh đồng bản chất của học thuyết với những biểu hiện cụ thể, thậm chí là những sai lệch, trong quá trình vận dụng vào thực tiễn. Về bản chất, chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng về sự vận động, phát triển của xã hội và giải phóng con người. C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I.Lênin không xem các thiết chế xã hội, chính trị và quyền lực là những thực thể bất biến, mà luôn đặt chúng trong những điều kiện lịch sử cụ thể, trong mối quan hệ với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ xã hội và đời sống con người.
Trên trang Diendanthongtin, Nhật Ngôn đã đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo vấn đề công lý và pháp luật ở Việt Nam dưới cách đặt vấn đề “công lý hay cảm tính”. Bài viết cố tình chắp nối một số vụ việc, đánh tráo giữa hiện tượng với bản chất, lấy những nhận định chủ quan thay cho chứng cứ và căn cứ pháp luật, từ đó quy kết hoạt động thực thi pháp luật ở Việt Nam thiếu khách quan, công bằng. Đây không phải là cách tiếp cận khách quan về pháp luật và công lý mà là thủ đoạn nhằm gây hoài nghi đối với tính nghiêm minh của pháp luật, làm suy giảm niềm tin vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ.
Thứ nhất,thượng tôn pháp luật là nền tảng bảo đảm công lý, công bằng trong xã hội Việt Nam.
Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật là cơ sở xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; mọi hành vi vi phạm phải được xem xét theo tính chất, mức độ, hậu quả và các tình tiết liên quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định. Thượng tôn pháp luật cũng có nghĩa không ai đứng trên pháp luật, không ai được đứng ngoài pháp luật. Người có hành vi vi phạm phải chịu trách nhiệm theo quy định; đồng thời người bị buộc tội được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp theo pháp luật. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào một thông tin trên mạng xã hội, một nhận định chủ quan hay phản ứng nhất thời của dư luận để kết luận một vụ việc là “bất công”, không thể từ một trường hợp cụ thể phủ nhận tính nghiêm minh của cả hệ thống pháp luật. Phản biện đối với hoạt động thực thi pháp luật là cần thiết, nhưng phải dựa trên sự thật, chứng cứ và căn cứ pháp lý.
Thứ hai,pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân.
Công bằng không có nghĩa là mọi hành vi đều được chấp nhận hoặc người vi phạm không phải chịu trách nhiệm. Công bằng là mọi người được đối xử theo pháp luật, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Hiến pháp Việt Nam ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đồng thời việc thực hiện các quyền phải gắn với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với Nhà nước, xã hội và cộng đồng. Quyền tự do ngôn luận, quyền phản ánh, kiến nghị và tham gia vào đời sống xã hội là những quyền quan trọng được pháp luật bảo đảm. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền phải trong khuôn khổ pháp luật, không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích quốc gia, dân tộc và trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không thể nhân danh “tự do”, “dân chủ” hay “công lý” để phủ nhận trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm. Một xã hội muốn ổn định, phát triển phải có pháp luật nghiêm minh, có cơ chế xử lý vi phạm và bảo vệ người dân trước những hành vi xâm hại. Chính sự thống nhất giữa bảo đảm quyền con người và giữ vững kỷ cương pháp luật mới tạo nên nền tảng của công lý, công bằng.
Trên trang Baoquocdan, Nguyễn Gia Kiểng có bài viết: “Tuyên bố của Tập hợp dân chủ đa nguyên về việc chính quyền cộng sản Việt Nam gia tăng đàn áp” đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Y cho rằng, Đảng Cộng sản lãnh đạo, đất nước không phát triển, xã hội mất dân chủ, dẫn dắt Việt Nam trở thành chư hầu. Cần khẳng định, đây là sự xuyên tạc đường lối đối ngoại, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và thành tựu phát triển đất nước, cần được nhận diện và bác bỏ.
1. Điều 4, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và cả xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, Hiến pháp và Nhân dân Việt Nam khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng, nhất thiết không cần và không thể chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch mong muốn”.
Thành tựu sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng và thật đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh… được cộng đồng quốc tế ghi nhận, sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên. Việt Nam được cả thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI, chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Theo Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên hợp quốc công bố, năm 2025 Việt Nam đứng thứ 46/143, tăng 8 bậc so với năm 2024; năm 2026 Việt Nam đứng thứ 45/147, tăng 1 bậc so với năm 2025. Kết quả này, là sự thừa nhận của Liên hợp quốc. Người dân Việt Nam ngày càng hạnh phúc, ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
Trên trang blog Tiếng Dân đăng bài “Tổ quốc trong tim – Hay một đảng trong tim?”, đặt vấn đề về lòng yêu nước và mối quan hệ giữa tình cảm với Tổ quốc với sự ủng hộ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài viết cho rằng người Việt Nam có thể yêu nước nhưng không nhất thiết ủng hộ Đảng lãnh đạo, đồng thời cổ xúy các quan điểm đa đảng, “tam quyền phân lập”, qua đó tạo cách nhìn đối lập giữa Tổ quốc, Nhân dân với Đảng. Cách lập luận sai lệch này cần được nhìn nhận và bác bỏ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
1. Không thể đối lập tình yêu Tổ quốc với vai trò lãnh đạo của Đảng; mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là một chỉnh thể thống nhất
Yêu nước là giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam, còn sự lãnh đạo của Đảng là vấn đề thuộc tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực chính trị. Hai vấn đề có quan hệ với nhau nhưng không thể bị giản lược thành một phép lựa chọn đối lập. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đồng thời, Hiến pháp xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Như vậy, trong khuôn khổ hiến định của Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng không đứng ngoài Tổ quốc và Nhân dân, mà được đặt trong mục tiêu bảo vệ độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia – dân tộc và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân.
Điểm cốt lõi của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” là sự phân định chức năng trong một chỉnh thể thống nhất, chứ không phải sự thay thế hay triệt tiêu lẫn nhau. Đảng định hướng bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương và phương thức lãnh đạo phù hợp; Nhà nước thể chế hóa, tổ chức thực hiện và quản lý xã hội bằng pháp luật; Nhân dân là chủ thể của quyền lực, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển. Các nghiên cứu chính trị gần đây cũng nhấn mạnh sự thống nhất giữa ba thành tố này vì mục tiêu chung, đồng thời chỉ rõ yêu cầu phải bảo đảm đúng chức năng, trách nhiệm của từng chủ thể. Do đó, lập luận “yêu nước thì có thể chống Đảng” đã tạo ra một sự đối lập giả tạo. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, yêu nước không đồng nghĩa với đồng nhất mọi chủ trương, chính sách hoặc hành động của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào với lợi ích quốc gia. Người dân có quyền góp ý, phản biện, giám sát, phê bình những hạn chế, bất cập trong quản lý và thực thi quyền lực. Nhưng từ quyền góp ý, phản biện chính sách đến phủ nhận nền tảng hiến định và kích động đối lập Đảng với Tổ quốc là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Chính yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, nâng cao hiệu lực quản lý và phát huy dân chủ cho thấy cơ chế hiện hành không phủ nhận phản biện, mà đòi hỏi phản biện phải hướng tới hoàn thiện chế độ và phục vụ lợi ích của Nhân dân.
Trang mạng phản động Diendantheky, Âu Dương Thệ đăng bài viết với tựa đề “Văn hoá Marx – Lenincòn kìm kẹp dân tộc ta bao lâu nữa?”. Với giọng điệu hằn học, y rêu rao rằng: “Văn hóa Marx-Lenin là độc tài, lừa đảo, đàn áp, xu nịnh, thần thánh hóa lãnh tụ và ru ngủ nhân dân”. Đây là luận điệu xuyên tạc sự thật, thể hiện sự thiếu hiểu biết của Âu Dương Thệ, cố tình phủ nhận chủ nghĩa Marx – Lênin và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cần được nhận diện và bác bỏ.
Thứ nhất,Âu Dương Thệxuyên tạc việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đưachủ nghĩa Marx – Lênin vào Việt Nam là hành động “vô ý thức và vô trách nhiệm”.
Âu Dương Thệ đã đánh tráo khái niệm, xuyên tạc trắng trợn quá trình hoạt động cách mạng và tư duy chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thế thấy rõ, vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam chìm trong ách thống trị của thực dân Pháp, phong trào yêu nước liên tiếp diễn ra nhưng chưa tìm được con đường phù hợp để giành độc lập dân tộc. Trong hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo ấy, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi qua nhiều châu lục, lao động và nghiên cứu kỹ lưỡng các cuộc cách mạng lớn trên thế giới như: Cách mạng Mỹ (1776) và Cách mạng Pháp (1789), để rồi rút ra kết luận rằng đó là những cuộc cách mạng “chưa đến nơi” vì không giải phóng được đa số quần chúng lao động. Chỉ khi tiếp cận Luận đề của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa vào năm 1920, Người mới tìm thấy ánh sáng chân lý.
Như vậy, sự lựa chọn chủ nghĩa Marx – Lênin là kết quả của một quá trình khảo sát, đối chiếu, tư duy khoa học đầy trách nhiệm của một bậc đại trí trước tương lai dân tộc. Việc Âu Dương Thệ dùng từ “vô ý thức và vô trách nhiệm ” chỉ chứng minh bản thân y hoàn toàn mù quáng trước tiến trình lịch sử hoặc cố tình giả điếc, giả câm để bôi nhọ lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam.
Thứ hai,Âu Dương Thệcố tình bôi nhọbản chất ưu việt của chủ nghĩa Marx – Lênin, phủ nhận nền tảng tư tưởng và bản chất của nền văn hóa chính trị Việt Nam.
Để đạt được mưu đồ đen tối, Âu Dương Thệ đã sử dụng những từ ngữ nặng nề nhất như “độc tài”, “đàn áp”, “lừa đảo” để vu khống bản chất ưu việt của Marx – Lênin. Cần khẳng định, bản chất của chủ nghĩa Marx – Lênin là lý luận khoa học hướng tới giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột. Khi được truyền bá vào Việt Nam, hệ tư tưởng này đã biến thành sức mạnh vật chất to lớn, khơi dậy tinh thần tự tôn và khát vọng tự do của toàn thể nhân dân. Sức mạnh ấy đã tạo nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước mà ở đó người lao động lần đầu tiên được làm chủ vận mệnh của mình.
Nếu nền văn hóa chính trị này là “độc tài, tàn bạo và đàn áp”, thì tại sao cả dân tộc Việt Nam lại có thể chung sức, đồng lòng, hy sinh xương máu trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược? Một chế độ đàn áp không bao giờ có thể huy động được sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân, không bao giờ khiến những người mẹ tiễn đứa con duy nhất ra trận, hay hàng triệu thanh niên sẵn sàng dâng hiến tuổi thanh xuân cho độc lập quốc gia.
Thứ ba, vu khống văn hóa chính trị Việt Nam“đi ngược trào lưu nhân loại”.
Đây là luận điệu phiến diện, áp đặt và thiếu căn cứ thực tiễn. Bởi lẽ, nhân loại hiện đại không vận động theo một mô hình chính trị duy nhất. Mỗi quốc gia có lịch sử, điều kiện phát triển, truyền thống văn hóa và lựa chọn con đường riêng. Thực tiễn Việt Nam cho thấy, kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa không đồng nghĩa với bảo thủ, khép kín hay đứng ngoài xu thế phát triển của thời đại. Từ công cuộc Đổi mới năm 1986 đến nay, Việt Nam đã từng bước đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Việt Nam đồng thời tích cực tham gia giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng quốc tế, thúc đẩy phát triển bền vững, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học – công nghệ.
Đương nhiên, Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập cần tiếp tục khắc phục. Nhưng không thể lấy những hạn chế đó để phủ nhận cả một quá trình đổi mới và hội nhập. Vì vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam “đi ngược trào lưu nhân loại” thực chất là sự quy chụp, cố tình phủ nhận những chuyển biến và thành tựu của đất nước trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển.
Trên trang Machsongmedia tán phát bài viết “Chính quyền Việt Nam sẽ bóp chết quyền tự do tôn giáo trên không gian mạng”, đưa ra những luận điệu xuyên tạc về Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo số 07/2026/QH16 và tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Bằng cách cố tình tách một số quy định pháp luật khỏi tổng thể chính sách bảo đảm quyền con người, bài viết đã đánh tráo giữa quản lý nhà nước bằng pháp luật với hạn chế quyền tự do, từ đó gieo rắc nhận thức sai lệch, kích động tâm lý hoài nghi, bất mãn trong một bộ phận chức sắc, chức việc và tín đồ. Cần thẳng thắn chỉ rõ bản chất sai trái của những luận điệu này.
Luận điệu cho rằng việc hoàn thiện Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2026 là nhằm “bóp chết quyền tự do tôn giáo”, “đặt đức tin của người dân dưới cơ chế xin phép” là cách lập luận phiến diện, cố tình bóp méo bản chất của pháp luật Việt Nam. Luật số 07/2026/QH16 được Quốc hội ban hành ngày 23/4/2026, có hiệu lực từ ngày 1/1/2027, tiếp tục xác lập khuôn khổ pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, tổ chức tôn giáo cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan.
Lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ và trong công cuộc xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, trong suốt nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi phương thức, thủ đoạn chống phá Đảng. Mới đây, trên trang Vietnamthoibao, Vũ Đức Khanh lại tiếp tục tung ra luận điệu: “Việt Nam không thuộc sở hữu độc quyền của bất kỳ đảng phái tổ chức, lực lượng chính trị hay thế hệ nào”; mục tiêu của dân chủ… là thay đổi cách thức quyền lực được hình thành, kiểm soát và chuyển giao”, mưu toan xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc phủ nhận và chấm dứt vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, cần nhận diện và quyết vạch mặt, đấu tranh, phản bác lại những luận điệu sai trái, phản động đó.
Thứ nhất, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đây là tính chính danh tối cao được luật hóa bằng Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của quốc gia. Đồng thời là sự lựa chọn lịch sử và sự thừa nhận của toàn thể nhân dân đối với vai trò cầm quyền duy nhất của Đảng, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng hay lực lượng chính trị đối lập. Đảng không chỉ đại diện cho giai cấp công nhân mà còn là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Mục tiêu hoạt động duy nhất của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Trên trang Vietnamthoibao đăng bài viết “Rò rỉ tin Quân đội Việt Nam đang chuẩn bị cho chiến tranh, đối đầu quân sự” để xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách quân sự, quốc phòng của Đảng, Nhà nước Việt Nam, cho rằng: Quân đội nhân dân Việt Nam đang có các bước chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh xâm lược có thể xảy ra từ phía Mỹ và coi Hoa Kỳ là một cường quốc hiến chiến. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động, vu khống trắng trợn của Việt Nam thời báo cần phê phán, bác bỏ.
Một là, quan điểm, đường lối quốc phòng của Việt Nam mang bản chất hòa bình, tự vệ, không nhằm chuẩn bị cho chiến tranh xâm lược.
Luận điệu cho rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam đang tiến hành các bước chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh xâm lược là sự xuyên tạc bản chất của nền quốc phòng Việt Nam và mục tiêu xây dựng quân đội. Việt Nam nhất quán thực hiện đường lối quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ; xây dựng lực lượng vũ trang nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Vì vậy, việc Quân đội nhân dân Việt Nam chủ động nâng cao chất lượng huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu, hiện đại hóa một số lực lượng và củng cố tiềm lực quốc phòng không thể bị đồng nhất với chuẩn bị tiến hành chiến tranh xâm lược. Việt Nam xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ xung đột và giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Thực tiễn hoạt động quốc phòng của Việt Nam thể hiện rõ tính chất phòng thủ, không đe dọa hay sử dụng vũ lực để giải quyết các bất đồng, tranh chấp; tích cực tham gia hợp tác quốc phòng, đối thoại và các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Đặc biệt, chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam khẳng định rõ: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đây chính là cơ sở thực tiễn và chính trị quan trọng bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam đang chuẩn bị chiến tranh xâm lược.